GIÁO NGÔN

Danh mục bài viết

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

P.T.N.L 18

ĐỨC TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

GIÁO  NGÔN

 

MỤC LỤC:

  1. LÀM THẾ NÀO GIÁO MÔN KHỎI BỊ DIỆT VONG
  2. MƯỜI DANH HIỆU PHẬT
  3. ĐẮP XÂY TƯỢNG ĐÔNG ĐỘ
  4. ĐẠO PHẬT
  5. VỀ VẤN ĐỀ THAM SÂN SI
  6. VỀ VẤN ĐỀ TỶ DỤ
  7. SỰ TU HÀNH
  8. SỰ LẦM LẪN DO QUAN NIỆM SAI
  9. TỈ DỤ: VỀ CÂU CHUYỆN THẰNG CHĂN TRÂU
  10. SỰ MÊ CHẤP, LẦM LẪN DO BẢO THỦ CÁ TÁNH
  11. TỰ HOAN HỶ TÁN THÁN
  12. VỀ VẤN ĐỀ NGỒI THIỀN TỰ CHỦ
  13. THƯỜNG NHIỄM
  14. LẦM MÊ CHỊU PHÁP TRIỀN MIÊN
    DÙ ĐỜI HAY CÕi ĐỘC QUYỀN CHIÊM BAO
  15. Ý TRÍ và LÝ TRÍ
  16. NẾU BIẾT TUỒNG ĐỜI LÀ NHƯ THẾ

THỜI ĐƯỜNG TU TÂM THỂ AN BANG

  1. TỪ TÍN NGƯỠNG ĐẾN THÀNH TÂM
  2. ĐẠO PHẬT CHÍNH THẬT SIÊU ĐẲNG
  3. NÓI VỀ VẤN ĐỀ PHÁP GIỚI
  4. HUẤN TỪ CẦU ĐẠO
  5. QUYỀN HẠN QUYỀN LỢI CỦA BẬC TU
  6. ĐẠO PHẬT BẢO PHÁP BẤT DIỆT
  7. CÁI MÊ CHÍNH NÓ KHÔNG GỐC
  8. ĐẠO PHẬT TU TÂM CỐT GIÁC TÂM
  9. VỀ PHẨM TU TÂM, trích từ BẢO PHẨM XUẤT THẾ CHƠN KINH
  10. LỤC-BA-LA MẬT-ĐA NHIẾP ĐỘ LỤC-ĐẠO
  11. SỰ TU HÀNH KHÓ MÀ KHÔNG KHÓ, BIẾT NHẬN CHÂN THẬT MỚI  LÀ KHÓ
  12.   ĐẠO PHẨM
  13. CHẤP TRƯỚC ĐƯƠNG SINH THỌ NGÃ

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 01 

Ngày 12 tháng 2 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

LÀM THẾ NÀO GIÁO MÔN KHỎI BỊ DIỆT VONG

Lúc bấy giờ, vào lúc 9 giờ 30 ngày 12 tháng 02 năm Giáp Dần (1974), tại Trung Ương Hội Thượng giữa sự hiện diện Tứ Chúng gồm có: Tôn Giả Pháp Khả, Tôn Giả Pháp Tưởng, cùng quý Tín Chúng: Pháp Quyên, Pháp Hậu và một số trên mười vị đang ngồi đàm luận về tánh cách xây dựng Chánh Pháp.

Vừa khi ấy, ĐỨC TĂNG CHỦ từ Tịnh Thất bước ra Chánh Điện, nơi mà Tứ Chúng đang quây quần thân mật. Tất cả đồng đứng lên chiêm ngưỡng lễ bái, xong ĐỨC TĂNG CHỦ an tọa, Tứ Chúng ngồi lại một bên. Trong giây lát, ĐỨC  TĂNG CHỦ Ngài mới nói:

-Này Tứ Chúng, Hôm nay tôi nói một thời pháp tuy đơn giản nhưng rất hữu ích cho đời nầy đồng với đời sau gìn giữ mối Đạo không bao giờ bị diệt vong, đặng hữu ích vô cùng. Các ông là những bậc mong cầu chí nguyện hãy nghe tôi nói.

Thế rồi ĐỨC  TĂNG CHỦ Ngài bắt đầu dạy:

“Tôi còn nhớ, có một thuở ĐỨC THẾ TÔN Ngài đến một Giáo Môn, Giáo Môn đó có một Trưởng Giả cầm đầu trên trăm vị tu hành về môn Chủ Quán, lấy hư không Chủ Định làm Tâm. Vị Trưởng Giả bao gồm tiền bạc, châu báu để cho tất cả tu tập không mất của hoặc công tí nào.

Trưởng Giả còn lo cơm nước, y áo cho 100 vị tu trì.

ĐỨC THẾ TÔN vừa đến nơi, Trưởng Giả và trên 100 vị ra mừng đón. Lúc ĐỨC THẾ TÔN an tọa xong, thì Trưởng Giả ngồi lại một bên, 100 vị thảy đều ngồi theo thứ lớp.

Trưởng Giả đứng lên thưa thỉnh:

-Bạch Đức Thế Tôn :  Làm thế nào Giáo Môn khỏi bị diệt vong? -Như thế nào thường bị diệt vong?

-Hội Tề cách nào được tồn tại? -Như thế nào không tồn tại? -Kính nhờ ĐỨC THẾ TÔN chỉ giáo.

Đức Thế Tôn  Ngài dạy:

-Trưởng Giả cũng nên biết, Giáo Môn tránh khỏi diệt vong, được sự tồn tại bất diệt, thời Giáo Môn ấy có pháp tu Tự Lợi mình, đem sự lợi ích đó giáo hóa cho kẻ khác nghe lãnh thi hành được lợi như mình, đó chính là Giáo Môn bất diệt, thường còn, không bị diệt vong. Bằng Giáo Môn mình chỉ có Tâm ý phát nguyện, theo lời nguyện chính mình bảo toàn tất cả nhân lực, tài lực như đem tiền của châu báu ngọc ngà giúp đỡ cho tất cả trong  Giáo Môn , nhưng bậc ấy vô tình hay cố ý không bày vẽ cho Tín Chúng làm y theo Thù Thắng Tâm, Phát Nguyện Tâm, Công Đức Tâm như mình thì hậu lai mối Giáo Môn bị diệt vong.

Đối với Ta, ta có BI, ta phải dạy cho mọi người biết BI như ta. Ta có TRÍ, ta dạy cho mọi người biết TRÍ như ta. Ta có DŨNG, ta dạy cho mọi người biết DŨNG như ta, do đó mà mối ĐẠO  ta bất diệt.

-Trưởng Giả cũng nên biết, Hội Tề thế nào được Tồn tại?

-Hội Tề biết Lục Hòa, làm cho mọi người được an vui thì chính mình được an vui, làm cho mọi người phấn khởi thì chính mình được phấn khởi, nói lời Pháp đứng đắn ích lợi cho mọi người tu tập, đó là Hội Tề tồn tại sung mãn.

Bằng Hội Tề phiếm luận, hí luận, ẩm thực luận, nghi chấp v.v… đương nhiên Hội Tề không được tồn tại, bị diệt vong.

ĐỨC  TĂNG CHỦ  Ngài dừng lại trong giây lát, Ngài nhìn chúng tôi và dạy tiếp:

-Này các ông cũng nên biết, đứng giữa thời Mạt Pháp, Tôi mong mõi cho con đường Chánh Pháp được vững vàng thì các ông được vững vàng. Các ông nên làm những gì được TỰ LỢI đồng THA LỢI. Khi các ông Bố Thí, Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục, Trí Tuệ, Thiền Định thì các ông nên đem những môn của các ông hiểu biết đó để giúp cho kẻ khác được hiểu biết như các ông.

Các ông trọn lòng TIN-VÂNG-KÍNH  Tôi, các ông được lợi bao nhiêu tùy khả năng các ông khuyến khích dạy dỗ cho những tín chúng được sự TIN-VÂNG-KÍNH để được lợi như các ông.

Các ông phá Nghi Chấp, qua các căn nghiệp, chủng nghiệp được an vui, được thú vị, được thoải mái thì các ông nên đem những Pháp đã hiểu biết của các ông để giúp cho Tín Chúng Tu Tập cũng được an vui, thú vị, thoải mái như các ông, đó chính là một con đường của các ông đã xây dựng Chánh Pháp giữa thời Hạ Pháp. Đó chính là vàng, bạc, châu ngọc của Tam Bảo các ông đem dâng cúng cho Tam Bảo vậy. Tôi chỉ mong bấy nhiêu thôi”.  Ngài dứt lời.

Tứ chúng ai nấy đều vui mừng, cung kính, tán thán Công Đức, đảnh lễ và cung tiễn ĐỨC TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất.

PHỤNG GHI ĐỂ PHỔ TRUYỀN , HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

CÚNG DƯỜNG TAM BẢO .

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG, ngày 12-2 Giáp Dần (1974)
Chân Phật Tử Hoàng Ngọc Sơn

Pháp danh: Pháp Tràng

“Phụng ghi”

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 2

Ngày 24 tháng 2 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

ĐỨC TĂNG CHỦ GIÁNG LÂM KHAI THỊ

TẠI PHÁP BẢO TỈNH THỊ HỘI QUI NHƠN BÌNH ĐỊNH

Chuyến Giáng Lâm kỳ 8, ngày 26-1 Âm lịch, lúc 20 giờ 30 tại Pháp Bảo Tỉnh Thị Hội Qui Nhơn Bình Định. Lúc bấy giờ tôi được sự chấp thuận đồng tháp tùng theo cuộc giáng lâm đến Tỉnh Thị Hội Qui Nhơn. Tôi được thấy như sau: Đúng giờ ấn định, ĐỨC TĂNG CHỦ tiến ra Chánh Điện, theo sau Ngài có hai vị Thị Giả Pháp Khiêm và Pháp Chỉnh. Tứ chúng cung nghinh đảnh lễ xong, Ngài an tọa trên Bảo Tòa, Tứ chúng ngồi ngay ngắn thứ lớp trên một trăm vị.

Trong cử chỉ trang nghiêm của Ngài, trước Chánh Điện trầm hương nghi ngút. Nhưng tiếc thay, âm thanh hỗn loạn của xe cộ bên đường, cùng những vị tham dự nơi địa phương chưa được yên tĩnh nên chi hãy còn tiếng thì thầm rào rạt. Bấy giờ Ngài dạy:

– Này các ông, Sự nghe Pháp, sự lãnh Pháp rất khó. Sự nghe được Pháp rất có giá trị, cũng như nghe được, biết được giá trị sử dụng báu vật, khi đã nghe được đương nhiên lãnh được. Thời xưa ĐỨC-THẾ-TÔN trao bảo vật cho Bồ Tát, thì Bồ Tát có cung kính yên tĩnh để thọ lãnh hay chẳng cung kính yên tĩnh được thọ lãnh?

Tứ chúng đồng thưa:

“Bạch Ngài, cung kính yên tĩnh được thọ lãnh, bằng chưa cung kính, chưa yên tĩnh thời chưa bao giờ lãnh được”.

ĐỨC  TĂNG CHỦ khen:

“Đúng như vậy!”. Vi diệu thay! Từ giờ phút đó, tiếng thì thào đến âm thanh xe cộ đều ngưng bặt trở thành yên tĩnh, trang nghiêm.

ĐỨC TĂNG CHỦ Ngài dạy:

– Này các ông, nói đến sự làm diệu dụng của Chư Phật thì ta không nên nói. Bằng nâng cao, tán thán vô lượng vô biên Công Đức sung mãn của Ngài thì ta cần phải nhắc nhở để các ông nương theo thành tựu. Các ông tự nghĩ: Các Đức Phật có tu trì chứng quả hay không tu trì mà đặng chứng quả?

Tất cả tứ chúng đồng thưa:

“Bạch ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, có tu trì có chứng quả”.

Lúc bấy giờ Ngài gật đầu dạy tiếp:

– Trước kia khi vị Phật chưa thành Phật, Ngài cũng phải tu mới đắc quả, Ngài có công thành tựu sung mãn 10 danh hiệu, 10 danh hiệu ấy chính là 10 phẩm Công Đức ngày nay thường xưng tán. mười danh hiệu như: ỨNG CÚNG, CHÁNH BIẾN TRI, MINH HẠNH TÚC, THIỆN THỆ, THẾ GIAN GIẢI, VÔ THƯỢNG SĨ, ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU, THIÊN NHƠN SƯ, PHẬT, THẾ TÔN, NHƯ LAI.

Ngài dạy tiếp:

“Tôi sẽ giảng một vài danh hiệu để các ông được chứng tri việc tu trì tạo thành Công Đức của Chư Phật như: ỨNG CÚNG.”

  • Về phẩm ỨNG CÚNG:

Khi mà bậc phàm phu tín tâm chiêm ngưỡng làm phẩm Công Đức Cúng Dường, thời thường mua sắm lễ vật hương đăng hoa quả lễ bái dâng hương cúng dường chiêm ngưỡng cầu Phước Báo Nhân Thiên. Cứ như thế trên 100 kiếp cúng dường chiêm ngưỡng. Đến giai đoạn sau thời bậc ấy mới phát tâm cúng dường như xây chùa lập tháp cho Chư Tăng tu tập, mình cũng tu hành, lễ bái trai đàn, cung kính lập Thiện Căn, làm phước thiện, cầu Tam Thế chứng minh Công Đức cúng dường, vẫn phải trên 100 kiếp. Đến giai đoạn thứ ba: Bậc ấy vẫn dùng phẩm Công Đức cúng dường Tam Thế, vẫn tu trì phẩm Công Đức Hữu Lậu, nhưng có khá hơn trước là biết nghe Giáo lý, hay tìm chơn tánh để tu cũng phải trên 100 kiếp mới bước qua giai đoạn thù thắng. Lúc bấy giờ, lập Bồ Tát Hạnh như: Bố Thí. Trì Giới. Tinh Tấn. Nhẫn Nhục. Trí Tuệ và Thiền Định, gọi là lục Ba La. Lại dùng BI-CHÍ-DŨNG, GIỚI-ĐỊNH-TUỆ để tu TÍN-HẠNH-NGUYỆN. Những lý sự tu hành nơi Bồ Tát Hạnh thảy đều nằm nơi Phẩm Công Đức Đạo Hạnh cúng dường Ba La Mật Đa. Đến giai đoạn Bồ Tát sở đắc CHÂN KHÔNG BỒ TÁT, thì chừng đó mới có Áo Giáp bền để tu vào con đường Hành Thâm Pháp Giới, cố thâm nhập mà đoạt đến BÁT NHÃ TRÍ. Khi đến Bát Nhã Trí, đương nhiên từ Công Đức hữu lậu trở thành Công Đức cúng dường Vô Lậu, cúng dường Như Lai tròn Bổn Nguyện thành tựu sung mãn. Thời phẩm cúng dường ỨNG CÚNG trở lại cho Bồ Tát thành tựu Quốc Độ gọi là ỨNG CÚNG.

  • Về Phẩm CHÁNH BIẾN TRI:

Phẩm nầy nương nhờ bậc đã tìm đặng Chơn Tánh để tu, bậc nầy thường Công Dụng PHẬT PHÁP BẤT LY THẾ GIAN cốt GIÁC. Từ một khởi điểm nhỏ hiểu ra nhận định được sự to lớn rộng rãi.

Tỷ dụ: Nhìn trong một quả mãng cầu có thể biết được nhiều múi mãng cầu kết lại trở thành một quả mãng cầu. Trên vũ trụ có nhiều Hành Tinh cấu kết với trái đất mới thành vũ trụ hay nhiều nhân sinh kết lại mới thành một Quốc Gia, nhiều Quốc Gia hợp lại mới trở thành Hoàn Cầu Thế Giới, đó gọi là Chánh biến tri .

Hoặc giả, một cái Biết nhỏ chưa đủ, có hằng vạn sự Biết nhỏ mới trở thành cái khôn lớn, hàng vạn nơi khôn lớn mới trở nên cái Đại Giác. Cũng như mỗi một chữ vẫn chưa đủ bài, phải sắp đúng trăm hay ngàn hoặc vạn chữ mới thành tựu một bài, đó gọi là Chánh Biến Tri.

Cũng như tìm nơi cái Giác thì không bao giờ tìm đặng, mà khi hành sự chung kết mới nhận được trên sự làm thảy đều có Giác. Như tìm Phật Tánh hay Bồ Tát đâu có ra, khi bậc tu phá mê chấp đặng bao nhiêu thì Phật Tánh sẽ hiện diện bấy nhiêu, muốn thành tựu Bồ Tát thì phải tu theo con đường Bồ Tát, đó cũng gọi là Chánh Biến Tri.

Bậc đã có trí tuệ Chánh Biến Tri, bậc nầy có thể nhận lấy mỗi một ngày liền biết đặng 3 vạn 6ooo ngày. Sống trong một kiếp có thể nhận biết được 3 vạn 6000 kiếp. Bậc này luôn luôn nhận hiện tại tu hành Giác Ngộ, vị lai đặng trọn hưởng Giác Ngộ, chẳng bao giờ nghĩ hiện tại chưa tu để kiếp sau sẽ tu.

Vì sao được hiểu biết như vậy? Vì có một Trí Tuệ Chánh Biến Tri nên thường lấy hiện tại làm căn bản mà thành đạt.

Dù có chưa đến trọn vẹn chăng khi đến một kiếp nào liền bước hẳn vào con đường Bồ Tát Hạnh phát Đại Nguyện Tâm cương lĩnh dùng Thù Thắng Tâm.

Lúc bấy giờ có đặng Trí Tuệ soi khắp nghiệp thức, chướng nghiệp các căn tánh chủng nghiệp, tâm cổi giải, Trí hằng kiểm kê dùng Bi Chí Dũng, Giới Định Tuệ vừa giải mê cho mình, vừa phá chấp cho kẻ khác, nung Đức Hạnh, tự chế mình làm cho tất cả Tin Phật, Tin Pháp, Tin Tăng khỏi đoạn duyên Phật.

Trên căn bản, Bồ Tát Hạnh tu trì Lục Ba La Mật Đa để bảo trì quả vị, Xây Đức Trí đặng tránh khỏi thọ chấp Bản Ngã, nương theo Vô Ngã Hành Thâm Pháp giới, nhờ Phẩm Hạnh Công Đức như thế nên Trí Tụê tăng trưởng, Bồ Tát Sở Chứng Chánh Biến, thật biết tỉ mỉ Năng sở tu chứng của các bậc tu, nên hoàn toàn Tri Kiến, lại viên dung thông đạt Lý sự thích hợp, hay chẳng thích hợp, từ phàm phu đến Thánh Tiên cùng Chư Thần mà chủng tánh thọ chấp của Năng Sở biến thành từng thế giới và Cảnh Giới cùng Các Cõi trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, suốt thông tỉ mỉ tận cùng nên toàn vẹn Thật Giác sở đắc Bát Nhã Trí, nương nhờ vô lậu thân tâm đồng nhất mà nhập vào Chánh Định Tam Muội, thành tựu Chánh Giác gọi là Chánh Biến Tri .


  • Về Phẩm MINH HẠNH TÚC:

Minh Hạnh Túc chính là một phẩm rất quan hệ phù hợp Cảnh Giới, phù hợp Quốc Độ Chư Phật, vì vậy Chư Bồ Tát mới lập Đạo Hạnh.

Vì sao? Vì Bồ Tát thật biết tỏ rõ các Hạnh của Bồ Tát, của Phàm Phu, của Tiên Thần bằng nhiều lối nhiều tư cách như: Đi đứng ngửa nghiêng, nói năng bừa bãi ra sao thì phải chịu với cõi nào. Được tăng thọ mạng lên hay hạ thọ mạng xuống ra sao, Bồ Tát thật biết: Từ giọng nói chua chát, đắng cay, hoặc lời nói từ tốn khoan thai tao nhã, thì phước báo hoặc chịu báo ba đường ác. Phước báo được lên các cõi cùng cảnh giới Tiên Thần, đến trọn Chánh Báo thành Phật. Vì như thế, nên Bồ Tát thật biết Phẩm Hạnh, hiện tại làm đặng thì vị lai trọn hưởng, nhược bằng hiện tại chẳng làm đặng thời chính bản thân của mình không được hưởng nhưng lại làm cho nhiều kẻ khác khinh khi, đâm ra tu hành lại bất tín duyên Phật. Đó lỗi chẳng phải kẻ bê trễ mà lỗi do bậc tu thiếu Hạnh.

Vì lẽ ấy nên Bồ Tát thường quán hạnh Bồ Tát quá khứ để tu Đạo Hạnh, cốt cho nhiều kẻ cảm mến mà thi hành Phẩm Tứ Nhiếp, cốt cho nhiều kẻ ái kính để thu nhiếp Lục Đạo, thực thi Lục Hòa, cốt cho nhiều kẻ được ích lợi đặng thọ lãnh Bảo Pháp làm như thế Bồ Tát được lợi, đồng đem sự ích lợi cho rất nhiều kẻ khác. Bồ Tát vẹn toàn Đạo Hạnh, minh mẫn Phẩm hạnh đến sung mãn trang nghiêm Quốc Độ nên gọi là Minh Hạnh Túc.

Minh Hạnh Túc chính là thật biết tỏ rõ lý sự kết quả của Hạnh. Túc tức là cụ túc Chánh Báo. Đến đây Ngài ngưng một chốc rồi dạy tiếp:

– Này các ông, trong Mười danh hiệu mà Tôi kể mới có ba thôi, các ông đã nhận thấy Công Đức Vô lượng như thế. Nhược bằng Tôi nói hết Mười Danh Hiệu thời các ông nghĩ thế nào?

Tứ Chúng đồng thưa:

– Kính Bạch Ngài, thật khó nghĩ bàn.

Đức Tăng Chủ gật đầu, Ngài dạy tiếp:

– Các ông có thể dùng Thù Thắng Tâm và Thiết Tha Tâm tạo được. Vì sao? Vì các ông đã có sẵn Phật Tánh trí tuệ hiểu biết y như Phật, nhưng vì nghiệp thờ ơ bê trễ nên chưa chịu tạo thôi, các ông hãy tin lời Tôi nói thành thật để tu tập tự tạo lấy Công Đức sung mãn mà thành tựu.

Lúc bấy giờ ĐỨC TĂNG CHỦ trầm ngâm một chốc, Ngài vừa hỏi vừa dạy như sau:

– Này các ông, các ông hãy nhìn lên Chánh Điện, Pho Tượng Đức Đông Độ, các ông thấy Đức Phật có tốt đẹp chăng?

Chúng tôi đồng thưa:

– Kính Bạch Đức Ngài: Tốt đẹp.

Ngài dạy:

– Phải, Đức Phật tốt đẹp như thế nên mới có 32 tướng tốt. Vậy 32 tướng tốt của Phật các ông có thể tu tạo được như vậy chăng?

Lúc ấy Tứ chúng đều im lặng. Đức Tăng Chủ liền phân tách để chỉ dạy cho Tứ Chúng nên Ngài dạy:

– Các ông nên biết, đối với Chư Phật, rất mong cho các ông nương theo vết chân của Ngài để tu tập phá mê lầm thành tựu như Ngài, Đức Phật thấy các ông chẳng có chổ tự tin các ông, các ông sợ sệt đủ cách theo nghi thức của các ông, nên chi các ông có một quan niệm tu không bao giờ thành Phật, vì vậy nên Đức Phật Ngài nói: TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH, CÁC ÔNG LÀ PHẬT SẼ THÀNH, để các ông tự tin mình, cùng tin Pháp môn tu tập, các ông đã nhìn thấy Đức Phật 32 tướng tốt. Vậy các ông có thể nương theo tướng tốt ấy tu tập thực tế để thành tựu hiện tại, tại sao các ông thờ ơ?

Ngài dạy tiếp: Nói đến Đôi Mắt Phật tốt, cặp mắt các ông có thể tạo nên cặp mắt tốt như Phật vậy. Mắt Phật nhìn thấy Sanh – Tử – Bệnh – Lão – Khổ vì say chìm trong Dục vọng. Các ông cũng nương theo mắt Phật mà nhìn ngay hoàn cảnh hiện tại của các ông là nó chẳng thường, đặng các ông gia công tu tập, đó chính là các ông đã tạo nên cặp mắt đẹp. Tai các ông nghe danh lợi, nghe lẽ phải trong những điều các ông ưa muốn. Ngày nay các ông nghe Pháp, lãnh Pháp, tu hành, đó chính là đã tạo nên đôi tai tốt. Còn miệng các ông thường hơn thua từng lời nói, hay cười cợt bừa bãi, tà dâm bài bạc mưu mẹo, hôm nay các ông vẫn dùng miệng đó mà Thuyết Pháp.

Cứ như thế trong một thời gian các ông tròn chí nguyện, trở thành 32 tướng tốt như Phật. Các ông thấy Tướng Tốt của Phật, các ông không chịu tu tập thành tựu, cứ ngồi ước ao ngưởng vọng chẳng bao gìơ đặng. Như thế gọi là vọng tưởng điên đảo. Thôi đến đây dứt lời.

Lúc bấy giờ Tứ Chúng đãnh lễ đồng cung tiễn Đức Long Hoa Tăng Chủ trở về Tịnh Thất. Tôi nhận thấy thời Pháp này thật quý vô kể, tôi thưa thỉnh Đức Tăng Chủ tuyên đọc, Tôi phụng ghi chép nguyên văn để cúng dường Tam Bảo.

ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

“Tuyên Đọc”

Chân Phật Tử  TÔN GIẢ Pháp Hoàn

Phụng ghi để phổ truyền
Ngày 24 tháng 2 năm Giáp Dần

 

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO  VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 03

Ngày  11 tháng  3 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

của Đức Tăng Chủ Nhất Tôn

ĐẮP XÂY TƯỢNG ĐÔNG ĐỘ

Tôi còn nhớ một thuở quá khứ, có một vị Đạo Sĩ ở tại làng Khe Khẻ, quận Chiêu An, Tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Vào thời ấy kể đến nay cũng trên 700 năm.

Lúc bấy giờ, Đạo Sĩ có một số Đạo Chúng không nhiều lắm, nhưng cũng trên 10 vị. Một hôm vị Đạo Sĩ kêu tất cả Đạo Chúng đến tỏ bày ý kiến đắp xây pho tượng Đông Độ. Ngài mới nói: Tượng Đông Độ này, hãy đến lấy đất tại Đông Thành Quận, thứ đất ấy rất hiếm hoi, phải là thứ đất thật mịn, thật đẹp, vậy các ông hãy đi đến Đông Thành Quận để kiếm mỗi vị một ít mang về cho Tôi nhận đúng thứ đất ấy dùng được thì sẽ lấy nhiều. Bây giờ tất cả Đạo Chúng đều một lòng tín tâm phát nguyện làm sao tìm được mẫu đất cho đúng với tinh thần và thể chất đắp tượng Đông Độ, thế rồi tất cả Tứ Chúng đồng ra đi mỗi người một ngã.

Qua một thời gian 3 tháng, mỗi vị đều mang về một kiểu đất làm mẫu. Được sự lựa chọn của Đạo Sĩ, ông Tín Toàn là người tìm được mẫu đất y như sở nguyện. Ngài Đạo Sĩ liền cho mang những mẫu đất của ông Tín Toàn về tập trung tại Pháp Bảo, lúc bấy giờ ông Tín Toàn mừng rỡ thích thú, yên chí là mình tìm được pho tượng Đông Độ, khi ấy Đạo Sĩ mới dạy rằng: Đất này chưa phải là Pho Tượng, tôi muốn lựa chọn một vị biết xay nhỏ và lọc những đất này để đắp tượng, thì các vị hãy lấy riêng ra một ít xay nhuyễn để tôi xem vị nào biết xay và biết lọc, tôi sẽ giao phó cho công việc này.

Khi ấy ông Tín Nghĩa xay và lọc đúng với với tinh thần của Đạo Sĩ, vị Đạo Sĩ bảo ông Tín Toàn hãy giao đất lại cho ông Tín Nghĩa để xay và lọc. Bấy giờ ông Tín Toàn sanh tâm buồn khổ, khóc kể gào thét, vì ông ta có công tìm đất, đến ngày hôm nay lại không còn gì ráo. Vị Đạo Sĩ biết như vậy, lại còn biết hơn thế nữa, mới kêu ông Tín Toàn dạy rằng: Công Đức của ông đã tìm đất để xây pho tượng chớ chẳng phải là Pho Tượng. Hôm nay ông giao lại cho ông Tín Nghĩa để cho ông ấy xay, lọc và đắp Tượng, thời ông nên học cách xay, lọc của ông Tín Nghĩa, nào có mất gì của ông đâu mà sợ. Ông được đất, mà còn biết được lối xay, lọc thì thử hỏi có lợi cho ông chăng?

Khi nghe lời chỉ dạy ấy ông Tín Toàn sực tỉnh, mừng rỡ, tâm phiền não, tâm uể oải, tâm oán hận thảy đều tiêu tán, trọn xét được Thù Thắng Tâm.

Sau khi Đạo Sĩ nhìn thấy nở một nụ cười, gọi ông Tín Nghĩa giao lãnh phận sự làm đất, lúc ấy tất cả anh em đều phụ lực giúp đỡ cho ông Tín Nghĩa đoạt đến căn bản tinh tấn. Thường tinh tấn nên đất đó được đẹp và nhuyễn. Xong đến đây Đạo Sĩ mới gọi tất cả Đạo Chúng Ngài hỏi:

-Vị nào là vị biết nhồi đất, biết đem giấy bổi cán nhồi cho thật nhuyễn thì Tôi sẽ trao nhiệm vụ để mà làm Công Đức?

Lúc bấy giờ có một vị khổng lồ, tên vị ấy là Tín An, bước ra xin lãnh phần Công Đức ấy, thì ông Tín Nghĩa lại sanh tâm phiền toái, kể lể công cán ngày hôm nay chẳng còn gì cả. Đạo Sĩ thật biết tâm địa ưu ái, bản ngã cố thủ của ông Tín Nghĩa. Ngài Đạo Sĩ lại giải bày tất cả, cũng như đã giải bày cho ông Tín Toàn lúc trước. Sau khi ông Tín Nghĩa lãnh hội được liền khuyến khích tất cả đồng giúp đỡ cho ông Tín An thành tựu.

Sau khi được sự giúp đỡ của tất cả anh em Đạo Hữu thì khối đất ấy trở nên mịn, nhuyễn, cấu kết đẹp đẽ.

Đến giai đoạn này, vị Đạo Sĩ gọi tất cả Tín Chúng đến phổ truyền:

-Có vị nào biết đắp Tượng, thì Ta đem mẫu Pho Tượng ra mà đắp? Nói xong, Ngài liền thò tay vào tay áo lấy ra bức tranh, đặt bức tranh trên bàn hương án trước Chánh Điện để cho Tín Chúng được xem.

– Khi ấy có một vị gọi là Tín Hảo bước ra xin lãnh Công Đức đắp Tượng, vị này ốm yếu nhưng có đôi mắt hiền từ và thông thái, tiếng nói thanh nhã, quỳ xuống thưa thỉnh để cho lãnh Công Đức trên.

Lúc bấy giờ, vị Tín An ngơ ngẩn, nhưng mà mau hiểu hơn hai vị Tín Toàn và Tín Nghĩa, do lẽ ấy anh em Tín Chúng đồng hợp chuyền nhau đưa từng mảnh đất lên trên Bảo Đài để cho vị Tín Hảo có đủ tinh thần xây tượng. Khi Pho Tượng khô ráo, tất cả Tín Chúng đều tô điểm trở thành pho tượng Đông Độ. Ngày hôm nay, mọi người trong Tín Chúng, mỗi người thảy đều biết rõ:

CÁCH TÌM ĐẤT, CÁCH XAY LỌC ĐẤT, CÁCH NHỒI ĐẤT, CÁCH ĐẮP PHO TƯỢNG, thảy đều vui mừng hớn hở chưa bao giờ có.

Đức TĂNG CHỦ Ngài ngưng một lát trầm ngâm dạy tiếp:

-Hởi các Chân Tử “Tứ Chúng”, Tôi vẫn biết: Tứ Chúng giữa thời này còn có Tín Tâm tin Phật. Tin trên con đường Tri Kiến Giải Thoát, lại có ý chí xây dựng Chánh Pháp đương thời Hạ Pháp, Công Đức ấy vô lượng.

Nhưng Tôi rất tiếc, những sự lầm lẫn của Tứ Chúng đôi khi bị loài Ma dân giả của khối Ma Ba Tuần xâu xé tranh giành thứ vị dựng nên hai chữ: phũ phàng, làm cho con đường chỉ đạo của Tôi phải tốn chẳng biết bao công giảng giải, vì vậy nên thường bị cản trở cuộc hành trình xây dựng Chánh Pháp.

Tôi rất mong kể từ giờ phút này, Tứ Chúng hãy dùng bài Giáo Ngôn “Đắp Xây Pho Tượng Đông Độ” để làm bài tâm niệm, tránh khỏi loài Ma Phũ Phàng lừa dối Tâm Chí Công Đức của Tứ Chúng. Có như thế chính là Phẩm Bảo Trì Công Đức không nhỏ vậy. Sự mong nơi Tôi phải như thế.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử Nguyễn văn Dây,
Pháp Danh: Tôn Giả Pháp Bang

“Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 26 tháng 2 năm Giáp Dần

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 4

Ngày 11 tháng 3 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

Của Đức Tăng Chủ Nhất Tôn

ĐẠO PHẬT

Lúc bấy giờ vào lối 17 giờ chiều ngày 11 tháng 3 năm Giáp Dần, tại Trung Ương Hội Thượng, giữa sự hiện diện Tứ Chúng gồm có Thị giả Tôn giả Tạng Nguyên, Hộ Pháp Tôn giả Pháp Tràng, Tôn giả Hộ Pháp Pháp Tưởng cùng một số Tín Chúng đang ngồi đàm đạo về TÍN-HẠNH-NGUYỆN.

Vừa khi ấy ĐỨC  TĂNG CHỦ từ Tịnh Thất bước ra Chánh Điện, sau 5 ngày Ngài Giáng Lâm Tỉnh Thị Hội Quảng Nam Đà Nẳng về. Sức khỏe của Ngài đã thanh bình, dung nhan tươi tốt. Tất cả đồng đứng lên chiêm ngưỡng lễ bái, ĐỨC  TĂNG CHỦ an tọa. Tứ Chúng ngồi lại một bên. Trong giây lát Đức Ngài dạy:

– Này Tứ Chúng. Hôm nay Tôi nói một Thời Pháp rất hệ trọng về con đường tu tập để cho Tứ Chúng giữa đời này đồng với đời sau nhận định cho đúng đắn, khỏi lầm lạc. Ngài bắt đầu dạy:

ĐẠO PHẬT

ĐẠO PHẬT chính là một Môn trọng yếu đối với bậc biết tu, biết sử dụng, được TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT hiện tại.

– Vì sao ĐẠO PHẬT chia làm BA THỪA?

– Vì sao ĐẠO PHẬT có ĐỐN, có TIỆM?

Đạo Phật chia làm Ba Thừa do tùy căn Thọ Chấp, sự nhận lãnh không đồng trở thành ba thừa:

TIỂU THỪA – ĐẠI THỪA – NHẤT THỪA

ĐẠO PHẬT CÓ TIỆM GIÁO để cho tất cả Tín Chúng tu tập tạo lấy một căn bản vững chắc khỏi sụp đổ, khỏi nặng nhẹ, Đức và Trí tương song. Vì vậy nên có Tiệm Giáo để nuôi dưỡng tinh thần vững chãi trên cơ bản Đạo Đức. Sự tu tập có Tiệm Giáo mới thu nhặt được Công Năng của bậc tu, mới có Định để phát sinh Trí Đức lưỡng toàn.

Khi bậc đã tu tập có công năng, liền được Bậc Chỉ Đạo thi hành pháp Nghịch, hoặc giả khai thông Tạng Thức để bước qua vị trí thông đạt tiến bộ.

TU ĐỐN GIÁO chính là một môn thử thách của Công Năng, khi bậc tu có Tâm Thù Thắng cầu TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT thì liền có nhiều thử thách để tiến bộ. Từ Thử Thách tiến bộ ấy, bậc tu vẫn kiên trì xây dựng Đạo Đức, chẳng tổn thương Đạo Đức.

– Tiệm Giáo chính là Cơ Bản Đạo Đức.

– Đốn Giáo tức là một môn để phát sanh Trí Tuệ.

Vì vậy nên Phật thường nói: Bậc tu gìn giữ Định mãi, tự tạo căn bản Đạo Đức cố định, cố thủ thì đương nhiên bậc ấy tạo Vô Minh chớ chẳng ích chi với con đường TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT, chỉ được Phước Báo Nhân Thiên.

Bằng Phá Mê Chấp nương theo Đốn Giáo mãi thì vô tình hay cố ý vẫn có Trí Tuệ nhưng phải sai lạc vào Tà Kiến, chịu thọ chủng ba đường ác.

Do lẽ trên, nên Bậc Tu cần lấy Trí Đức. Định Tuệ. Tướng Tánh Đồng Song mới Chánh Báo Chân Lý.

– Đối với Đạo Phật là một Pháp Môn Tối Diệu Cứu Cánh Giải Thoát hiện tại.

– Đối với Đạo Phật cũng là một con đường mà bậc đã lỡ chân trái bước lầm lẫn phải sa vào Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục, đi vào Tà Kiến không ngừng.

Cũng như biết dùng thuốc thì chữa được bệnh Mê Lầm. Bằng chưa biết dùng mà dùng bừa bãi thì lại càng Tu càng Bệnh, càng làm càng đến những chỗ sa đọa vô kể.

Vì như thế, nên Chư Tổ mới kìm hãm, củng cố Đạo Tràng để cho bậc tu lần bước nhiều kiếp mà Sở Đắc Chân Lý.

Do như thế, nên các Pháp Môn Niệm Phật, Tu Tịnh Tâm, tạo Phước Điền cẩn thận để chờ bậc THIỆN TRI THỨC chỉ dẫn đúng với tinh thần, đúng với Pháp Môn, đúng với sự cầu báo Chánh Báo.Vị ấy tùy năng sở sắp theo thứ lớp cho Tứ Chúng được Chánh Báo Phước Điền, được Chánh Báo Nhân Thiên, được Chánh Báo Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, mà thành tựu Chánh Giác vậy.

Bậc như thế phải là BẬC CHỈ ĐẠO thông đạt, Tận Biết tỉ mỉ Nghiệp Chủng của Chúng Sanh Giới, thật biết năng Sở Cầu từng bệnh tật của Bậc Chứng Tu để lần lượt xếp thành sự Tu Chứng trường cữu bất diệt. Đến đây Ngài dứt lời.

Tứ Chúng đồng đảnh lễ và cung tiễn ĐỨC  TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất.

TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử Hoàng Ngọc Sơn
Pháp Danh Pháp Tràng

“Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 11tháng 3 năm Giáp Dần

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 05

Ngày 13 tháng 3 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

Của Đức Tăng Chủ Nhất Tôn

VỀ VẤN ĐỀ THAM SÂN SI

Thường ngày, tại Trung ương Hội Thượng có một số Tín Chúng quây quần được gần ĐỨC TĂNG CHỦ để tu tập.

Hôm ấy, lúc 10 giờ ngày 13 tháng 3 năm Giáp Dần, trước sự hiện diện đông đảo các vị Tôn Giả: Bà Tôn giả Pháp Tùng, Tôn giả Pháp Khả, Tôn giả Pháp Tràng, Tôn giả Tạng Nguyên, Tôn giả Tạng Trình và Tín chúng Pháp Quyên đang ngồi quanh ĐỨC  TĂNG CHỦ tại Tịnh Thất.

Tôn giả Pháp Quyên đứng lên đảnh lễ ĐỨC TĂNG CHỦ, qùy sang một bên và kính cẩn thưa gởi:

– Kính Bạch Ngài, xin Ngài giảng nói cho con về vấn đề THAM – SÂN – SI.

Trong giây lát yên lặng, ĐỨC TĂNG CHỦ, Ngài bắt đầu khai thị bằng một câu chuyện chúng tôi được nghe như vầy:

Có một thuở cách đây vào lối năm năm về trước, có một vị Sư đến viếng an và thưa gởi với tôi như vầy:

– Thưa ĐỨC TĂNG CHỦ, làm thế nào diệt hết tham? Làm thế nào diệt hết Sân? Làm thế nào diệt hết Si mới đắc quả? Con rất thắc mắc điều ấy, Kính Bạch ĐỨC  TĂNG CHỦ giảng giải cho con được tường tận.

ĐỨC TĂNG CHỦ nói:

– Vấn đề Tham Sân Si có 3 cách:

  • Một là: Hàng Tiểu Thừa sợ Tham khởi vọng nên tận diệt Tham.
  • Hai là: Hàng Đại Thừa phá mê chấp để sạch lý Tham.
  • Ba là: Hàng Nhất Thừa nương vào Khởi Vọng, Nghi Chấp, Phá Chấp để tận giác tỏ tham.

Đó là ba đường lối của Tam Thừa để tu tập.

Sư cũng nên biết rằng:

Thật Giác mới diệt được Tham. Khi nào còn nghi ngờ, còn vọng đảo thì chính vẫn còn tham vọng chưa tận gốc Tham. Tham không phải diệt nó, nó mới hết Tham, chỉ Tận Giác thì nó không còn một cái Tham. Khi Tận Giác được thì muôn ngàn Vạn Pháp thảy đều không có một cái Tham.

Lúc bấy giờ nhà Sư ngớ ngẩn, phân vân vì chưa nhận được, tôi bèn giảng tiếp.

– Sư hãy nghe câu chuyện trên đây để chỉ ngọn ngành của Tham Sân Si.

Nhà Sư kính cẩn nghiêng mình thi lễ, tôi Chỉ Dụ:

Ông nghĩ xem: Có một Trưởng Giả kia có một cây cam, trái sum sê tươi đẹp ngay trước cổng. Một Đạo Sư nhìn thấy cây cam tươi đẹp, thích thú đến thưa với Trưởng Giả để xin cây cam ấy về trồng trước sân Chùa.

Vị Trưởng Giả trầm ngâm nói với Đạo Sư. Tôi không thể cho Đạo Sư một cây cam mà Đạo Sư cũng không thể bứng lấy cây cam này đem về trồng trước sân Chùa mà nó sống đặng, Nếu như Đạo Sư muốn có cam thì tôi tặng cho một quả để Đạo Sư gieo trồng sẽ đặng 20 cây cam.

Lúc bấy giờ Đạo Sư không hiểu sanh Tâm sân hận, đó cũng gọi là Sân, rồi oán trách Trưởng Giả nhỏ nhen không cho mình một cây cam mà cho mình một trái cam, đó cũng gọi là Si. Từ chỗ Si Mê mà có Tâm Sân Hận, bởi chỗ lầm mà vướng chịu Tham Lam.

Sư cũng nên biết rằng: Nếu Đạo Sĩ mà biết được một quả cam có thể ương trồng thành 20 cây cam thì Đạo Sĩ kia có xử dụng 20 lần tham nhưng cách Thật-Biết thì không có một cái Tham. Khi đã không có Tham thì nào có Sân Hận, lúc đã không có Sân Hận thì nào có Si Mê oán trách. Gốc THAM SÂN SI do Vọng Đảo lầm lẫn chưa biết, khi không vọng thì liền chẳng tham, mà lúc có Tham thì có sanh vọng. Cho nên Phật thường nói các ông Tham Vọng, Điên Đảo, Si Mê chướng đối trở thành vạn Pháp muôn trùng, hóa thành Vô Minh Pháp Giới. Ta thật biết tỷ mỉ mà còn biết hơn thế nữa. TA trơn liền chẳng có Tập Khí, khi không có tập khí thì nào có khởi sanh, khởi diệt. Đã không khởi sanh, khởi diệt thì Tâm Bình Đẳng dung Thông. Gốc của Tham Sân Si bởi do vọng đảo mà thành gọi là Tham vọng.

Lúc bấy giờ vị Sư mừng rỡ tán thán, nghiêng mình khen tặng Phật vi diệu khó nghĩ bàn. Đến đây ĐỨC TĂNG CHỦ dứt lời.

Pháp Quyên cùng Tứ Chúng đồng đứng lên đảnh lễ vì đã được ĐỨC  TĂNG CHỦ khai thị về THAM SÂN SI nguồn gốc chưa trọn Giác.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG
Ngày 13 tháng 3 năm Giáp Dần

Chân Phật Tử  : ĐẶNG VĂN NHÂN

Pháp danh       : PHÁP QUYÊN

“Phụng ghi để phổ truyền”

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 06

                                                                    Ngày 17 tháng 3 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN Của Đức Tăng Chủ Nhất Tôn

VỀ VẤN ĐỀ TỶ DỤ

Kẻ ăn biết ngon thì đương nhiên kẻ ấy lành mạnh không bệnh hoạn sẽ lớn lên.
Bậc nghe Pháp cần nhất sự lãnh hội đặng Bảo Pháp thì tương lai sẽ đạt đến mục đích TRI KIẾN GIẢI THOÁT theo sở nguyện của mình.

Lúc bấy giờ, vào khoảng 17 giờ chiều ngày 17 tháng 3 năm Giáp Dần. Tôi lên Tịnh Thất của ĐỨC TĂNG CHỦ, Ngài đang nằm trên chiếc chõng vải trầm ngâm suy tư. Tôi đến nơi thi lễ xong, Ngài bảo tôi ngồi một bên, Ngài dạy:

-Ông Tôn giả Pháp Tràng, ông cũng nên biết, sự tu hành rất khó khăn là biết thọ lãnh Pháp. Khi đã nhận định được thì con đường tu mỗi ngày một hào hứng thích thú vô kể. Bậc biết lãnh Pháp cũng như kẻ biết giá trị của Ngọc, thì mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút cái cuộc sống đầy cả tươi sáng vì đang lượm Ngọc. Bằng không biết giá trị thì sự tu kia in như tuồng bị bắt buộc thường sinh sự chán nản, uể oải làm cho bê trể.

Chính tôi không trách các nghiệp chướng của mọi người vì mọi người chưa nhận chân được nó. Tôi chỉ mong sao cho họ nhận chân được giá trị của Phật Đạo thì chừng đó họ tìm được lẽ sống huy hoàng. Họ đứng ở phương nào cũng thấy an vui tự tại.

Lúc họ chưa nhận được, dù họ có thân cận bên tôi thảy đều có một sự ràng buộc lấy cho họ.

Ông cũng nên biết, những lời tôi nói trên thảy đều nằm trong Nghiệp Thức Vọng Đảo, do đó mà họ mải mê tìm lấy một lối nào cho họ được thoải mái trên con đường tu Tri Kiến của họ. Càng tìm bao nhiêu lại càng mờ mịt bấy nhiêu.

Vì sao? Vì họ không nhận được Chân, cũng như kẻ ngồi trên đống vàng mà không biết vàng lại đi tìm vàng. Đối với Chân Lý nói cũng thế.

Lại nữa, nếu như bậc tu mà biết hiện tại họ ẩm thực miệng không thôi, nếm được hương vị thích thú thì người ấy sẽ khoẻ mạnh. Trái lại, khi họ bỏ các món cao lương mỹ vị vào miệng thơm tho ngọt ngào, thì họ chỉ cầu sao những vật-thực đó không chạy xuống bao tử của họ để họ nhai mãi. Con đường tu tập nghe Giáo Lý của tôi chỉ dạy cũng thế. Tôi nói một Pháp Môn, tôi phá một Mê Chấp, khi bậc tu nghe nhận thích thú mừng rỡ tán thán xong đâu đấy họ lại mãi ưng sao thời pháp cứ đứng yên để cho họ an trụ, thích thú mãi mãi. Chẳng khác nào kẻ nhai vật-thực ưng sao vật-thực ở trong miệng chớ chẳng ưng vật-thực xuống khỏi cổ họ.

Nếu bậc nghe được Thời Pháp tôi vừa nói thì ông cũng nên biết rằng bậc ấy đã khá dẹp lòng tham để mà sắp bước vào con đường NHẤT TÔN PHÁP TẠNG.

Nếu có kẻ biết hiện tại mình đang thích thú Thọ Lãnh thì kẻ ấy đến vị lai được hoàn mỹ.

Bằng hiện tại chưa biết thích thú, cứ đòi mãi những thích thú riêng tư của cá tánh thì kẻ kia ruột vẫn còn chứa đầy tham vọng, khó mà thành tựu, khó mà Tri Kiến.Ông nên nghe và nhận lãnh kỹ càng, lời nói của tôi đây chính là lời căn dặn trước ngày tôi bước vào bệnh viện.Tôi vừa nghe ĐỨC TĂNG CHỦ dạy như cơn mơ được sực tỉnh, nhận định được cái tham vọng đòi hỏi nơi bản thân, cùng đa số những bậc lầm lẫn như tôi, làm cho tấm lòng tôi thích thú vô kể. Tôi bèn đảnh lễ, rót một chung nước trà dâng lên Ngài, Ngài chắp môi mỉm cười. Tôi lễ bái Ngài xong liền rời Tịnh Thất và phụng ghi lại Giáo Môn của ĐỨC TĂNG CHỦ.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử: Hoàng Ngọc Sơn
Pháp Danh Pháp Tràng

“Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 17 tháng 3 năm Giáp Dần (1974)

 

Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHÂT

THỜI PHÁP 07

Ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN Của Đức Tăng Chủ Nhất Tôn

SỰ TU HÀNH

Không Đem Đến Hiểu Biết Để Phá Mê Chấp Thì
Đương Nhiên Tu Ngàn Năm Cũng Không Lấy Được Một Ngày Tu.

Tôi được nghe vào ngày 18 tháng 3 âm lịch năm Giáp Dần, lúc bấy giờ có sự hiện diện của đạo chúng cùng ông Tôn giả Pháp Thuần, Pháp Hậu đang quay quần bên ĐỨC TĂNG CHỦ. Tôi bước vào lễ bái, xong ngồi lại một bên. ĐỨC TĂNG CHỦ bảo tôi lấy viết ghi chép lại thời Giáo Ngôn với tựa đề:

“SỰ TU HÀNH KHÔNG ĐEM ĐẾN HIỂU BIẾT ĐỂ PHÁ MÊ CHẤP THÌ ĐƯƠNG NHIÊN TU NGÀN NĂM CŨNG KHÔNG LẤY ĐƯỢC MỘT NGÀY TU”

Đức Ngài dạy: Thuở quá khứ, thời hiện pháp của ĐỨC THẾ TÔN, lúc bấy giờ có một Giáo Môn Thượng Sĩ đến đảnh lễ xong thưa gởi:

– Hôm nay con đến để diện kiến Đức Ngài con cũng xin thưa gởi một vài điều, kính nhờ Đức Ngài minh định cho con.

ĐỨC THẾ TÔN gật đầu. Vị Thượng Sĩ Giáo môn thưa:

– Con đã từng nghe dư âm rằng ĐỨC THẾ TÔN đã chê bai, nguyền rủa Giáo Môn của con là tạo lấy nghiệp chướng, tạo lấy vô minh nhưng con chưa tỏ rõ có phải Đức Ngài đã nói xấu, đã nguyền rủa chúng con chăng? Nay con xin diện kiến Đức Ngài để được Đức Ngài truyền rõ cho con, có phải những lời con vừa nói là một bằng chứng xác thật hay không xác thật? Đối với Đức Ngài đã thương con hay không thương con đặng lòng con khỏi vướng mắc sân hận, nghi ngờ.

Thưa gởi xong Thượng Sĩ Giáo môn ngồi lại một bên.

ĐỨC THẾ TÔN dạy rằng:

– Ông cũng nên biết, TA nhìn thấy những bậc tu hành theo Giáo Môn của ông là phơi nắng, đánh đập hành xác để cầu quả Vô Thượng, thì thử hỏi đương nhiên lại tạo cái phơi nắng, tạo cái đánh đập để lấy đó làm đề mục mà đi đến nơi Địa Ngục, nơi này cũng bị ép xác, bị nghiền xác rải rác khắp nơi. TA thấy hành động như vậy không ích lợi, TA nói như thế thì thử hỏi TA thương hay TA nguyền rủa?

Lúc bấy giờ Thượng Sĩ Giáo Môn thưa:

– Thật Đức Ngài đã thương chúng con mà nói chứ không phải nguyền rủa, phỉ báng chúng con.

ĐỨC THẾ TÔN Ngài lại dạy tiếp:

– Ông cũng nên biết, có kẻ tu nhìn mặt trời, trần truồng dầm mình dưới nước, lấy đá lăn vào đầu, lăn vào thân thể để cầu đạo Vô Thượng, thì thử hỏi mặt trời kia đã thuyết diễn cho kẻ ấy được những gì? Đá đập vào đầu, vào thân thể nó đem lại sự hiểu biết chi chăng? Ta nhận thấy tu tập mà hành động như vậy, nó sẽ không đem lại sự hữu ích nào, trái lại nó còn tạo thêm sự mê lầm. Những kẻ tự hành xác như trên đương nhiên tự tạo sự lầm lẫn phải chịu báo nơi Hỏa Ngục, rồi bị thiêu đốt từ đầu đến chân hoặc những kẻ kia phải chịu báo nơi Địa Ngục luân chuyển xoay chiều của Thủy Hồng Ngục, những kẻ kia cũng lại tự tạo lấy nơi rừng rú âm u, mây dồn gió cuốn thì thử hỏi TA thương hay TA nguyền rủa Giáo Môn của các Ông?

Đối với sự tu, sự hành có đặc điểm ích lợi vô kể một khi bậc tu làm đúng với nó, bằng đối với sự tu hành theo vọng cầu ý muốn nhưng không hiểu vọng cầu đó là cái gì, ý muốn nó sẽ đưa ta về đâu khi mà ta đã bị vô minh che lấp thì ta hãy tu sửa hành giác mới có thể đem ta đến ích lợi, bằng tu sửa mà đánh đập thân mạng, lăn lóc trên ba đường khổ để đi đến chỗ hành xác diệt vong thì còn thua cả con cừu, con lợn người ta thiêu đốt mà còn có thể dùng được.

Bậc tu lại chạy theo sự mê lầm để thiêu đốt thân mạng thì không thể dùng được mà lại còn bị diệt vong nữa là khác.

Vị Thượng Sĩ Giáo Môn nghe qua mừng rỡ tán thán, đồng thưa lên ĐỨC THẾ TÔN những lời nói hết lời tôn kính “Đức Ngài chính là một bậc Quân minh soi sáng vạch rõ muôn điều để từ đời này đến đời sau chúng sanh biết rõ con đường tu mà sửa sai lầm lẫn. Hành là Hành Thâm Pháp Giới để thật Giác”.

ĐỨC TĂNG CHỦ Ngài nói đến đây, thư thả dạy tiếp với Tứ Chúng:

Các Ông cũng nên biết, tu không phải là tạo lấy đói khát khổ sở mà thành, chẳng phải tạo lấy lâu đài, sung nhũ mà đặng, cũng không phải hành hạ đến khô xương mà đến, cũng chẳng phải dung dưỡng Thân Tâm mà được, Vạn Pháp nó không khứ, không lai, không trụ, không đến, duy chỉ có tình DUY NHẤT TỐI THẮNG DIỆU ÂM, TIN VÂNG KÍNH là trọn.

Tôi cùng Tứ Chúng cung kính đảnh lễ và Cung Tiễn ĐỨC TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất.

TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử: Võ Văn Khoa
Pháp Danh:  Pháp Khả
Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 8

Ngày 03 tháng 4 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

SỰ LẦM LẪN DO QUAN NIỆM SAI

Hồi 9 giờ ngày mùng 3 tháng 4 năm Giáp Dần, với sự hiện diện của các Chân Phật Tử: ông Pháp Quyên, ông Pháp Hậu, lúc bấy giờ ĐỨC LONG TĂNG CHỦ thân hãy còn đang bệnh, từ Tịnh Thất bước ra Chánh Điện ngồi tịnh dưỡng trên chiếc chõng vải, chúng tôi đồng đến lễ bái, xong ngồi một bên. ĐỨC  TĂNG CHỦ liền bảo tôi lấy giấy bút ghi lại bài Giáo Ngôn với tựa đề:

SỰ LẦM LẪN DO QUAN NIỆM SAI

Ngài dạy rằng: –Các ông cũng nên biết, do ý chí tư tưởng quan niệm sai thành thử tu không đúng với tinh thần Đạo Phật. Vì lẽ ấy nên tu mãi không tìm được lối thoát mà còn vướng vào căn bệnh Chứng Tu. Thế nào là quan niệm sai? Ngài dạy tiếp:

–Có một Vị thường nghe viên ngọc Bích Thủy, vị ấy mới ngồi suy tư để tìm ra căn nguyên sự cấu tạo của viên ngọc, bèn suy đoán chắc có lẽ ở vũ trụ này do khối nước đồng hợp Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ âm-dương tương cấu lâu ngày kết nạp thành viên ngọc Bích Thủy, nghĩ như thế xong vị nọ mới ra khu rừng lấy một bát nước đặt trên đỉnh đồi rồi ngồi cách chỗ bát nước độ 50 thước mắt đăm đăm nhìn vào bát nước để định thần suốt cả ban ngày lẫn ban đêm, khi ban ngày thời yên trí rằng mặt trời chiếu vào khí dương làm căn, đến lúc ban đêm thời lấy mặt trăng và ngôi sao lập bổn để luyện thành viên ngọc Bích Thủy.

Bát nước lâu ngày khi vừa mới múc, ngày tháng khô dần vì bởi thời gian, vị ấy mới nghĩ rằng đó là cố tinh của thủy để thành Ngọc. Sau một thời gian, bát nước cạn lần đến một ngày nào đó trở lại không còn nước nữa, thì vị kia sanh tâm chán nản vì sự tu luyện của mình không được kết quả, chẳng đoạt đến chí nguyện.

Các ông cũng nên biết, do sự lầm lẫn suy tưởng của vị Đạo Sĩ kia chỉ dùng ảo tưởng để cố tạo thực tưởng, đương nhiên ảo tưởng là của ảo tưởng, chớ không bao giờ ảo tưởng trở thành thực tưởng. Do lẽ ấy mà không thành tựu được, đối với con đường tu Phật chính nó là thực thể Chân Thật tướng, lý sự chung hoàn mới tận hưởng được nó, bằng dùng tư tưởng sai lạc lầm tưởng thì không bao giờ đến kết quả, thế nào gọi là tư tưởng Thật Tướng? Bậc tu tạo nhân cách cho huy hoàng, dụng đạo hạnh cho đúng đắn, từ nhân cách và đạo hạnh hoàn mỹ, đương nhiên Đời và Đạo sẽ suy tôn lên bậc Thiên Nhơn Sư, đó gọi là cấu tạo Đạo Đức.

Còn về phần Trí Tuệ là phá mê chấp, mỗi ngày kiểm điểm lại nghiệp của mình, mỗi lúc lại so mình cùng chúng bạn có những điểm gì tốt xấu cần phải chỉnh trang bổ túc, lìa Tự Ngã Bảo Thủ để được Dung Thông, dẹp gay cấn ganh tị liền được thoải mái, giải sân hận liền được viên dung mà sở đắc THA TÂM THÔNG, LẬU TẬN THÔNG, THẦN TÚC THÔNG, TÚC MẠNG THÔNG làm ĐẠO HẠNH, như vậy được sự ích lợi vô kể.

Đối với các ông phải nghe theo lời Tôi để mỗi vị xây dựng một nền Chánh Pháp trong tâm khảm bất diệt. Trong thời này là thời Hạ Pháp, các ông sống vào nhân cách phàm phu, trí tuệ kém cỏi, sự lầm lẫn dẫy đầy. Tôi không giận các ông lại càng đem tình thương tràn ngập để giúp các ông trên con đường Tri Kiến, theo tôi tự nghĩ: Bậc Chư Thiên còn lầm lẫn huống chi các ông là kẻ phàm phu nhân cách, làm sao không lầm lẫn cho được. Các ông hãy nghe câu chuyện dưới đây mới biết các Chư Thiên hãy còn lầm lạc mà tu hàng 800 năm vẫn chưa thấy Chân lý nổi, huống chi các ông.

Lúc bấy giờ, ĐỨC  TĂNG CHỦ suy tư, hớp một chung trà, hương thơm bốc lên ngào ngạt, Ngài dạy tiếp:

– Tôi còn nhớ, một thuở khi tôi Giáng Lâm tại Tỉnh Thị Hội Bình Định Qui Nhơn khoảng trung tuần tháng 8 năm 1973, Tôi đến tại Quận Hội An Nhơn an trú vào gia đình của ông Pháp Hạnh, Tứ Chúng An Nhơn cung thỉnh đủ nghi lễ, từ y áo ẩm thực không thiếu sót, đêm đến Tôi nhập vào Chánh Định có một Chư Thiên uy nghi giáp vàng hực hỡ đến nghiêng mình đảnh lễ xong đứng lại một bên Tôi, nhìn qua dung nhan hình thù trẻ đẹp trang nghiêm, đôi mắt hiền lành và đầy tin tưởng, vị Chư Thiên thưa thỉnh: Kính bạch ĐỨC TĂNG CHỦ, Ngài Giáng Lâm Bình Lâm Bình Định có khỏe khoắn chăng? Ngài vui vẻ và an nhàn chăng? Tôi gật đầu và hỏi: Chư Thiên từ đâu đến?

Chư Thiên đáp: Con từ hướng Đông đến, phận sự con lo cai quản việc gió, mưa, sấm, sét, con gìn giữ sự an lành cho nhân sinh trong vũ trụ, đem thuận hòa khắp mười phương, và lấy đó làm con đường tu tập, con mãi tu kể ra trên 800 năm nhưng chưa đoạt đến cơ bản, thì làm thế nào được đi vào con đường Chân Lý để Giải Thoát?

Kính nhờ Ngài chỉ bày cho con tu tập để con được lãnh hội lấy đó làm chứng từ của Đạo Phật. Tôi mỉm cười, nhìn vị Chư Thiên và nói: –Ông chớ lầm tưởng mà sai lạc với chỗ tu của ông, hôm nay tôi nói thiệt để cho ông được biết trong 800 năm qua của ông, chưa lấy được một phút tu.

Vì sao? Vì ông đang chữa bệnh thương, ghét, tốt, xấu, được, mất, thử hỏi bậc đang chữa bệnh thì có một phút nào tu chăng? Khi mà đã bước vào tu thì liền đến cũng như lúc đã lành bệnh thì mới có thể trang trải được đường tu, còn lúc đang có bệnh thì lo âu chữa bệnh nào có phải tu đâu mà ông lầm lẫn như thế. Vừa nghe Tôi nói, vị Chư Thiên mừng rở, tán thán và thưa thỉnh: –Kính Bạch Đức Ngài thật con lầm lẫn quá kể, con tự hào mình là bậc tu, ngày hôm nay nhờ Đức Ngài khai thị con mới biết con là kẻ đang chữa bệnh, khi nào hết bệnh mới gọi là Tu, Chư Thiên đảnh lễ và lui gót.

Câu chuyện trên như thế, các ông cũng nên biết giữa thời Hạ Pháp, Tôi là Đại Lương Y chế thuốc chữa bệnh cho mọi người, họ lại không lo tròn bổn phận và trách nhiệm để khai trừ quật khởi nghiệp căn, cứ dùng tư tưởng cá tánh sự lầm lẫn của cá tánh điên loạn ganh tị, kình cãi đạp lên nhân cách lẫn nhau để cho loài Ma Ba Tuần tàn phá Chánh Pháp.

Ngài trầm ngâm hít một hơi thuốc rồi dạy:

–Thật ra có nhiều khi Tôi đắng miệng, lắm lúc Tôi nhàm chê những kẻ bước vào con đường tu Phật không lo Tự Giác, Giác Tha mà chỉ lo ham quyền tước vị, cũng có đôi kẻ đòi hỏi Tôi truy phong làm quan, lấy quyền Phật Đạo để mà vụ lợi, nhưng kẻ ấy bất tài kém đức, vọng đảo tham lam, bệnh hãy còn dẫy đầy thì dù Tôi có truy phong cho họ làm quan chăng nữa, họ chỉ nhận được cái quan đàng Địa Ngục, chỉ lãnh lấy cái ảo tưởng viễn vông không bao giờ đến Tri kiến Giải Thoát được. Tôi nói ra đây để đánh thức Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới hãy cùng các vị tu cầu trên con đường Tri Kiến Giải Thoát nên Tự Giác, Giác Tha, Tự Lợi, Lợi Tha làm sao cho tất cả mọi người có lợi để chính mình được lợi, cho nên Tôi có câu giáng từ Trung Ương đến các Tỉnh Thị Hội rằng:

KẺ XUẨN DÙNG BẢN NGÃ ĐỂ NÂNG MÌNH ĐẾN MÀ CHẲNG ĐẾN
BẬC TRÍ DÙNG ĐẠO ĐỨC ĐỂ NÂNG MÌNH CHẲNG ĐẾN MÀ ĐẾN

Sau khi nghe qua lời khai thị vàng ngọc của ĐỨC TĂNG CHỦ, tôi sực tỉnh nhận thấy được sự lầm mê, vọng cầu điên đảo nơi bản thân mình, cùng tất cả mọi người, tôi nhận chân giá trị vô kể của thời Giáo Ngôn trên, liền phụng ghi để phổ truyền cho nhân sinh trong đời này đồng với đời sau làm phương tiện tu tập đến Tri kiến Giải Thoát.

TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử Nguyễn Văn Dây
Pháp Danh: Tôn Giả Pháp Bang
“Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 3 tháng 4 năm Giáp Dần

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 09

                                                                    Ngày 07 tháng 4 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

Của Đức Tăng Chủ Nhất Tôn

TỈ DỤ:

CÂU CHUYỆN THẰNG CHĂN TRÂU

VỀ CÂU CHUYỆN THẰNG CHĂN TRÂU

Buổi sáng tinh sương ngày mùng 7 tháng 4 năm Giáp Dần, tôi về vấn an ĐỨC  TĂNG CHỦ trong thời Ngài đang dưỡng bệnh, trước sự hiện diện của ông Tôn Giả Pháp Khả. Ngài kêu tôi lại gần kể cho nghe câu chuyện “Thằng Chăn Trâu” để phương tiện chỉ vào con đường của bậc tu và kẻ chưa tu nó hơn nhau thế nào?

  • Khi bậc tu chưa nhận định được, chưa biết được giá trị của mình.
  • Lúc bậc tu đã nhận định được, thì mới biết được mình và kẻ chưa tu, cái giá trị nó hơn nhau gấp vạn lần như thế.

Lúc kể xong, Ngài bảo tôi cầm bút phụng ghi thời Giáo Ngôn Ngài đã dạy. Ngài nói:

–Ông Pháp Tràng, ông cũng nên biết những bậc tu lắm khi tự mình nghi lấy mình không tiến bộ. Có lắm lúc tự nhận lấy mình không kết quả, nó làm cho bậc tu phân vân không lãnh được Bảo Pháp. Nó mơ màng hoang mang không biết được công năng tu tập của mình. Vì sao? Vì mình đang còn nghi chấp dẫy đầy, hoang mang đủ cách, mơ màng đủ điều. Do sự nghi ngờ mơ màng ấy mà nó làm cho bậc tu không tìm được lối thoát ngay chính bản thân mình thì thử hỏi làm sao mà độ thoát Tam Thiên cho đặng.

–Ông Pháp Tràng, ông cũng nên biết có bậc tu từ 5 đến 10 năm khi ra đường dạo cảnh gặp một người bạn đồng hương nói qua một câu chuyện hay ho, làm cho bậc tu phải suy nghĩ rằng mình tu từ 5 năm hay 10 năm cũng đồng giai cấp với người bạn. Có khi bậc tu, tu hằng hai, ba chục năm cũng đều gặp hoàn cảnh tương tự như thế. Do tại sao? Do tại chưa đầy đủ Giác Nguyên trùm khắp nên mới có tình trạng trên. Nếu bậc tu biết suy nhận trong một khắc đồng hồ thôi thì mới biết rằng người bạn ấy chỉ biết có một mà ta đã biết một trăm vạn lần hơn. Đó là những yếu tố ấn định cho tất cả bậc tu được biết mình và biết người. Ngài liền kể câu chuyện “Thằng chăn Trâu” dưới đây. Tôi trầm ngâm để thọ lãnh và phụng ghi.

Ngài dạy:

–Ông Pháp Tràng, ông cũng nên biết có một bậc ở trong một làng xa xôi hẻo lánh quyết chí du hành để tìm Chân Lý. Bậc ấy sắm sửa hành trang ra đi, lúc qua khỏi cổng làng đến ngã tư gặp một Thằng chăn trâu hỏi: Ông đi đâu? Bậc ấy nói: Ta đi du hành cho biết đó đây. Thằng chăn trâu mỉm cười. Bậc du hành vẫn đi thong thả cùng khắp đó đây để học khôn dại hiểu biết. Khi đã tỏ biết rành mạch, đã đi trên vạn đường muôn lối. Lúc về làng đến chốn cũ vẫn gặp lại thằng chăn trâu, thằng chăn trâu mỉm cười như trước, thì thử hỏi bậc tu ra đi lúc trở về có khác hơn thằng chăn trâu ở những điểm gì hay không?

Tôi bèn chắp tay thưa thỉnh:

–Kính bạch ĐỨC TĂNG CHỦ, đối với quãng đường trước thì nó không khác nhưng đối với bậc đã ra đi hưởng thụ biết bao nhiêu cái khác của sự hiểu biết đó đây. Lúc bấy giờ ĐỨC TĂNG CHỦ gật đầu khen đúng.

Ngài dạy: –Ông Pháp Tràng, ông nên biết có người họ nói rằng Đạo Phật không ngoài làm THIỆN chứ chưa biết làm TOÀN THIỆN. Có bậc họ nói ĐỨC chứ chưa có TỪ, BI, HỶ, XẢ trùm khắp để tạo cái ĐỨC hoàn mỹ. Lại có người họ nói có tu cũng chết mà không tu cũng chết, chỉ dùng trong cái sống để hưởng trong cái sống hiện tại. Tuy họ nói thế, nhưng chính họ cũng chưa tìm được cái sống của hiện tại và cũng chưa biết cái chết của ngày mai.

Đối với bậc tu có một lối sống thoải mái bất diệt, có một lối đi, về NHẬP-DIỆT của tương lai. Tôi nói ra đây để các ông biết có làm mới có đặng, có tu mới có đến, chứ không làm mà lấy cái Ý Chí thẩm xét thì nó sai muôn trùng vạn cách. Cũng như thằng chăn trâu kia nó chỉ biết có một ngã tư của nó đứng, chứ nó có ngờ đâu trong vạn lối để đi không lạc nẻo. Bằng đem thằng chăn trâu mà thả vào lối của kẻ đã đi thì chắc chắn thằng chăn trâu nó lạc hướng muôn điều.

Đối với sự tu hành từ phàm phu đến chư Thánh chỉ có hơn ở chổ Giác và Mê. Khi mà kẻ chưa giác đang còn mê thì nói chuyện với kẻ mê cũng đồng hóa ra mê theo kẻ mê ấy. Lúc đã thật Giác có một cơ bản hoàn mỹ thì dù có nghe cái mê của kẻ đang mê nói hay ho chăng thì nó vẫn là một ngã tư của triệu ngã tư khác. Nên chi người tu cần phải cho rốt ráo thật biết khỏi lầm với mê thì quyết định biết cái mê kia nó đang cố thủ của một chỗ đứng. Có như thế nên Phật thường dạy chư Bồ Tát “trụ mà không trụ là hạnh nguyện của Bồ Tát” để Bồ Tát năng sở chứng tri của một cái mê đặng thoát mê của một lối nói. Khi mà Bồ Tát đã đạt đến một khuôn cảnh Mê Chấp, Bồ Tát không dính mắc đặng hoàn chân.

Lại nữa, Bồ Tát đi qua ngàn vạn Pháp Giới diễn cảnh, trụ mà không trụ để thâm nhập Pháp Giới đặng biết rõ chứng tu mà hoàn chân Tu Chứng. Vì lẽ ấy, thành thử Bồ Tát nguyện mới hăng say để tạo Công Đức Chánh Giác vậy. Ngài dứt lời.

Lúc bấy giờ ông Tôn Giả Pháp Khả cùng tôi đồng thấy như được Ngài trao thêm cho những cái chìa khóa và chỉ dẫn cho những cái chốt đóng mở của tòa lâu đài Bảo Pháp. Chúng tôi đồng cung kính tán thán, nghiêng mình đảnh lễ ĐỨC  TĂNG CHỦ.

TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử  HOÀNG NGỌC SƠN

Pháp Danh  PHÁP TRÀNG

“Phụng Ghi Để Phổ Truyền”
Ngày 7 tháng 4 năm Giáp Dần

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 10

                                                                    Ngày 4 tháng 5 năm 1974

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

SỰ MÊ CHẤP, LẦM LẪN

DO BẢO THỦ CÁ TÁNH

KHAI THỊ TẠI PHÁP BẢO TỈNH THỊ HỘI QUẢNG NAM ĐÀ NẴNG NGÀY 02 THÁNG 3 NĂM GIÁP DẦN

Tôi được nghe và thấy, trong thời gian giáng lâm Đà Nẵng ngày mùng 2 tháng 3 năm Giáp Dần lúc 9 giờ tối, Tứ Chúng tại Tỉnh Thị Hội và Quận Hội quận 3 An Hải đồng tề tựu, giữa sự hiện diện có quan khách ước lượng trên 300 vị.

Lúc bấy giờ ĐỨC  TĂNG CHỦ giáng lâm và an tọa, Tứ Chúng đảnh lễ, sắp theo thứ tự ngồi lại một bên. ĐỨC TĂNG CHỦ Ngài trầm ngâm, vẻ mặt trang nghiêm và thuần hậu, tất cả Tứ Chúng đều im lặng, hương trầm phảng phất, thật là một quang cảnh không bút mực nào tả nổi, giữa sự trang nghiêm ấy Ngài dạy:

–Này Tứ Chúng, trên con đường Phật đạo chỉ có mê chấp, từ mê chấp đương nhiên có lầm lẫn, nơi lầm lẫn ấy liền phát ra bảo thủ chuyện lầm lẫn, Phật đạo gọi là Thọ Ngã, thế gian gọi là cá tánh của mỗi người. Tứ Chúng hãy nghe câu chuyện sau đây để tỏ biết sự lầm lẫn của cá tánh tạo thành ba đường ác. Nơi Thọ Ngã, cá tánh riêng mình không thể nào mình thấy được rộng rãi trùm khắp vị tha Đồng Chủng để tạo thành quang minh quảng đại. Do bảo thủ cá tánh, tự ý độc tôn mà trở thành sanh tử luân hồi. Ngài dạy xong, ngưng một lát Ngài tiếp:

–Thế nào gọi là mê chấp lầm lẫn?

Từ nghìn xưa có một cảnh giới đầy đủ Ngũ Bộ Châu, vì sao gọi là Ngũ Bộ Châu? –Bộ thứ nhất gọi là Đông Bộ Châu, Bộ thứ hai gọi là Tây Bộ Châu, Bộ thứ ba gọi là Nam Bộ Châu, Bộ thứ tư gọi là Bắc Bộ Châu và Trung Ương Bộ Châu ở vào Trung Tâm chính giữa.

Nhà Vua của Trung-Ương Bộ Châu cực kỳ nóng nảy, háo thắng, nhưng không bao giờ Nhà Vua biết được cái nóng nảy háo thắng của mình, do đó sinh ra lòng tham vô tận phải sa vào lầm lẫn mê chấp.

Một hôm, Nhà Vua mới nghĩ rằng ta là Trung-Ương Bộ-Châu, địa thế đầy đủ thuận lợi lại thêm binh hùng tướng mạnh, tội gì phải để cho Tứ-Bộ bao quanh, vậy thì ta đem toàn lực để khắc phục bốn Tiểu-Vương kia thâu gồm tất cả về Nhất-Bộ do ta bỉnh trị. Nghĩ như vậy Nhà Vua thực hành, cử binh đi bắt các vị Tiểu Vương kia về để hành hạ. Nhà vua ra lệnh bắt:

–Tiểu Vương của Đông Bộ-Châu phải nhịn đói.

–Tiểu Vương của Tây Bộ-Châu phải nhịn khát.

–Tiểu Vương của Nam Bộ-Châu phải phơi nắng.

–Tiểu Vương của Bắc Bộ-Châu treo cẳng ngược trên cành…

Khi ấy có một vị Thần hiện đến nói với Nhà Vua Trung-Ương Bộ-Châu:

–Sao Nhà vua làm điều tàn ác thế?

Vốn bảo thủ nơi cá tánh, và cũng vì sự lầm mê, Nhà Vua chẳng nhận ra việc của mình làm là việc ác, nên mới tỏ vẻ không vừa lòng liền nói:

–Tôi nào có làm điều gì tàn ác đâu?

Để trả lời, vị Thần mới dùng cây Phướng phất lên đầu Nhà Vua một cái, Nhà Vua mê man thiếp đi.

Trong cơn mê man đó, Nhà Vua thấy mình biến thành vị Tiểu-Vương thứ nhất tức là Tiểu Vương Đông Bộ-Châu. Nhà Vua thọ chủng cảm thấy đói bụng vô kể, cơn đói kéo đến một cách khủng khiếp, khổ không cách nào chịu đựng nổi, Nhà Vua van xin với viên Giám Ngục: cho tôi xin một miếng cơm rồi tôi dẫu chết cũng cam. Càng kêu la van nài lại càng thấy khổ cực hơn, cơn đói bụng dâng lên cực điểm; tức thì viên Giám Ngục dùng cây đập lên đầu Nhà Vua một cái nhà Vua giật mình biến thành vị Tiểu Vương thứ hai.

Lúc bấy giờ Nhà Vua biến thành vị Tiểu Vương của Tây Bộ Châu, thọ chủng cảm nhận chịu hình phạt nhịn khát, cơn khát như giếng cạn từ lâu, khô khan dày vò, chưa bao giờ có cái khổ nào hơn, cơn khát hành hạ Nhà Vua thật tàn nhẫn. Nhà Vua kêu khóc van nài, cầu xin được một giọt rồi chết cũng được Viên Giám Ngục vảy mấy giọt nước lên mặt. Nhà Vua há hốc mồm, thè lưỡi ra mong liếm láp được một chút nào, nhưng chẳng có một giọt nước nào rơi vào miệng. Nhà Vua càng kêu la càng than khóc, cơn khát càng thêm hành hạ mà lại làm cho viên Giám Ngục thêm tức giận bèn dùng chân đá vào đầu một cái thật mạnh, Nhà Vua giật mình biến thành vị Tiểu Vương thứ ba.

Khi Nhà Vua biến thành Tiểu Vương của Nam Bộ Châu, Nhà Vua thọ chủng chịu hình phạt cởi trần phơi nắng trên bãi cát nóng. Cát nóng như đốt tận thấu xương, da thịt như nấu chín, tái tê, đau đớn khổ sở vô vàn. Nhà Vua kêu van than khóc cầu xin được lăn vào bóng mát tàn cây bên cạnh một chút rồi thác cũng cam lòng chịu. Nhưng cũng không được. Lửa nóng kéo dài… khổ sở đến cùng tận. Nhà Vua kêu van thống thiết cũng chẳng bớt giảm cực hình mà còn làm cho Viên Giám Ngục tức giận, dùng chỉa ba đâm vào mặt nhà Vua, Nhà Vua giật mình biến thành vị Tiểu Vương thứ tư.

Sau khi Nhà Vua giật mình biến thành vị Tiểu Vương của Bắc Bộ Châu, Nhà Vua thọ chủng chịu hình phạt treo cẳng ngược trên cành đầu chúc xuống đất, đau đớn khổ sở vô cùng… Thật không còn cái khổ nào hơn, thật không còn đau đớn nào bằng. Nhà Vua chỉ mong được chết còn sướng hơn là mang chịu đọa đày này. Hết kêu la đến than thở van nài… cũng không làm sao thoát khỏi cực hình, cơn đau đớn tuyệt vọng dâng lên cực điểm , Nhà Vua lịm ngất thì Viên Giám Ngục đưa lưởi đao lên chém đứt sợi dây treo, Nhà Vua bị rơi từ trên cao dộng đầu thẳng xuống đất, Nhà Vua choàng tỉnh…

Nhà Vua vừa tỉnh cơn ác mộng, cũng là tỉnh giấc mê lầm, nhà Vua còn nhớ rõ ràng sự việc từ khởi thủy đến kết chung… Do một thoáng nghĩ lầm lẫn cộng với Cá Tánh bảo thủ chấp nhận ý nghĩ mình là đúng trở thành Mê Chấp. Vì bảo thủ nên vị Vua Trung Ương Bộ Châu kia không thấy việc mình làm là việc ác, không thấy ý nghĩ mình là lầm lẫn. Nhà Vua rất hối hận, bèn sai hầu cận trả tự do cho bốn vị Tiểu Vương, lòng ăn năn thúc hối khiến Nhà Vua cố công tu tập điều thiện, và hết lòng khuyến dụ toàn dân tu tập, lập Thiện Căn làm cơ bản, không nên làm điều gì gieo đau khổ đến cho mọi người, vì họ cũng biết đau khổ như mình, phổ cập rộng rãi Đạo Đức cùng khắp Tứ Châu, từ đó dân cư an hưởng thanh bình và hết lòng biết ơn Nhà Vua đã thức tỉnh Mê Lầm mà còn dạy dỗ khuyên răn dân chúng tu tập, để mãi mãi hưởng thanh bình trong cùng khắp Ngũ Châu thiên hạ…

Kể đến đây xong ĐỨC TĂNG CHỦ ngừng lại đôi phút:

–So với câu chuyện trên, sự mê lầm của các ông cũng vậy, các ông không thể thấy việc của các ông làm là sai, mà cứ ngỡ là đúng. Do Cá Tánh Bảo Thủ che kín, sự ngăn che kia là Vô Minh, sự Bảo Thủ kia là Mê Chấp.

Đạo Phật ra đời cốt làm sao phá được Mê Chấp của các ông, còn Mê Chấp lầm lẫn Tham Sân Si dẫy đầy; phá Mê hết lầm thì Tham Sân Si chẳng còn.

Toàn thể Tứ Chúng cùng Quan Khách hiện diện hôm ấy, nghe được lời Minh-Huấn Khai-Thị của ĐỨC  TĂNG CHỦ xong, lòng vui mừng khôn xiết như vừa được tắm gội rửa sạch Cá Tánh dẫy đầy những bụi nhơ Tham-Sân-Si, Thân Tâm nhẹ nhàng, an vui chan hòa trong ánh sáng Đạo Tràng, và đồng đứng lên đảnh lễ Ngài xong cùng trở về vị trí.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Ngày 15 tháng 4 năm Giáp Dần
Chân Phật Tử   :  Nguyễn Hữu Lịnh

Pháp Danh    :  Tạng Nguyên

“ Phụng ghi để phổ truyền”

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 11

                                                                  Ngày Rằm tháng 4 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

TỰ HOAN HỶ TÁN THÁN

Hôm nay ngày rằm tháng tư năm Giáp Dần, lúc 9 giờ 30, tôi về đảnh lễ ĐỨC  TĂNG CHỦ tại trước Chánh Điện. Sự hiện diện có ông Pháp Bang và ông Phan Thông đang ngồi một bên. ĐỨC  TĂNG CHỦ ngồi uống trà nơi chõng vải, Ngài gọi tôi lấy giấy bút để chép Giáo Ngôn về vấn đề Tự Hoan Hỷ và Tán Thán Công Đức. Ngài dạy:

–Này ông Tạng Nguyên, bậc tu hành không có gì sung sướng nhất bằng Tự Hoan Hỷ và Tán Thán công Đức là sung sướng nhất, bậc ấy đã được phá mê chấp đương nhiên lãnh lấy Pháp của Như Lai để tự giác mà Tán Thán công Đức, bậc ấy dùng trí tuệ soi khắp nghiệp căn mê chấp, khi phá được mê chấp hoan hỷ tán thán Công Đức thì ông cũng nên biết bậc ấy đã từng gặp Phật, Bậc ấy đã từng lập Hạnh Nguyện: Như Lai Vô Biên thề Nguyện Sự nên mới có thể phá vô minh.

Lúc bấy giờ Ngài nói xong, Ngài trầm ngâm suy ngẫm, tất cả bên ngoài đều im lặng có một vẻ kỳ diệu vô kể. Ngài dạy:

–Ông cũng nên biết, những bậc tu muốn thành công theo sở nguyện, tôi không còn mơ ước gì hơn là bậc ấy nắm hai yếu tố quyết định sẽ đi đến Tri kiến giải thoát?

Thế nào là hai yếu tố quyết định đi đến Tri kiến Giải Thoát?

–Yếu tố thứ nhất là kiểm điểm để sửa tánh, sửa các đố tật xấu xa cốt yếu gây dựng cơ bản Đạo Đức, đó chính là một yếu tố thành tựu Công Đức trùm khắp. Còn Trí Tuệ thì hãy phá mê chấp để được liên hoàn Đức Trí đồng song, Tướng Tánh duy nhất.

Tôi còn nhớ một thuở có một vị Bồ Tát bạch với ĐỨC THẾ TÔN: Con rất sung sướng trong thời nầy con gặp được ĐỨC THẾ TÔN là Bậc VÔ THƯỢNG TOÀN GIÁC, là Bậc CHÂN TÔN TỐI THƯỢNG. Nói xong vị Bồ Tát đảnh lễ tán thán ngồi lại một bên. ĐỨC THẾ TÔN mới dạy rằng:

–Nếu hiện tại ông biết TA là bậc TỐI THƯỢNG, thì đương nhiên ông phải biết quá khứ trên 3 đời Phật, Vị Lai ông phải đoạt đến mức Tối Thượng. Vị Bồ Tát thưa thỉnh:

Bạch ĐỨC THẾ TÔN: Chính con không biết quá khứ, không biết Ba đời Phật, con chỉ biết hiện tại ĐỨC THẾ TÔN dạy con gạt trừ đố tật để tạo Đức, phá mê chấp, tu tập trong hai môn Đức Trí đồng song đưa đến vị lai hoàn mỹ, đương nhiên con nhìn thấy đường dây VÔ THƯỢNG, thành thử con tự hoan hỷ xưng tán Ngài. ĐỨC THẾ TÔN ngài nói: Đúng nó như vậy, đúng nó như vậy! ông cũng nên biết ba đời Phật cùng hiện tại TA đây, nó có bốn tướng để xưng tán kể từ phàm phu đến Vô Thượng, tùy cấp bậc sở chứng mà xưng tán, tùy hiểu biết thọ lãnh Giáo Pháp mà xưng tán, từ nhìn vào con đường Hạnh Nguyện của kẻ dưới mà xưng tán bậc trên, vì đã bước qua nhịp cầu tỏ giác.

Ông cũng nên biết bốn tướng xưng tán:

  • Một là xưng tán của phàm phu nhân thế: nếu phàm phu nhân thế hiếu thuận, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đầy đủ thì được phàm phu xưng tán.
  • Bằng quảng đại quang minh giúp người rộng rãi, tánh tình không nóng giận thì Chư Thiên xưng tán, khi đã được Chư Thiên xưng tán thì bậc ấy, ông cũng nên biết qua khỏi mười nạn đâm chém, nhai nuốt, đói khát… được tiêu trừ. Đối với TA cũng nhìn nhận bậc ấy Đức độ kha khá.
  • Nếu bậc thi hành được Lục Ba La Mật, Hạnh Nguyện thù thắng, làm những điều khó làm mà làm được, khó nghe mà nghe được, khó biết mà biết được, Tâm rỗng rang mong làm lợi cho người hơn là lợi cho mình, bậc như vậy được Bồ Tát tán thán.
  • Bằng bậc xây Đức Trí tương song, Tâm không quái ngại và 10 danh hiệu của chư Phật để làm Công Đức Hạnh Nguyện thì ông cũng nên biết bậc nầy đã thành lập PHỔ HIỀN HẠNH, thì được Chư Phật tán thán.

Hôm nay đối với ông Trí Tuệ phá mê chấp, Đức Trí tương song để tỏ biết, để thọ lãnh Pháp Tối Thượng, đó chính là một yếu tố của bậc tu biết cúng dường Tam Thế, biết quý lãnh Chân Tôn Bảo Pháp, TA khá khen.

Lúc bấy giờ ĐỨC TĂNG CHỦ Ngài hỏi:

–Nếu như bậc có Đức mà không có Trí thì thế nào?

Tôi quỳ xuống thưa thỉnh:

–Bạch ĐỨC TĂNG CHỦ: Có Đức mà không có Trí thường tạo vô minh, được Phước Báo Nhân Thiên. Ngài gật đầu, Ngài hỏi:

–Nếu bậc có Trí mà không có Đức thì ông nghĩ thế nào?

Tôi liền thưa:

–Bạch ĐỨC  TĂNG CHỦ: Có Trí mà không Đức thì bị sa vào tà kiến. Từ tà kiến lại tạo vô minh, vô minh thường có duyên khởi ngỡ rằng mình đã Vô Thượng.

ĐỨC TĂNG CHỦ gật đầu trầm ngâm, Ngài dạy tiếp:

–Giữa thời Hạ Pháp, Tôi muốn đặt viên gạch, viên gạch chắc chắn để xây dựng Chánh Pháp. Vì do sự lầm lẫn thất truyền thành thử tất cả bậc Tín Tâm phải lâm vào con đường nặng nhẹ, do sự nặng nhẹ chênh lệch mà lại thường bị sa vào con đường Tăng Thượng Mạn, Ngoại Giáo. Vì vậy nên Tôi phải chỉ sự quyết định để cho tất cả tu tập dung thông ĐỨC TRÍ vẹn toàn mà được thọ lãnh Chân lý Tri Kiến Giải Thoát.

Ông cũng nên biết, việc nhỏ mà làm không được chu đáo thì chuyện lớn đâu có xong. Chẳng khác nào như ánh trăng tròn trên mặt nước thì đương nhiên giữa Hư Không trăng kia đã tròn. Bằng mặt nước trăng khuyết thì lẽ dĩ nhiên mặt trăng Hư Không phải khuyết, đó là lẽ đương nhiên như vậy. Kẻ thường lâm vào Tà Kiến hay đả phá Đạo Đức chẳng khác nào người mơ ngủ trên cầu tưởng mình được phong quan lãnh chức thì ông cũng nên biết kẻ ấy có được phong quan lãnh chức hay không?

Tôi liền chắp tay thưa thỉnh:

–Bạch Đức Ngài: Có phong quan lãnh chức, nhưng lãnh chức nơi tư tưởng trên cầu, chớ không lãnh chức thực thể.

ĐỨC TĂNG CHỦ gật đầu. Ngài dạy tiếp: Nó phải như thế. Đức là mối giềng của Chánh Báo Quốc Độ, còn Trí là đuốc Trí Tuệ để tạo nên Bát Nhã mà thành tựu. Không có Bát Nhã Trí thì thường bị thọ chấp Tiên Thần mà chẳng có Đức, có Trí, đương nhiên Tà Kiến. Bấy nhiêu lời ông chép ghi để thời nầy và thời sau làm tài liệu tu tập.

Đến đây tôi cùng tất cả anh em Tứ Chúng hiện diện đồng vui mừng đảnh lễ ĐỨC  TĂNG CHỦ, để thọ nhận lời Bảo Pháp Chân Truyền của Đức Ngài. Nguyện cùng nhau nhất tâm tu tập song toàn Đức Trí để báo ân Ngài đồng báo ân Tam thế.

TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG
Ngày 15 tháng 4 năm Giáp Dần
Chân Phật Tử Nguyễn Hữu Lịnh
Pháp Danh: Tạng Nguyên
“Phụng Ghi Để Phổ Truyền”

PHÁP TẠNG  PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 12

                                                                    Ngày 14 tháng 4 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

VỀ VẤN ĐỀ NGỒI THIỀN TỰ CHỦ

Hôm nay ngày l4 tháng 4 năm Giáp Dần lúc 9 giờ sáng, cũng là ngày trong mùa Phật Đản 2518 đã đến với Nhân sinh trong Vũ trụ.

Trước Chánh Điện Trung Ương Hội Thượng có mặt ông Pháp Chân ngồi bên phải, ông Pháp Tỏ, ông Tạng Hậu ngồi trước mặt ĐỨC TĂNG CHỦ. Bên trái có ông Tạng Tích, bà Tạng Sinh ngồi hầu Ngài. Cũng nhờ duyên lành đưa đến, một Chân tử học ở Đại Học Duyên Hải về hầu Ngài và xin Ngài cho biết rõ về THIỀN và cầu xin khi Thiền.

ĐỨC  TĂNG CHỦ nhắc nhở sự lưu ý của Chân Phật Tử ngồi chung quanh. Ngài hướng về phía bà Tạng Sinh và nhắc lại:

–Bà nghe cho kỹ, hôm nay Tôi khai thị thời Pháp “Cầu mà được, Cầu mà chẳng được”.

Trước hết tôi nói về Thiền, mục đích chính của Thiền là để cho Tâm được Tịch Tịnh, rỗng rang. Tâm Tịch Tịnh trí tuệ mới phát huy và để thân tâm được hòa đồng với vũ trụ. Buổi thiền ấy mình làm chủ, không để sự cầu xin nào xen lẫn trong buổi Thiền của mình làm giảm giá trị buổi Thiền.

Ví dụ: Lúc các ông ngồi Thiền mà cầu xin Phật gia-hộ giúp đỡ cho buổi Thiền được Định, hoặc giả cầu xin việc này việc nọ, thì chính ra buổi Thiền ấy của TU CẦU chứ chẳng phải của chính mình. Mình chỉ biết trong buổi Thiền đó chỉ có một mình mình trong vũ trụ này mà thôi. Khi Thiền gặp niềm vui chẳng mừng, gặp việc dữ chẳng sợ, thì Buổi Thiền được kết quả. Từ buổi Thiền này qua buổi Thiền khác, ngày tháng cứ thế tiếp nối đi qua, nếu giữ được quân bình như thế thì Thiền mới cao được. Còn Thiền lơ là, thì Tâm thần uể oải vì chính nó đòi nợ mình. Nếu các ông tu hành lấy SỬA TÁNH làm cứu cánh, THIỀN ĐỊNH làm phương tiện thì chớ nên bữa Thiền bữa bỏ, làm cho thân thể dễ bị mệt mỏi, tâm không sảng khoái thì thân thể bị bạc nhược, các ông bà nên lưu ý.

Vừa lúc ấy, ngoài đường một chiếc xe cam nhông chạy qua, tiếng động cơ quá lớn, ĐỨC  TĂNG CHỦ ngừng nói, Ngài ngã mình trên chiếc ghế nệm nghỉ ngơi một lúc. Nét mặt những tín chúng ngồi chung quanh Ngài hiện rõ sự hớn hở vui tươi. Một phút trôi qua ĐỨC  TĂNG CHỦ ngồi dậy và dạy tiếp:

–Các ông bà lưu ý, tôi nói rõ về sự “Cầu mà được, Cầu mà chẳng được”. Các ông bà nên biết sự gia hộ của Chư Phật đối với chúng sanh, khi chúng sanh cầu có ứng nghiệm thì chúng sanh phải biết TỪ, BI, HỶ, XẢ, đem tình thương bình đẳng đến khắp Nhân Loại, mà chúng sanh làm được như vậy thì sự cầu xin mới linh ứng.

Muốn được sự gia hộ của chư Bồ Tát thì Tâm ta phải được Tự-Tại Vô-Ngại, không hờn oán trách ai, gánh chịu những uẩn khúc của đồng loại, hứng chịu những điều đau khổ của chúng sanh, không nói suông, đến khi việc tới mà chẳng làm.

Muốn cầu được sự giúp đỡ của Chư Thánh Thần thì cần phải Quang Minh Chính Trực, Đức Độ hơn người, Ăn nói ngay thẳng, không dua nịnh kẻ trên, kẻ có thế lực, có tiền bạc, không hà hiếp người dưới nghèo hèn, hoặc nói láo, Quang Minh Chánh Trực ở đây là nói thẳng, nhưng các ông nên nhớ “TRUNG NGÔN THÌ NGHỊCH NHĨ” nói thẳng hay mất lòng, nên lựa lúc thuận tiện mà nói để xây dựng lẫn nhau, để giữ hòa khí với mọi người.

Muốn được người giúp đỡ, kính nể, trọng vọng thì trước tiên phải làm được NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN. Nhân từ Đức hậu với mọi người, đừng cô lập kẻ sa cơ để thõa mãn tà ý của mình, giúp đỡ kẻ khốn cùng, đùm bọc kẻ thế cô. Trung Can Nghĩa Khí: Biết ơn người nâng đỡ mình về mọi mặt “Ăn trái cam phải tưới nước gốc cây cam” không vô hậu. Một người đầy tớ phải biết ơn chủ khi có chén cơm ăn, một kẻ Sĩ phải biết ơn Thầy, khi còn học đánh vần ê a và phải đền ơn trong muôn một. Lễ độ cung kính người trên, nhã nhặn kẻ dưới, Trí: Tinh tấn về mọi mặt, không si mê “u-mê”. Suy tính và giải quyết mọi việc đến với mình trong cương vị lãnh vực Đạo Đức, không mưu sĩ tư lợi.

TÍN: Lời hứa của mình được kiểm nhận với lòng mình, không vọng ngữ, uy tính của mình có, khi nào hứa một việc gì thì đừng quên việc đó, mặc dù lỡ đã hứa, mà tài lợi mình bị suy giảm đôi chút. Tục ngữ có câu: “Một lời nói ra bằng ba dặm ngựa”. Lúc bấy giờ ĐỨC  TĂNG CHỦ Ngài gom thời pháp trên Ngài nói: –Tôi nhắc lại các ông nên ghi nhớ.

  • Muốn được người viếng nhà, bè bạn kính trọng, bà con tán thán thì phải có NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN.
  • Muốn được Thánh Thần gia hộ thì phải có Đức Tính QUANG-MINH CHÍNH-TRỰC.
  • Muốn được Bồ Tát giúp đỡ Hộ Trì thì phải HỶ-XẢ, thi hành LỤC BA-LA MẬT-ĐA, gánh chịu những oan ức của Chúng Sanh Tâm không oán trách.
  • Muốn Phật Chứng Minh thì phải vào con đường BÁT-NHÃ-TRÍ, Tâm Bình Đẳng, thương tất cả Nhân Sinh, từ Thế Gian cho đến Xuất-Thế-Gian, không hai TƯỚNG.

Trong khi các ông ngồi Thiền mà cầu xin thì nên nhớ: Muốn cầu nơi nào thì hằng ngày phải tập làm những Đức Tánh giống cõi ấy thì mới có sự tương ứng “Đồng thanh mới tương ứng”. –Tôi thí dụ cụ thể cho các ông thấy. Lúc ấy ĐỨC TĂNG CHỦ vươn vai ngó về phía cửa lớn trước Chánh Điện, tất cả Tứ Chúng ngó theo. Chúng tôi chỉ thấy vài ánh sáng mặt trời rọi thẳng vào Chánh Điện qua khung cửa.

Ngài TĂNG CHỦ dạy:

–Mặt trời có quyền chiếu ánh sáng vào nhà các ông, mà các ông không chịu mở cửa, cứ đòi ánh sáng vào nhà thì làm sao được. Cũng như muốn làm một người thợ máy giỏi mà khi người ta đem xe hư đến thì sợ bẩn tay, dơ quần áo. Vậy mà cứ đòi làm thợ máy giỏi. Muốn thành ông Luật Sư tài ba mà bảo đến trường chẳng chịu đến thời làm sao thành được. Muốn người đến viếng nhà mà sợ tốn kém lẩn tránh mà cứ đòi sao không ai đến nhà mình chơi. Ôi ở đời kỳ lắm. Có mấy ai muốn cầu mà chẳng được đâu, vì họ không làm được những việc mà họ mong cầu, có lắm kẻ muốn hưởng Phước vinh sang mà có bao giờ nghĩ đến điều Thiện đâu, có người muốn làm giàu, nhưng chưa hề Bố Thí.

Tôi nhắc các ông nghe cho rõ: “ba phút nghĩ…” điều Thiện làm Thiện thì được ba năm phú quý vinh sang. Nhưng thử hỏi mấy ai một ngày nghĩ và làm được ba phút Thiện đâu? Màn Vô Minh sẽ che kín khi ý nghĩ Thiện của các Ông vừa ló dạng. Một mặt MA-BA-TUẦN sẽ dẫn các Ông trong khi tranh giành chén cơm manh áo, cấu xé nhau vì miếng đỉnh-chung mà các Ông quên nghĩ đến làm Thiện.

Các ông bà nhìn bằng NHỤC-NHÃN khi thấy con người lúc trầm, lúc bổng như nhịp điệu âm-diễn của cung đàn mà lầm chấp, lấy Chúng-Sanh-Tánh hờn trách lẫn nhau, người này tốt, kẻ kia xấu, các ông có biết đâu họ phải Thọ-Chủng nhiều kiếp rồi. Gieo Nhân tốt gặt Quả-Vị tốt, gieo Nhân xấu gặt Quả Hàn-Vi.

Tại sao Tôi không hờn trách một ai, vì tôi biết rõ. Các ông cứ lẩn quẩn hờn trách, giận dỗi lẫn nhau vì các ông không biết. Phật hơn Chúng Sanh ở chỗ là Phật Biết và Thấy rất rõ ràng.

Tôi thí dụ: Hai người đàn ông như nhau, một người mặt mày mồm miệng thường lúc lắc hay làm trò cười cho kẻ khác, chân tay múa may, mặc dù họ ở chốn trang nghiêm, người đó Thọ Chủng con khỉ tiền kiếp. Một người hay uốn mình là hiện thân con rắn.

Tôi nhắc lại sự Phúc Đức hay có được của con người không phải ai cho mà được, chính mình làm mình hưởng, mình giàu sang kiếp này không phải nhờ hồng ân của ông bà cha mẹ để lại mà chính của mình để lại. Kiếp trước mình Bố Thí kẻ khốn cùng, hay che chở kẻ sa cơ, nay mình gặt được quả vị tốt. Nếu nói Phước Đức nhờ Ông Bà thì Tôi kể lại một câu chuyện sau đây cho các ông bà nghe:

–Có một gia đình nọ, ông bà cha mẹ rất hiền hòa, sanh ra một trưởng nam và một thiếu nữ. Lớn lên, người con trai theo du côn, du đãng, phá làng phá xóm. Còn cô con gái thì bán dâm. Có người lại nói “cha mẹ sanh con. Trời sanh tánh”. không thể đổ lỗi cho Trời được, thử hỏi sự lầm mê của Chúng Sanh biết bao nhiêu. Chân lý của nhà Phật là ở chỗ đó. Các ông bà nên suy ngẫm mà làm cho đúng thì hưởng được thực tại.

Lúc đó đã 10 giờ 30, ĐỨC TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất. Tôi nhận thấy rõ trên nét mặt mọi người đều hớn hở như nuối tiếc một cái gì trong Tâm Thức.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Ngày 14 tháng 4 năm Giáp Dần

Chân Phật Tử: Nguyễn Mưu
Pháp Danh Tạng Tích
“Phụng ghi để phổ truyền”

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 13

                                                                   Ngày 25 tháng 2 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

THƯỜNG NHIỄM

Nhân sinh thường nhiễm, bệnh hay lây.

Vì thế cho nên NGHIỆP dẫy đầy.

Bậc Trí khéo phương, tìm lối giải.

Kẻ Khờ vụng tính, đắm cuồng say.

Dù tu vạn kiếp, trên thiên hạ.

Trót nhiễm trăm năm, uổng tháng ngày.

Nếu biết Nghiệp truyền, vương mắc bệnh.

NGÃ lìa Chánh Giác, Đại lương y.

QUÁN THƯỜNG NHIỄM

  • TÁNH PHẬT:

Sáng suốt, vẹn vừa, chưa nhiễm bợn, chiếu trùm khắp bình đẳng, viên dung. Vì sao? Vì Tối Thượng Duy Nhất Bổn Lai Tánh không chỗ chỉ. Khi chỉ đến liền có điểm tựa chỉ cấp Tối Thượng là: PHẬT. Từ thị danh chấp nhận, Bổn Lai Tánh không chỗ chỉ trở thành có điểm tựa, vì vậy nên Kinh Kim Cang nói: THỊ DANH PHẬT CHỚ CHẲNG CHI PHẬT. Bởi lệch lạc lầm lẫn Chánh Giác Tối Thượng như thế, thành thử có viễn tuợng, tự theo viễn tượng vọng thành Phật Tánh.

  • PHẬT TÁNH:

Phật Tánh không khác mấy với Tánh Phật, vẫn chiếu trùm khắp muôn phương, suốt trong vẹn vừa, chỉ vướng nơi viễn tượng mà vọng khởi vô minh, khi có vô minh thời Thường Nhiễm.Chẳng khác nào: Trưởng giả kia đang bình tĩnh sang giàu, Trí Tuệ sáng suốt. Bỗng nhiên khởi nghĩ mơ hồ viễn vong, đi tìm kho tàng bất tận, liền theo viễn vong để thi hành mà sai lạc thực tại Chân mỹ Tánh Phật, đối với Phật Tánh và Tánh Phật cũng thế.

  • CHÚNG SANH GIỚI:Khi Phật Tánh khởi sanh tạo vô minh, Vô minh đặc tánh Thường nhiễm thì liền có giới hạn do đó nên Nghe, Thấy, Biết hạn hẹp, mỗi lẽ sống đến tư tưởng tử sanh thảy đều có hạn lượng, chung nhau thích thú, hoặc sống với nhau một cảnh gọi là ĐỒNG NGHIỆP. Bằng rời nhau không thể chung nhau một cảnh thì là BIỆT NGHIỆP, có chỗ thích nhau bằng lý trí, có nơi bất đồng tư tưởng trở nên chướng đối sanh Nghiệp để chướng nhau, sát hại nhau mà có nơi Thọ Báo, Chánh Báo không đồng gọi là: CHÚNG SANH GIỚI.

Chúng Sanh Giới thường nhiễm tập nhiễm chẳng đồng, chia ra nhiều loại, nhiều kẻ nhiều bậc thọ chủng khác nhau, do bởi nặng nhẹ nhiều ít vọng khởi mà chấp nhận vô minh tạo thành, nhưng sự thường nhiễm thời giống nhau khi mà Chúng Sanh gần gủi, chung đụng nhau, ai cũng sẵn có Nghiệp, ai cũng đương có tập nhiễm của mỗi người, mỗi kẻ và mỗi bậc chung sống lẫn nhau, thế rồi buông nhả cùng nhau trở thành vô minh Pháp Giới cùng nhau bị nhiễm. Lúc Phật Tánh bị nhiễm nhiều ít thì tuổi thọ của Chúng Sanh theo đó mà hưởng thọ. Thời Thượng kiếp tuổi thọ mỗi vị hưởng 80 ngàn tuổi, đến thời Hạ Kiếp tuổi thọ chỉ có 60 lẽ hai tuổi thôi.Bậc Giác Ngộ thấy biết Chúng Sanh Giới thường nhiễm lại thường lây bệnh nhiễm với nhau mà hứng chịu Nghiệp, nên mới tùy thuận tránh né phương tiện giúp đỡ từng căn bệnh, lại thành lập các Pháp Môn tu tập như: Thiền tọa đặng khỏi nhiễm, Cổi Giải Tâm, Phát Bồ Đề Tâm đặng tránh nhiễm. Phá nghi chấp để viên thông không trụ Nhiễm, làm cho bệnh nhiễm vướng mắc tiêu lần, vô minh tan dẹp, Phật Tánh trổ ra mà Tri Kiến Phật Tánh, đến hoàn toàn Giải Thoát. Đó chính là Môn Pháp cần ghi Quán Thường Nhiễm đến không nhiễm mà Giác Ngộ vậy.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Ngày 25 tháng 02 năm Giáp Dần

Chân Phật Tử: Đặng Kim Sơn
Pháp Danh: Tạng Bửu

“Phụng ghi để phổ truyền”

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 14

                                                                   Ngày 21 tháng 4 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

LẦM MÊ CHỊU PHÁP TRIỀN MIÊN…

“LẦM MÊ CHỊU PHÁP TRIỀN MIÊN
DÙ ĐỜI HAY CÕi ĐỘC QUYỀN CHIÊM BAO”

Hai câu trên đây là lời thơ của ĐỨC TĂNG CHỦ TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN .

Lúc bấy giờ vào khoảng 9 giờ 30 sáng, ngày 21 tháng 4 Nhuận âm lịch, năm Giáp Dần, khi ấy tôi đang ngồi tại nhà khâu lại mấy chiếc áo cũ, ĐỨC TĂNG CHỦ gọi về, lấy giấy bút để ghi chép Giáo Ngôn, trước tiên Ngài đọc hai câu thơ trên, Ngài đọc xong trầm ngâm giây lát Ngài dạy:

–Này ông Tạng Tích, khi mà kẻ đã trót lầm lẫn nơi Vạn Pháp, kẻ ấy đã bị sanh tử một cảnh giới luân chuyển quay cuồng cho đến trăm ngàn Cảnh Giới, không ngừng nơi sanh tử. Có một lúc nào đó, họ hồi tâm tu hành mong cầu xuất ly thoát khỏi trăm ngàn cảnh giới đến Tri Kiến Giải Thoát. Nhưng họ chưa biết tỏ rõ đường lối tu cầu pháp Hữu lậu, tu lấy kiến thành Sắc Pháp Định Tưởng thì chẳng bao giờ thoát khỏi lại thêm chìm đắm trong bể mê mà thôi.

Lại nữa, có bậc suy ngẫm biết tỏ rõ các Pháp che lấp lầm tưởng trở thành vô minh, bậc ấy tu cầu pháp Vô Lậu, hỷ xả Cổi Giải Tâm rỗng không tận diệt trở thành vô vi pháp, bởi chưa rõ nguồn gốc tận tường sự tu chứng nên lầm lạc chỗ chứng tu phải bị lâm vào triền miên Phi Tưởng.

Ông cũng nên biết: Tất cả cảnh giới, cho đến các Cõi thảy đều nằm nơi Kiến Thành Định Tưởng mà Chánh Báo hay không chấp nhận Chánh Báo, thảy thảy đều Sắc Pháp, Vô Sắc Pháp của Tam Thiên, đã ở nơi Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, thảy đều là độc quyền chiêm bao mơ mộng thành. Vì lẽ ấy nên chi tu chưa rốt ráo, một khởi ngưỡng vọng, cho mình đã Giác Ngộ đương nhiên tạo thành một giấc chiêm bao thơ mộng hơn chớ chẳng ích chi.

Khi đã lầm vào chiêm bao thì giấc chiêm bao này chồng thêm giấc chiêm bao khác không thể nào thoát khỏi vòng chiêm bao mà toại nguyện Tri kiến Giải Thoát.

Ví dụ: Có kẻ đã lầm lẫn uống phải độc dược say sưa điên loạn, kẻ này ngồi suy nghĩ hoài mong Tiên Thần Cảnh giới bằng sự ảo tưởng của mình phác họa để cầu mong, thì sự phác họa kia nó vẫn đang nằm trong cơn mê Ngũ Độc, chớ nó nào có phải thoát khỏi vòng mê tưởng, khỏi độc đâu? Đối với lầm mê trong các Pháp cũng thế, bậc tu cốt giải mê lầm lẫn bao nhiêu thì sự mê man lầm lẫn nó đến bấy nhiêu. Càng mong Giải Thoát bao nhiêu, thì nó lại càng đi sâu trong vạn tưởng đảo điên bấy nhiêu. Vì sao? Vì còn độc dược mê man, nên suy nghĩ Tư Duy trong ảo tượng, đã ảo tượng nầy liền kế tiếp tư tưởng kia. Cũng như chiêm bao nầy hết, nó liền đưa giấc chiêm bao khác, đã chiêm bao thì sẽ đến với chiêm bao, khi hãy còn Tập Khí sanh tử làm thế nào nó cũng chạy vòng trong sanh tử. Lúc đã hết nguồn sanh tử, thì dù cho chạy trong sanh tử cũng không còn lấy mảy may sanh tử.

Do lẽ ấy, nên các bậc Giác Ngộ quyết tâm giải độc cho kẻ lầm độc, Chư Bồ Tát độ sinh qua từng lớp mê man, Chư Phật Diệu dụng đưa Chúng Sanh thức tỉnh làm cho tất cả thoát khỏi trần lao say đắm. Như Lai hành dụng đưa từng Thế giới tỉnh mê mà trọn hành trong ba thời Phật.

ĐỨC  TĂNG CHỦ Ngài nói xong, ngưng trong chốc lát, Ngài dạy tiếp:

–Này ông Tạng Tích, bậc tu rất cần bậc Thiện Trí Thức Giác Ngộ để khai thông năng sở chấp mê. Bậc Thiện Trí Thức lại ấn chứng làm cho bậc tu Giác Ngộ, thức tỉnh chiêm bao khỏi vòng sanh tử.

Ngài liền đặt câu hỏi để hỏi tôi như sau:

–Này ông Tạng Tích, nếu kẻ đang lầm trong chiêm bao, ở nơi chiêm bao mong cầu Pháp Hữu Lậu hoặc Vô lậu, nơi hai pháp ấy đứng vào một Pháp đặng tu thì Pháp nào có thể đưa kẻ ấy thoát khỏi chiêm bao?

Lúc bấy giờ tôi ngồi suy ngẫm rất lâu chưa trả lời đặng, may sao tôi nhớ đoạn trên Ngài đã khai thị, tôi bèn vái thưa: –Kính bạch Ngài, trong hai pháp, pháp nào cũng không thể thoát khỏi chiêm bao. Vì Hữu hay Vô thảy đều nằm nơi chiêm bao nên không thể thoát được.

Ngài gật đầu khen đúng. Ngài dạy tiếp:

–Ông cũng nên biết, có bậc tu hành nhất tâm kiên cố hằng ngày tạo lấy Đạo Đức Phước Điền, như xây cất Chùa Tháp cho Chư Tăng, Phẩm cúng dường chẳng thiếu sót nơi căn bản kiến thành, sau khi được Chánh Báo Nhân Thiên, an hưởng Công Đức kiến thành ấy.

Lại có bậc tu Hạnh Nhân Thiên, vẫn Công Đức như trên thêm vào đó củng cố kiến thành định tưởng trong Sắc Pháp, một thời gian vì Công Đức dày dặn thành tựu mà sở đắc Thần Thông nơi kiến thành. Bậc ấy có thể biến hóa núi sông, lên từng các cảnh giới, ra vào mặt nguyệt, đánh đổi mây gió, làm thế nào cũng đặng trong phạm vi sắc pháp kiến thành, chớ không thể nào đánh đổi chính Bản Năng của mình trở thành Thần Thông Bảo Pháp của Bậc Thánh.

Nếu có bậc tu từ Hữu Lậu quán kiến thành từng Pháp rõ ràng để cổi giải Tâm không vướng mắc các Pháp, lấy HỮU làm đà tiến, dùng Vô làm Hỷ Xả Chánh Báo Thọ Báo không nhàm chán, được tỏ rõ các Pháp Bình Đẳng. Trong giai đoạn này chưa có gặp Thiện Trí Thức ấn chứng thì Bậc tu ấy tu đến tận cùng cũng phải Định tưởng Sở Đắc Tri Kiến Phật chớ chưa hoàn toàn giải thoát.

Bằng có bậc tu cầu Vô Lậu Hỷ Xả rỗng rang, Tâm quán chúng như huyển không vướng mắc các Pháp, dù vô tình hoặc cố ý cũng phải vướng vào Không Pháp mà thành tựu Vô Vi Pháp Giới. Tu như thế cũng chưa hẳn đã vào với bậc Thánh, chỉ tận cùng Sở Đắc Vô Dư Định Tưởng.

Ông Tạng Tích, ông cũng nên biết, sự tu hành đến mục tiêu Giải Thoát thật khó khăn vô kể, nên Tôi đọc hai câu trên để nhắc nhở mọi người, họ tu thường phải bị:

“LẦM MÊ CHỊU PHÁP TRIỀN MIÊN

DÙ ĐỜI HAY CÕI ĐỘC QUYỀN CHIÊM BAO”

ĐỨC  TĂNG CHỦ Ngài đọc, tôi chép xong, Ngài châm thuốc hít một hơi, trầm ngâm nhìn theo làn khói trắng, ngã lưng nơi chiếc chõng thật lâu, sau Ngài dạy tiếp:

–Ông ngẫm xem, lời tôi dạy trên để các ông nhìn thấy hai pháp Vô lậu cùng Hữu lậu đối với kẻ đang ở trong chiêm bao mộng tưởng, tu đến tận cùng cũng chẳng nên chi. Nếu không gặp đặng Bậc Thiện Trí Thức chỉ đường vạch lối đưa khỏi bến mê thì làm sao Giải Thoát? Theo bài này, Tôi khuyên các Chân Phật Tử hãy tu vào Pháp Môn Chủ Quán “ĐỜI LÀ CHIÊM BAO” làm cho các ông bớt gây nhiều tạo tác Tử Sanh, khỏi mắc miếu lỗi lầm Tự Ngã của Vô Minh.

Các ông khi đã trót lầm lẫn Vô Minh, bị nơi Chiêm Bao vô định, các ông hãy nương theo vết chân của Bồ Tát, nhận lãnh TIN-VÂNG-KÍNH lời Bảo Truyền của Chư Phật để lại mà Tu, bằng mất ba chữ ấy, phải vướng vào Tự Ngã lạc loài nơi sanh tử. Lời Tôi nói ra không phải lợi cho tôi mà chính ra lợi cho các ông từ nay đến hậu thế.

Các ông áp dụng thế nào đúng với tinh thần TIN-VÂNG-KÍNH?

  • Nơi TIN, các ông Tin lời huấn từ chỉ dạy để sửa Tánh, giải Mê Lầm, Tin Pháp Môn dưới sự Chỉ Đạo đặng Tri-kiến Giải-Thoát. Như câu thơ Tạng Tâm viết:

“TA NÊN TỰ LỢI, LỢI THA

CÓ TU MỚI THẤU HIỂU QUA LỜI THẦY”

  • VÂNG: Khi Tin nghe được hiểu được nhiều ít, phải thi hành tu tập, Phát Tâm HẠNH NGUYỆN thực thi lời chỉ giáo của Bậc Chỉ Đạo mới gọi là VÂNG.
  • Bậc tu nếu Tin Vâng trọn, Trí Tuệ liền tăng trưởng, Tâm Thức mở mang, lúc bấy giờ càng tỏ rạng bao nhiêu thì sự TÔN KÍNH tăng trưởng bấy nhiêu. Các ông áp dụng như thế mới đúng với tinh thần của một Chân Phật-Tử PHÁP TẠNG.
  • Bằng TIN bậc Thiện-Tri-Thức là PHẬT để Tôn-Sùng Kính-Lạy cầu xin những chuyện bá vơ trong Tư-Tưởng mong cầu của mình là hơn cả, ngoài ra chưa chịu Thọ-Lãnh Giáo-Ngôn, chẳng xem bài vở để sửa Tánh Tu-Thân thì chưa đến chốn TIN-VÂNG-KÍNH thực thể, thời khó đến Chân Tướng TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.

Tôi mong bài này các ông đọc kỹ, chép nhiều phổ truyền rộng rãi, nó chính là một trọng yếu Kim Chỉ Nam, làm cho Bậc Tu-Hành hết suy tư ảo ảnh đến TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT vậy.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử Nguyễn Mưu
Pháp Danh Tạng Tích
“Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 21 tháng 4 năm Giáp Dần.

 PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 15

                                                                  Ngày 24 tháng 4 năm Giáp dần

GIÁO NGÔN

 CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

Ý TRÍ và LÝ TRÍ

Lúc bấy giờ vào khoảng 8 giờ 30 ngày 24 tháng 4 nhuận, năm Giáp Dần (tức là ngày 14.6.1974). Tôi bước chân về tới Trung Ương Hội Thượng, thấy ĐỨC  TĂNG CHỦ đang nằm trên chiếc chõng vải trầm ngâm. Lễ bái Ngài xong, ĐỨC  TĂNG CHỦ gọi tôi đến, ngồi sát lại một bên, Ngài xoa đầu tôi, nói những lời tâm tình như sau:

– Này ông Pháp Tràng, Tôi nhớ lời ĐỨC THẾ TÔN đã dạy nơi kinh Viên Giác rằng: Đời sau có những điểm khó tu là LÝ CHƯỚNG để đưa đến SỰ CHƯỚNG, họ chỉ biết nghe Pháp, rồi họ dùng tất cả Lý trí của họ để ngăn đón thành thử tu rất chậm tiến. Vì sao? Vì LÝ đã chướng ngại thì SỰ làm đâu có hoàn mỹ. Do đó mà chỉ sống trong lý thuyết giả tạo, mộng tưởng lầm nhận rằng mình Sở Đắc Lý Chân để Thọ Ngã, nên chi phát sinh ra nhiều ngông cuồng làm cho nền Phật Đạo bị ngăn cách, vì thế mà khó chỉ đạo đưa quần sinh đến Tri kiến Giải Thoát. Nói đến lý, một khi lý này chồng lên lý kia, lý kia đè trên lý nọ, nó có thể đem đến Nhân Loại phải suy đồi chỉ vì Lý Trí, nó có thể đưa nhân sinh đến chỗ Thuyết Giả Diệt Vong, nó chẳng khác nào như kẻ loạn nghĩ, cái loạn này đến cái loạn kia rồi sanh ra quá loạn. Lúc đã quá loạn thì họ bèn đứng lên đâm đầu chạy, sa chân xuống hố sâu, ao tù biển khổ.

– Này ông Pháp Tràng, ông cũng nên biết nơi Lý Trí nó có thể dùng được trong một lúc nào đó thôi, chứ nó không thể dùng được trên bước đường dai dẳng của Chân Lý. Cũng như có thể bước đi, nhưng phải nhìn những gai chông, cong quẹo chứ không thể đâm đầu mà chạy theo Lý Trí cuồng quay, nguy cho giữa thời Mạt Pháp. Ông cũng nên biết: Nói về quá khứ của thời Hiền Thánh, Nhân sinh thường dùng Ý Trí để ghép mình nghe lời Huấn Từ. Sau khi thọ lãnh huấn từ thì Ý Trí kia nó đưa lần con người tiến bộ đoạt đến Thánh Ý. Khi đoạt đến Thánh Ý, lúc bấy giờ mới dùng Đại Trí, tổng quát Lý Trí, khai thông Tạng Thức. Đó chính là một con đường mà Chư Tổ đã lưu truyền. Tuy nhiên có chậm tiến nhưng nó có thể đưa con người đến chốn tồn sinh. Vì sao? Vì nó đã xây được nền Đạo Đức Cơ Bản, vì nó biết kính nhường trên dưới, do lẽ mà nó không mất cái nền văn minh tiến bộ.

– Ông Pháp Tràng, ông nghĩ xem sự hiện diện của văn minh thời này, nơi cải hoá tiến bộ của thời nay, họ cũng dùng Lý Trí để cải hóa, dùng Lý Trí đưa loài người tiến bộ, nhưng than ôi! Sự tiến bộ và cải hóa kia nó mất tất cả cái nền Trí Đức, nó mất tất cả căn bản thuần phong, vì vậy mà những cái thèm khát của nghìn xưa ngày hôm nay nó van xin kêu gọi thời xưa và thời nay tái hợp, thì có phải chẳng khác nào một đứa trẻ đâm đầu chạy mãi khi vấp ngã hang sâu, sa vào hố thẳm, ngồi nơi hang sâu, hố thẳm mà nhớ lúc ở mái chòi tranh xưa, đó chính là hiện tình của thời Mạt Pháp này vậy.

– Ông Pháp Tràng, Trong thời Hạ Pháp có tất cả những bậc tu đều ngưỡng vọng chiêm ngưỡng cầu mong ao ước những thời quá khứ trở lại. Có những bậc họ tự thán làm thế nào để đưa nhân sinh sống an nhàn trong thời truyền cổ. Đến nỗi các nước vẫn mong chờ đón nhận Ý Trí cao đẹp thời xưa, báo chí viết ra những bài ca tụng nhắc nhở thời xưa, thuần phong quý đẹp của thời trước, để cho con người làm một tấm gương tự soi lấy kim cổ toàn sanh, tự kiểm lấy mà gìn giữ một trạng thái tồn cư bất biến, cao cả vô cùng. Nhưng than ôi! Con người đang xô đẩy chạy theo guồng máy xoay chuyển, mà Lý Trí mong nó ngừng lại.

– Ông thử nghĩ Lý Trí suy ngẫm nó có đặng chi chăng?

Lúc bấy giờ tôi chấp tay bái và thưa thỉnh:

–Kính bạch ĐỨC  TĂNG CHỦ, rất khó đặng, vì Lý Trí đón chờ nhưng thực thi chẳng có.

ĐỨC TĂNG CHỦ gật đầu, Ngài dạy tiếp:

– Trong thời dạy Đạo của Tôi, Tôi dùng tất cả phương tiện, diệu dụng, hành dụng, Tôi mới viết ra từng Giáo Ngôn, Giáo Lý, Huấn từ để thức tỉnh cho nhân sinh, đang kẹt nơi Lý Trí giữa thời Hạ Pháp. Nhưng thật thà mà nói, có một số chăm coi tu tập cốt phá Mê Chấp, còn đa số thời sống theo Lý Trí Tự Ngã nên phát sanh bừa bãi, thật đúng theo tinh thần Đức Chí Tôn đã dặn nơi Kinh Viên Giác.

– Ông Pháp Tràng, ông cũng nên biết theo lời tôi nói trên, Lý-Trí là Lý-Trí, chứ chẳng phải Lý Trí là mục tiêu đưa đến hoàn mỹ, Bậc mà dùng Lý Trí thì đa số rất hiếm hoi Tâm Đạo. Bậc mà dùng Ý Trí có thể quán xuyến biết được mình và biết được người, biết được cái khổ của mình cùng biết được cái khổ của kẻ khác, nên Ý Trí có thể nó chu đáo cho nền Trí Đức của con người, nó là sự kiểm kê mình và tất cả. Vì vậy nên Ý Trí nó xét trước suy sau, ngẫm trên biết dưới. Khi nó thực hành được Ý Trí VIÊN DUNG, Ý Trí kia soi khắp nhân sinh và vạn vật, nó được gọi là THÁNH Ý. Lúc dùng được Thánh Ý thì đi trên TỰ LỢI và THA LỢI. Bậc đã dùng vào Thánh Ý thì luôn luôn họ biết mình và biết tất cả; biết Nghiệp Chủng, biết Nghiệp Lậu, Biết Nghiệp Chướng họ liền cổi giải để phá sự chướng đối, chấp mê vô minh pháp giới, vào đường Tri Kiến Phật. Khi đặng Tri Kiến Phật họ cẩn thận, dè dặt biết quý mình và quý mọi người, biết tôn trọng quả vị, biết quý nhân vị của kẻ khác. Những bậc như thế họ đang say sưa trên Hạnh Nguyện, giúp nhân loại được tồn sinh, lúc bấy giờ hoàn mỹ liền đoạt đến CHÁNH GIÁC.

Còn những kẻ dùng Lý Trí thì chỉ sống biệt lập, chê bai, khôn dại, họ tự biết lấy mình chứ không biết đến loài người, họ còn làm tác tệ nói ra không cùng trên muôn LÝ của họ.

Hôm nay Tôi đọc, Ông viết những lời Tâm Tình, may ra một hột cát này nó là THỂ HOÁ cứu cánh rộng rãi bao la, kêu gọi những bậc tu nên thức tỉnh, chớ nên dùng cái BIẾT LÝ TRÍ của mình để vấp phải VÔ-MINH PHÁP-GIỚI chính mình, nếu mình có cái biết cũng phải lìa cái biết TỰ-NGÃ, để trọn biết của bậc Chánh Giác.

ĐỨC  TĂNG CHỦ truyền Giáo Ngôn xong, tôi nhận thấy sự hữu ích vô cùng, thật có lợi không thể nghĩ bàn đối với bậc biết dùng Lý Trí, biết áp dụng Ý Trí sáng soi để tiến bước. Với thời Giáo Ngôn này ĐỨC  TĂNG CHỦ đã Huấn Thị cho bậc tu nẻo đường chông gai của Lý Trí, khai sáng bước đường thẳng tiến Ý Trí trở thành THÁNH TRÍ đoạt đến CHÂN LÝ.

ĐỨC  TĂNG CHỦ đã khêu sáng ngọn đuốc Trí Tuệ, ngôn từ tuy thế mà rất có giá trị muôn vàn để cho các bậc tu nhận định được LÝ-TRÍ và Ý-TRÍ, khỏi lầm lạc trong quẩn quanh, hẹp hòi của cái biết Lý-Trí Tự-Ngã, để mở lối khai thông trên đường đến TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.

Tôi cung kính nghiêng mình đảnh lễ Ngài, thọ nhận thời Giáo Ngôn, vâng hành phổ truyền lời Bảo Pháp cho đời này và đời sau làm yếu tố tu tập khỏi sai lạc TÔN-CHỈ NHẤT-THỪA.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Ngày 24 tháng 4 năm Giáp Dần

Chân Phật Tử: Hoàng Ngọc Sơn
Pháp Danh: Pháp Tràng
“  Phụng ghi để phổ truyền”

 

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP16

                                                                    Ngày 28 tháng 4 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

 NẾU BIẾT TUỒNG ĐỜI LÀ NHƯ THẾ…

“NẾU BIẾT TUỒNG ĐỜI LÀ NHƯ THẾ,
THỜI ĐƯỜNG TU TÂM THỂ AN BANG.”

Vào lúc 09 giờ, ngày 28 tháng 4 năm Giáp Dần, tôi về vấn an ĐỨC TĂNG CHỦ tại Trung Ương Hội Thượng. Lúc bấy giờ Ngài đang dùng trà buổi sáng, tôi vái lễ xong, Ngài bảo tôi dùng trà với Ngài, tôi cung kính đáp nhận chung trà của ĐỨC TĂNG CHỦ ban cho. Qua cử chỉ ngôn ngữ bình đẳng, thân mến cao dày của ĐỨC TĂNG CHỦ không thể diễn tả cho hết đặng, tôi nhìn Chánh Điện, hương thơm ngào ngạt nhẹ nhàng, tôi ngồi bên ĐỨC TĂNG CHỦ, trong vẻ mặt Ngài khoan khoái thắm tươi khó diễn tả. Sau giây phút tình cảm kính mến, Ngài bảo tôi ghi chép thời Giáo Ngôn sắp dạy. Tôi đem giấy bút xong Ngài nói:

– Này ông Pháp Thoàn! Đới với những bậc tu hành có một điểm rất quan hệ là oán trách, vì thế nên đứng trước những cảnh của Đời họ chưa đủ Ý-Trí Công-Năng nhận xét để bước qua, nên Tâm thường oán Đời, trách bạn, hờn chị ghét em, chỉ loanh quanh trong vòng trói buộc tạo thành hoàn cảnh, nó không đem lại sự ích lợi cho đường tu tập, nó chỉ vướng mắc trong thuận nghịch cảnh khó tu.

Bậc có Trí Tuệ, đã tìm đặng chơn tánh để tu, bậc ấy quán xuyến đời, quán xuyến Nghiệp Chủng tuồng đời, thì chính bậc ấy cũng phải lắc đầu. Vì sao? Vì không thể nào kể hết phần của mỗi một người có một Chủng Tánh riêng gọi là ý chí mỗi người, khi kết nạp lại nhiều lớp thì nó trở thành tấm tuồng phiên diễn, thuận chăng, thuận nó chỉ là Đời. Bậc mới buớc vào ngưỡng cửa nhà Phật để tu, chưa thấu được nên phải lọc lừa, xa lìa tánh nọ tánh kia, để lướt qua mọi hoàn cảnh thử thách mà biết được tỏ rõ trò đời, đến lúc có đầy đủ hiểu biết thời chừng ấy mới nhận thức được, mỗi bậc có một tánh cố định trở thành Giới Sinh, nhiều Giới Sinh đụng chạm riêng và chung nên có phiên diễn. Đó là lẽ dĩ nhiên nó phải như thế.

Nếu bậc Giác thì chẳng nói chi, bằng kẻ chưa Giác thì thường vấp phải, sanh ra than oán trách phiền, nên Phật dạy CỔI-GIẢI-TÂM, nương theo cổi giải để tu một thời gian Tâm khỏi ràng buộc, thì đương nhiên mức tu hành tiến bộ, có tiến bộ mới biết được đời nó như thế, chủng tánh của chúng sanh tánh nó như vậy, thì liền đặng Thanh-Tịnh-Tâm an nhiên tự tại.

Nói đến bậc trên đời chưa biết, bậc ấy tìm lẽ sống lăn lộn ở nơi đời, có trí biết nhận xét lối sống của mình cùng sự sống của kẻ khác để suy nghiệm, thời đương nhiên vẫn có cái khôn hơn người, những bậc làm như vậy cũng là hiếm có, vì đã hiểu đời.

Còn bậc tu Đại Thừa thượng thặng thường quán nơi thân tâm mình, để đem so sánh Đức Tánh người khác, Thiệc ác, tốt xấu của mỗi kẻ, cốt biết mỗi người mỗi kẻ thảy đều có một định hướng, nhưng kết chung thảy đều là một Chủng Tánh Chúng Sanh Giới.

Vì sao gọi là “Chủng Tánh Chúng Sanh Giới”?

– Vì nó chỉ suy nghĩ trong một giới hạn rộng hẹp lớn nhỏ để cố định, nên gọi nó là một Chủng Tánh Chúng Sanh Giới.

– Này ông Pháp Thoàn! Vì sao lại có những cảnh thuận nghịch gay cấn đụng chạm nhau để sinh ra thương ghét thù hận, phải vay trả trả vay?

Vì cá tánh tự ngã nơi mình, khi gặp nhau thì đồng đẳng vui thích, bằng bất bình nhau thì sanh ra nghịch. Bậc Trí biết rõ Chủng Tánh của Đời nó như thế nên không hờn oán, Tâm bình đẳng, thành thử Thân Tâm an lạc, từ trạng thái thọ chủng nơi Chúng Sanh Tánh trở thành Bồ Tát Tánh vậy.

ĐỨC TĂNG CHỦ dạy đến đây, Ngài lặng thinh vài phút, nhìn về Chánh Điện bảo tôi đốt một cây hương. Ngài dạy tiếp:

– Ông thử suy ngẫm xem, từ thời quá khứ đến thời này, sử sách đã ghi chép bao nhiêu Thi Văn, Thánh Hiền, ca tụng chẳng biết bao nhiêu Anh Hùng, Liệt Nữ, đã làm vẻ vang cho đời, đã giúp cho đời rất nhiều rạng rỡ. Ông nhìn lại thời này đã có ai làm cho đời được như thời trước chăng? Lúc bấy giờ tôi chưa kịp thưa thỉnh thời Ngài đã nói:

– Theo tôi nghĩ chắc chắn cũng phải có những vị đã làm như thời trước, đang thi hành những gì mà thời trước đã làm, đến nay vẫn làm, có thể còn làm hơn thế nữa. Nhưng nào ai nói lên trong lúc những vị ấy đang theo đúng mục tiêu cải tiến hiện tại? Đời và nhân sinh vẫn biết thế, nhưng họ để lại ca tụng tán thán lúc mà những vị ấy mãn phần hóa vãng cũng như các vị tiền bối xưa nay vẫn đi một lối.

Cũng như thời Đức Bổn Sư, Ngài đang còn tại thế, Ngài vẫn truyền giáo các nơi, từ nơi này đến chốn nọ, Ngài còn sống chung với nhân sinh, hòa đồng với đời. Ngài phải chịu những gì mà đời đã nghi chấp lầm nhận, Ngài đã nói những gì mà tất cả Đồ Chúng đang dèm pha được thỏa mãn, ái kính.

Sau khi Ngài làm tròn, Ngài tự đến khu rừng TA-LA Nhập Niết Bàn nơi cây SONG THỌ, nào có nhập Niết Bàn trong ngôi chùa nguy nga rạng rỡ như ngày nay đang phụng thờ.

Tôi nói ra đây cốt để lại cho những bậc tu và người đời nhận định đặng khỏi vọng tưởng mong chờ rằng đời sẽ tôn sùng ta như tôn sùng ĐỨC CHÍ TÔN BỔN SƯ ngày trước, không bao giờ có như thế. Vì sao? Vì chủng Tánh tuồng đời là như thế. Miễn làm tròn Hạnh Nguyện, thực hành đứng đắn với Chân Tôn Chánh Giác. Đến giai đoạn hóa vãng nhập Niết Bàn, thời sau mới có như thế để hưởng đồng đẳng xưa nay.

ĐỨC  TĂNG CHỦ Ngài dạy thời pháp xong, tôi nhận định được tất cả những ảo tưởng hoài mong của chính tôi cùng nhiều bậc tu hành vướng phải nơi tuồng Đời, chớ nào ngờ đâu biết tỏ rõ Đức Tánh người mà tự biết được Tánh mình, đó chính là con đường: PHẬT PHÁP BẤT LY THẾ GIAN GIÁC.

Chẳng khác nào tất cả loài cây trái, hoa quả thảy đều nương theo lòng đất mà thành tựu lấy. Nghĩ đến đây tôi mới nhớ lại lời của ĐỨC VĂN THÙ Ngài dạy:

– “Tất cả đều là PHẬT PHÁP, tất cả đều là hạt giống của NHƯ LAI, nếu biết được tất cả CHỦNG TÁNH, không lầm theo Chủng Tánh, đó mới là bậc biết dùng thuốc của NHƯ LAI”. Đối với thời pháp này thật là vi diệu.

Hôm nay tôi được nhân duyên phụng ghi thời pháp của ĐỨC TĂNG CHỦ, tôi rất sung sướng và thành kính hồi hướng tất cả Công Đức để xây dựng BẢO PHÁP cho đời này và đời sau nương theo tu tập.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Ngày 28 tháng 4 ( Nh ) năm Giáp Dần

Chân Phật Tử Hồ Sĩ Đạt
Pháp Danh: Pháp Thoàn
“Phụng ghi để phổ truyề

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 17

                                                    Ngày 05 tháng 5 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

TỪ TÍN NGƯỠNG ĐẾN THÀNH TÂM

Thời Pháp này ĐỨC  TĂNG CHỦ khai thị ngày 25 tháng 6 năm 1974 tức là ngày mùng 5 tháng 5 năm Giáp Dần nhằm ngày Chủ Nhật, buổi khai thị thường lệ.

Trong buổi lể đầy đủ Tứ Chúng tề tựu tại Trung Ương. Buổi lễ hôm nay tôi nhận thấy rất trang nghiêm vì được sự nhắc nhở của Ban Hộ Đạo nên các tín đồ hưởng ứng dâng lễ hương đăng cúng dường ngôi TAM BẢO thật là trang nghiêm khó diễn tả được. Trước giờ đăng đàn khai thị, một tiếng chuông reo, tất cả Tứ Chúng Thân, Tâm, Ý thảy đều thanh tịnh để mừng đón ĐỨC TĂNG CHỦ giáng lâm khai thị. ĐỨC TĂNG CHỦ từ Tịnh thất bước ra an vị nơi Bửu Tòa xong đâu đấy cuộc lễ bắt đầu. Hành lễ xong Đức Tăng Chủ khai thị rằng:

– Này các ông cũng nên biết ĐẠO PHẬT lấy TÂM làm gốc, do lẽ ấy mà tất cả những bậc tu hành thảy đều dùng TÂM, Điều Ngự Tâm, Thành Thực Tâm, Tha Thiết Tâm cầu lấy Đạo Vô Thượng mà TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.

Nói đến Tâm để mà tìm Tâm thật ra khó chỉ được cái Tâm, do lẽ ấy bảy năm về trước tôi đã viết TƯỚNG TÂM trong bài Giáo Pháp tập 2, tôi chỉ thẳng câu: “TƯỚNG LÀ TÂM CỦA CÁC ÔNG”.

Các ông cũng nên biết nơi điểm chỉ của tôi thực thể chu đáo vô cùng, khi mà các ông muốn đem cái Tâm của các ông thì lấy cái gì bày biện để biết các ông đã có Tâm. Nó chỉ lấy chỗ Tín Ngưỡng và Thành Tâm để làm tiêu biểu cho Tâm, nên sự Tín Ngưỡng nó rất có giá trị đối với bậc tu, sự Thành Tâm nó là một nền tảng Đạo Hạnh để trưng bày cái Tâm của các ông, nó có một hiệu quả vô cùng quý báu để chứng tỏ các ông tu tập từ THÀNH-TÂM đoạt BẢN-THỂ-TÂM mà HOÀN GIÁC.

Các ông cũng nên biết, tôi kể thời quá khứ, trong một buổi Đại Lễ ĐỨC THẾ TÔN khai thị; Ngài khen ĐỨC VĂN THÙ Đại Giác, đồng thời Ngài dặn Tứ Chúng rằng: Các ông cũng nên biết, Trí Tuệ của ĐỨC VĂN THÙ thật là Siêu Đẳng, Ngài chính là Mẹ Đẻ của Chư Phật.

Lúc bấy giờ, ông A-NAN trịch vai thủ lễ chiêm ngưỡng thưa thỉnh như sau:

– Bạch ĐỨC THẾ TÔN! ĐỨC VĂN THÙ do nhân duyên gì mà ngày nay Trí Tuệ đoạt đến Đại Giác như thế, xin Ngài nhủ lòng thương cho chúng con đời này và đời sau được biết.

ĐỨC THẾ TÔN dạy: Này A-NAN! Ông cũng nên biết, từ đời quá khứ vô lượng kiếp, ĐỨC VĂN THÙ có sự Tín Ngưỡng Thành Tâm tô đắp tượng Phật, sùng tu ngôi Tam Bảo, qua đời sau lại gặp NHIÊN ĐĂNG PHẬT ra đời, Ngài vẫn tô điểm sơn phết các tượng Phật, dâng lễ, dâng đèn lưu ly, được thọ ký Chánh Báo ĐỨC và TRÍ lưỡng toàn, cho nên ngày hôm nay mới được như thế. Khi Đức Thế Tôn giảng xong, Tứ Chúng hướng về Chân Tôn chiêm ngưỡng lễ bái, tán thán đường Thành Tâm và Tín Ngưỡng kết quả khó nghĩ bàn.

ĐỨC TĂNG CHỦ ngưng lại trong giây lát, Ngài dạy tiếp:

– Lại nữa, cũng giữa thời BỔN-SƯ THÍCH-CA MÂU-NI-PHẬT khai thị nơi hội trường, có một vị Bồ Tát sở đắc ĐẠI-ĐỊA BỒ TÁT, theo kinh điển Đức Thế Tôn đã nói thì vị Bồ Tát này thường chiêm ngưỡng lễ bái Tăng Ni và cung kính nơi Bảo Pháp. Có một hôm vị Bồ Tát mới suy ngẫm: Ta tin Phật, Tin Pháp, Tin Tăng, Ta lấy sự Thành Kính Tín Tâm để làm cơ bản thì ta phải nên Nguyện làm những gì cho Thân này tiêu biểu sự Thành Tâm. Từ ấy vị Bồ Tát mới làm Công Đức đưa đò rước khách, lặt lượm những cành gai hay dọn đường cho các Tăng Ni đi khỏi vướng, trong một thời gian Hạnh Nguyện trọn Tín Ngưỡng Thành Tâm, Phẩm Công Đức sung mãn. Qua đời sau gặp ĐỨC PHẬT ra đời, vị Bồ Tát lo chăm sóc tứ sự, đắp chăn, trải y, lót chiếu cho Phật đi, được thọ ký, vì lẽ ấy nên ngày hôm nay mới sở đắc ĐẠI-ĐỊA BỒ TÁT.

Đến đời Tôi, Tôi đã có sẵn một tâm tình Tín Ngưỡng, có sẵn một Thành Tâm lễ bái, lại có sẵn một đức tin trọn vẹn. Nhờ thế nên Chư Hộ Pháp, Chư Long Thần, Chư Bồ Tát Ma-Ha-Tát mới giúp đỡ, Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới Hộ Trì tán thán. Tôi chủ quyết chỉ dạy cho Tứ Chúng ĐỨC TRÍ SONG TU mà thành tựu Tri Kiến Giải Thoát. Hai thời Hạnh Nguyện của hai Vị Đại Bồ Tát tôi đã nói trên để chứng minh Đạo Hạnh Tín Ngưỡng, Thành Tâm Cúng Dường Lễ Bái, nó chẳng phải là Mê Tín vô ích đâu, nó rất hữu ích cho Đức Trí Trang Nghiêm thành tựu trọn Giác.

– Này các ông, tôi thường khuyên các ông Tâm Chí nên hướng thượng. Bậc tu biết hướng thượng bãi bỏ những nhỏ nhen lề lối sống vặc mắc của Đời, đó chính là nương theo vết chân Bồ Tát. Các ông có Tín Ngưỡng mới có Thành Tâm, đã Thành Tâm liền tỏ rõ Tâm Thông thành tựu Giác Nguyên, đó chính là bậc biết tạo Đức, nương lời căn dặn Bảo Truyền của Chư Phật. Trong buổi lễ chí thành của các ông, tôi dạy các ông, đồng thời tôi khuyên nhủ Tứ Chúng nên Tín Ngưỡng để Tín Thành, nên Thành Tâm đoạt đặng Tâm Thành, biết tỏ rõ BẢN-THỂ-TÂM mà TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.

Tứ Chúng ai nấy vui mừng vì đã nhận được sự TÍN NGƯỠNG hữu ích, TÍN THÀNH có lợi, ĐỨC TRÍ SONG TU hoàn lai GIÁC NGỘ thật khó nghĩ bàn. Tất cả đồng đứng lên chiêm ngưỡng lể bái cung tiễn ĐỨC TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất.

TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG

Ngày 5 tháng 5 năm Giáp Dần

Chân Phật Tử: Hoàng Ngọc Sơn
Pháp Danh: Pháp Tràng
“Phụng ghi để phổ truyền”

 PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 18

Ngày  18 tháng 5 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

ĐẠO PHẬT CHÍNH THẬT SIÊU ĐẲNG

Thời Pháp này ĐỨC  TĂNG CHỦ đã khai thị tại Trung Ương ngày 18 tháng 5 năm Giáp Dần, Tức ngày 7 tháng 7 năm 1974 lúc 10 giờ 20. Như thường lệ, tôi về đến Trung Ương bái chào ĐỨC TĂNG CHỦ xong, Ngài nhắc lại thời pháp Ngài đã khai thị chủ nhật vừa qua, đồng bảo tôi đem bút giấy chép ghi, giữa sự hiện diện có ông Pháp Tràng, Pháp Khả, Bà Tạng Trình cùng một vài tín chúng.

Ngài dạy:

– Các ông nên biết, Đạo Phật chính là một mối đạo rất siêu đẳng. Vì sao Siêu Đẳng? Vì mục tiêu của Đạo Phật cốt đưa mọi người đến Tri Kiến Giải Thoát, do lẽ ấy mới là Siêu Đẳng. Bởi bậc tu hành chưa hiểu biết được đường tu, hai là đang còn lầm lẫn nghi chấp lưng chừng mà an trụ. Nhưng Đạo Phật đối với bậc nào tu cũng có lợi cả. Bậc có lợi tạo nên Phước Đức, người có lợi tạo hiền lành, bậc có lợi tu tập học hỏi giải được sự lầm lẫn mê chấp nơi mình mà chính mình chưa được biết. Bậc Đại Trí tu tỏ rõ rốt ráo Tri kiến Giải Thoát, như thế đủ biết Đạo Phật đem lại sự ích lợi toàn diện.

Thế nào là giải sự lầm lẫn nơi mình? Chính ở đời mỗi người đều có một cá tánh xấu xa mà mình không đặng biết, khi đã không biết thì gọi là lầm lẫn, vì lầm lẫn nên chống trả nhau, thù ghét nhau sinh ra nghiệp. Khi bước vào tu Phật buổi ban đầu là sửa tánh, suy ngẫm bãi bỏ những đố tật mà mọi người không ưa thích, để tạo nên Đức Tánh làm cho tất cả những người chung quanh mình mến kính, thì Tâm của mình Thường Lạc An Vui. Bằng bậc tu chẳng sửa tánh, không bãi bỏ Đố Tật thì chẳng bao giờ tiến bộ, không bao giờ Tâm mở mang Trí Tuệ, cũng chẳng có được Đức Tánh tốt, Tu như thế dù có tu một trăm kiếp cũng không lấy được một ngày tu vậy.

Ví như có kẻ cá tánh ngang tàng tự cao, đối với mọi người thảy đều không ưa thích, đối với tất cả tự cho mình khôn ngoan đâm ra khinh khi chống báng. Lẽ dĩ nhiên kẻ ấy bị cô lẻ mức sống cô đơn, tầm thường, sanh buồn khổ, đó chính là sự lầm lẫn cá tánh ngang tàng, tự cao mà nó phải như thế. Nếu kẻ kia biết thì liền bãi bỏ cá tánh đó đi, đương nhiên nhiều người mến yêu, sống với lối sống đầy đủ khôn ngoan tiến bộ.

Lúc bấy giờ ĐỨC TĂNG CHỦ ngưng một chốc, Ngài dạy tiếp:

– Lại nữa, có người cá tánh hay dòm ngó để chỉ trích, vặc mắc, xâm xỉa, đem công việc kẻ kia nói cho kẻ nọ nghe. Chính những đố tật, cá tánh nguy hại họ đã tự tạo sự lầm lẫn, họ nào có hay biết họ tự làm cho tất cả những người chung quanh phải xa lánh, họ làm cho những bậc biết đối xử với họ phải ghê sợ. Đương nhiên người ấy một thời gian sinh ra phiền trách mọi người, phát tâm buồn khổ chán chê, đã không ích lợi chi mà chính tự buộc lấy phiền não. Nếu người ấy biết cá tánh xâm xỉa vặt mắc xấu xa thương tổn cho họ, họ liền lìa bỏ, tự nhiên họ sống đầy đủ thoải mái vui tươi.

Hai thời pháp trên Tôi đã nói, thời các ông suy ngẫm cá tánh, đố tật có tổn hại đến con đường tu và thân của các ông chăng?

Chúng tôi đồng thưa: – Thật tổn hại vô kể.

Ngài dạy tiếp:

– Bậc bước vào ngưỡng cửa nhà Phật để tu, vì chưa biết cá tánh xấu xa làm tổn hại đến thân tâm, lại làm cho mỗi ngày thêm mang nghiệp, đó chính là bậc chẳng biết bãi bỏ đố tật cá tánh nơi mình. Vì nó nguy hại như thế nên Phật Đạo mới khuyên can giải trừ những con rắn độc trót lầm mang để tạo lấy Đức. Bậc biết tạo lấy Đạo Đức chính là bậc biết tu đúng, đi đúng trên con đường Phật-Đạo. Đức chính nó là một nền tảng làm cho mọi người ái kính, thân tâm mình nhẹ nhàng vui đẹp. Vì vậy nên nhiều bậc tu hành thường đem những điều lành ra giảng giải, đem những tiền bạc lụa là để bố thí, cốt gây tạo cho thân tâm mình tròn Đức Trí.

Khi bậc tu hành đã biết giá trị sửa tánh, tạo Đức, liền củng cố tu tập làm thế nào cho Đức Trí kia trọn vẹn, trùm khắp bất diệt, lại biết sử dụng Trí bảo tồn Đức nơi mình giúp cho tất cả được hưởng Đức Trí bao dung. Vì lẽ ấy nên mới phát Nguyện làm phẩm Công Đức cúng dường để Công Đức ấy đến chân thành Đức Trí.

Này các ông nên biết, hiện tình ngày nay bậc chưa biết tu, chưa biết xem kinh, thường xem kinh dùng Lý Trí, hãy còn chứa đựng tham vọng nơi mình cho rằng mình đã hiểu biết kinh sách, lời Phật dạy mà thụ chấp mỗi một đoạn kinh nào để tu, chớ chẳng sửa tánh tu tập, Thiện căn, tạo lấy Đức, độ lầm mê, Trí Đức song đồng đặng căn bản Trực Giác. Nên chi trên con đường tu thường vướng vào lời kinh để chấp tự, vô tình hay cố ý chính mình đem lời Tối Thượng kia đặt vào pháp giới ngộ nhận, làm cho Đạo Phật kém Siêu Đẳng.

Đối với Tôi, chủ yếu giảng giải những điểm sai lạc đặng đưa các ông tu hành Tâm Thông Trực Chứng, đó là đúng với Chân Truyền Giác Ngộ phá mê lầm vậy.

ĐỨC TĂNG CHỦ dạy đến đây thì vừa có ông Pháp Bang đến lễ bái, xong đồng ngồi lại một bên, Ngài dạy tiếp:

– Này các ông, đối với sự Sửa Tánh nó rất cần thiết cho kẻ tu, vì sao? Vì khỏi va chạm, khỏi chống báng nhau, tu Lục Hòa tạo Đạo Đức. Khi có sẵn Đạo Đức, Đức ấy dung thông liền có trí tuệ để phát Bồ Đề Tâm Nguyện tu Phẩm Công Đức. Công Đức có nghĩa là dùng Công Năng tu tập nơi mình, đem sự lợi ích hiểu biết của mình cứu giúp hoặc giúp đở cho mọi người, lúc xảy đến những chuyện trái ngang, Tâm không phiền trách, đó chính là Công Đức. Lại nữa, từ cử chỉ đến lời nói phải thanh nhã tốn từ để khỏi tổn Đức, để Bảo Trì quả vị, Bảo Trì Phẩm Công Đức gọi là ĐỨC TRÍ SONG TU. Khi Trí Đức biết xử dụng giúp đỡ cho mọ người cổi giải đố tật, cá tánh thời Đức Trí kia được Dung Thông, Tỏ Tánh Giác Ngộ, Từ Hành Dụng đứng đắn, Diệu Dụng Siêu Đẳng, đó chính là Bậc Siêu Đẳng vậy.

Nói đến Siêu Đẳng, duy chỉ có Bậc Đại Giác mới công nhận hay hiểu thấu phần nào, ngoài ra những bậc tập tò sửa Tánh, tập tò tạo Đạo Đức không thể nào hiểu đặng Diệu Dụng Siêu Đẳng. Vì sao? Vì Bậc Siêu Đẳng chẳng khác mấy với vị Đại Lương Y, biết cách chữa bệnh, biết cách cho thuốc, biết từng tánh dược của mỗi vị thuốc, chữa đúng với căn bệnh lầm lẫn của Chúng sanh. Còn bậc đang tu tâm sửa tánh hãy còn vướng mắc nơi bệnh thì làm sao biết được các vị thuốc ngọt bùi, hương vị tánh chất, do lẽ ấy nên không thể nào chỉ nói hoặc nghĩ bàn đến Bậc Siêu Đẳng đặng.

Vì khó nói, khó chỉ nên Phật đã ví dụ như sau đây để các bậc tu hành cố tiến hơn là để nghi chấp.

Phật nói: Trí phàm phu chỉ biết nơi phàm phu, Trí Thinh văn hay Duyên Giác, A La Hán chỉ biết nơi Thinh Văn Duyên Giác, A La Hán, Trí Bồ Tát biết với hàng Bồ Tát. Còn Phật mới biết Phật mà thôi. Do sự hiểu biết Trí Tuệ lầm lẫn Nghiệp Thức khác nhau thì làm sao hiểu nổi Hành Dụng của Bậc Siêu Đẳng? Bậc tu hành duy nhất Tin Vâng đặng lần theo gót chân tu tập mà sở Đắc đến vẹn toàn Siêu Đẳng

Các ông thử nghĩ xem, mỗi một người, một bậc, một kẻ thảy đều có Cá Tánh khác nhau, nên sự lầm lẫn Ý Trí sai nhau. Bằng nói trăm vạn người, trăm vạn kẻ, đến trăm vạn bậc, cứ mỗi cấp bậc như thế thì có trăm vạn kẻ, đồng với trăm vạn người cá tánh chẳng giống nhau thì làm thế nào kể cho hết được những sự lầm lẫn cá tánh của chúng sanh giới? Thế mà bậc Siêu Đẳng chỉ bày dìu dắt đến Tri Kiến tất cả không thiếu sót, vì có như thế nên có câu: Chúng sanh đa bệnh thời Phật Đa Hành.

Vì có Siêu Đẳng tuyệt mỹ vi diệu như thế nên ĐỨC QUÁN THẾ ÂM NHƯ LAI mới Diệu Dụng hóa thể trùm khắp gọi là TỐ NÔ ĐÀ LA NI PHẬT, bởi hộ trì giúp đỡ chúng sanh như thế nên Quán Thế âm Bồ Tát mới hóa thân ra từng người, từng kẻ, từng Bậc để chỉ dạy và thuyết pháp.

ĐỨC  TĂNG CHỦ dạy xong, Ngài khuyên:

– Tôi khuyên các ông. Trên con đường tu Phật rất Siêu Đẳng khó nghĩ bàn, các ông nên yên phận bảo trì Đức Tánh để mà tu, khi các ông khởi sinh nghi chấp, liền phá nghi chấp. Các ông chớ nên dèm pha nói xấu bạn, nói xấu người, cùng nói xấu các Tôn Giáo bạn, dù cho các ông có bị kẻ nói xấu các ông, các ông nên Hỷ Xả để bảo trì Đạo Đức, hôm nay các ông có mang xấu thì ngày mai các ông đặng tốt, ngày nay các ông có dại nhưng ngày mai các ông có cái khôn Siêu Đẳng, miễn sao Chân Thiện hoàn lai là đặng.

ĐỨC  TĂNG CHỦ dạy xong, chúng tôi vui mừng vô kể đồng đảnh lễ phụng hành.

Sau thời Giáo Ngôn khai thị của Ngài, thân tâm chúng tôi cảm thấy nhẹ nhàng lạ thường, như vừa giải bỏ những Nghiệp Lậu trói buộc từ bấy lâu nay. Những lời vàng ngọc của Đức Ngài khai thị thật quý giá vô kể, như những liều thuốc thần dược trị lành các bệnh nghi chấp lầm lẫn, giúp cho các bậc tu thời này cùng thời sau nương nhờ soi tỏ tu tập đặng vào con đường Siêu Đẳng của Phật Đạo mà Tri kiến Giải Thoát toàn vẹn.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Ngày 18 tháng 5 năm Giáp Dần

Chân Phật Tử: Nguyễn Hữu Lịnh
Pháp Danh: Tạng Nguyên“Phụng lệnh ghi chép”
ĐỨC TĂNG CHỦ điểm sửa để cho phổ truyền.

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 19

Ngày 01 tháng 6  năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

NÓI VỀ VẤN ĐỀ PHÁP GIỚI

Lúc bấy giờ vào khoảng 16 giờ chiều ngày mồng một tháng 6 năm Giáp Dần, tại Trung Ương Hội Thượng, tôi đang xem lại hồ sơ nhập đạo của các Tỉnh Hội gửi về, trong lúc ấy đồng có sự hiện diện: ông Pháp Quyên, cô Diệu Hương cùng một vài Tín Chúng. Vừa khi đó, ĐỨC TĂNG CHỦ từ Tịnh Thất bước ra Chánh Điện, chúng tôi đồng đứng lên lễ bái, Ngài tiến đến Chánh Điện thắp ba nén hương, Ngài bảo tôi lấy giấy bút để chép thời Giáo Ngôn. Sau khi ĐỨC TĂNG CHỦ đã an tọa trên chiếc chõng vải, chúng tôi đồng ngồi lại một bên, trong giây phút yên lặng Ngài nghiêm trang nói:

– Các ông hãy chú ý nghe, hôm nay tôi nói về VẤN ĐỀ PHÁP GIỚI.

Ngài dạy:

– Này các ông cũng nên biết, khi trót lầm mê từ Thế Gian Giới đến Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, thảy đều bị nơi giới hạn quy định không sai chạy. Vì có quy định giới hạn không sai chạy như thế nên mới mong cầu được Chánh Báo và Chịu Báo từng Cảnh Giới không đồng.

Pháp Giới khi là Chúng Sanh Giới đã Thọ chủng để bị sanh trong bốn loài là Noãn Sanh “loài trứng”, Thai Sanh “loài người”, Hóa Sanh “Tiên, Thần” cùng Thấp Sanh “loài trùng dế”, đều bị nơi quy chế của Pháp Giới, Cảnh Giới. Nếu nói chung là Pháp Giới, nhưng chia riêng trong và ngoài thì nó là Tâm Pháp và Tướng Pháp.

Nơi Tướng Pháp chịu sự nhất định giới hạn, thước tấc, ngang dọc, tốt xấu, cũng như Tướng Pháp thân thể của loài người thì bề cao là một thước bảy mươi lăm phân, chứ không thể mong muốn cho Tướng Pháp cao một thước tám mươi lăm phân hoặc hai thước được.

Về tất cả vật dụng, mỗi mỗi Tướng Pháp hãy đều cân xứng tương song với nhau, đó là lẽ đương nhiên của Tướng Pháp đã bị trong vòng Giới Hạn, quy chế của nó. Vì vậy nên khi bậc tu hành bước vào làm nhà Sư hoặc Thượng Tọa đều có một trạng thái cử chỉ quyết định, nghi luật đứng đắn với một nhà Sư, một Thượng Tọa chứ không thể nào làm cho Tướng Pháp, cấp bậc của mình bị sai chạy. Nếu sai chạy gọi là mất hạnh.

Bằng một giáo sư hay một thương gia hoặc làm một Tri Huyện thì Tướng Pháp phải nghiêm chỉnh đứng đắn với quan cách Tri Huyện, ăn nói cử chỉ đúng với thương gia hay hạnh kiểm như giáo sư. Nếu làm sai Tướng Pháp thì đương nhiên ông giáo sư bị khinh rẽ, ông thương gia bị lỗ lã, ông Tri Huyện bị bất lực trị dân, đó là điều của Tướng Pháp quyết định như thế.

Tướng Pháp là một pháp rất có giá trị cho bậc tu tròn hạnh, rất có giá trị cho lúc Sở Đắc Chân Lý được khang trang. Đối với Tướng Pháp nó ít cần giữa bậc tu trong giai đoạn Phá Nghi Chấp nhưng nó rất cần cho thành tựu Quốc Độ. Tướng Pháp nó cũng gọi là Đạo Hạnh. Nó cũng có thể là Niết Bàn khi mà đối với bậc đã biết dụng.

Còn về phần Tâm Pháp nó vẫn có giới hạn trong một lúc suy nghĩ, trong một khi kiểm điểm từng chặng cá tánh tốt xấu, hư nên, qua các Pháp Giới Nghi Chấp. Nó thuộc về Trí Tuệ, nó chẳng khác nào một con chim én kia bay trên đám rừng, qua từng Pháp Giới, tất cả và tất cả Tâm Pháp nó di chuyển cùng khắp Tướng Pháp và Pháp Giới, nhưng nó phải có mục đích qua từng Pháp Giới để tỏ soi thật biết không an trụ Pháp Giới mà Giác Ngộ.

Khi Tâm Pháp nó bị đóng khuôn vào Pháp Giới thì nó thọ chấp. Lúc nó soi biết khắp từng Pháp Giới để viên thông gọi là Hành Thâm Pháp Giới đến Bát Nhã Trí.

Nếu Tâm Pháp kia nó thọ chấp để an trụ trong một thời gian Ứng Hiện minh định rõ ràng thì lúc bấy giờ nó không còn là Tâm Pháp mà gọi là Tướng Pháp.

Không khác mấy với kẻ dùng Tâm Pháp đang suy nghĩ tính toán xây cất tòa lâu đài. Trong giai đoạn suy nghĩ có thể di chuyển thay đổi Tâm Pháp được, nhưng lúc đã thành tòa lâu đài thì tòa lâu đài kia phải có thước tấc, khuôn khổ ngang dọc, không thể nào thay đổi được. Tâm Pháp chính là một ngọn đuốc để lướt qua từng Pháp Giới Cảnh Giới.

Tướng Pháp bị cố định quyết định đương nhiên thành Pháp giới.

Đến đây ĐỨC  TĂNG CHỦ ngừng lại trong giây lát, Ngài châm thuốc hút… Lúc ấy, ông Tôn Giả Pháp Khả cũng vừa bước vào, lễ bái Ngài, đồng ngồi lại một bên. Trong giây lát Ngài nhìn chúng tôi và nói tiếp:

– Này các ông, đối với các ông trót đã lầm mê bị làm Chúng Sanh Giới, ngày hôm nay tu tập chủ yếu mong cầu làm sao được Tri Kiến Giải Thoát.

Bậc tu Tri Kiến Giải Thoát thì nên dùng Tâm Pháp để đào sâu tỏ biết các Pháp Giới của các ông đang lầm và nhiều kẻ bị lầm. Chẳng khác nào con chim én kia nó bay khắp trong khu rừng, qua suối, qua đèo, để nó thật biết suối đèo; qua từng lớp chim đang nằm trong Pháp Giới, cốt yếu chim én khỏi an trụ trong khu rừng để làm chủ Pháp Giới mà trở về với hướng của nó.

Các ông cũng nên biết, Tâm Pháp đối với bậc tu hành có quyền suy nghĩ vượt tầm các Pháp Giới, nó có quyền định đọat tất cả Chân Thiện Mỹ hoàn lai cho nó.

Tâm Pháp biết sử dụng thì gọi là tỏ tánh. Khi tỏ tánh thì Tướng Pháp kia nó nằm trong Đức Trí. Khi nó nằm trong Đức Trí nó không vướng mắc trong Pháp Giới. Vì sao nó lại không vướng Pháp Giới? Vì nhờ Tâm Pháp viên thông để nguyện độ chúng sanh.

  • Pháp Giới chính là Chánh Báo Thân Phật.
  • Tâm Pháp nó là Pháp Thân Phật.
  • Tướng Pháp là Ứng Thân Dụng Độ.

Vì lẽ ấy nên Phật mới dạy Chư Bồ Tát tu tập Hành Thâm Pháp Giới để thâm nhập Pháp Giới, biết chứng bệnh Thọ Chấp của Tiên Thần, các Cảnh Giới, khỏi lầm hết mê, Đức Trí lưỡng toàn mà Giác Ngộ vậy. Đến đây Ngài dứt lời.

Chúng tôi vừa được thọ lãnh thời Giáo Ngôn khai thông Tâm Pháp mà lâu nay có lúc đã từng vượt qua từng Pháp Giới, thông suốt muôn phương, cũng có khi bị vướng mắc trong các pháp giới nhỏ hẹp vì lầm Tướng Pháp.

Hôm nay gặp Đại nhân duyên, Đức Ngài từ bi khai thông cho tất cả các bậc tu cầu đạo Vô Thượng đời này và đời sau suốt thông Tâm Pháp, Tướng Pháp cùng Pháp Giới mà phấn chí vươn lên, vươn lên mãi tỏ soi cùng khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, chẳng chướng ngại với những Pháp Giới nhỏ bé như vi trần vì nó huyển hóa. Cũng không mê luyến tham trước các cảnh giới đầy cám dỗ vì Tướng Pháp Dụng Độ biết đi trong Đạo Hạnh huy hoàng để Hạnh Nguyện độ sanh Hành Thâm Pháp Giới thật biết tỉ mỉ trùm khắp Toàn Giác.

Lúc bấy giờ Thân Tâm chúng tôi nhẹ nhàng an lạc vô biên chưa từng có, như được bay bổng trên không gian bao la rộng rãi. Tâm Pháp vượt tầm Tướng Pháp bé nhỏ của thân Tứ Đại, linh thông cùng khắp, đồng đứng lên nghiêng mình đảnh lễ, tán thán Công Đức Từ Bi vô lượng và cung tiễn ĐỨC  TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất .

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử: Hoàng Ngọc Sơn
Pháp Danh: Pháp Tràng
“Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 01 tháng 6 năm Giáp Dần.

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 20

                                                    Ngày 11 tháng 6 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

HUẤN TỪ CẦU ĐẠO

Lúc bấy giờ, vào một buổi chiều thứ hai, ngày 29 tháng 7 năm 1974 tức là ngày 11 tháng 6 năm Giáp Dần. Chúng tôi về Trung Ương Hội Thượng vấn an ĐỨC  TĂNG CHỦ, vì hay tin Ngài bệnh. Sự hiện diện của chúng tôi gồm có Ông Pháp Như, Bà Pháp Tùng, Ông Pháp Quyên, và một số Tín Chúng. Ngoài ra Ông Tạng Nguyên đang đánh máy bài Giáo Ngôn ở mái nhà sau Chánh Điện.

ĐỨC  TĂNG CHỦ nằm trên chiếc chõng vải thường lệ, chúng tôi lễ vấn an xong, đồng yên lặng ngồi lại một bên. Lúc bấy giờ không khí thanh thoát yên tĩnh chẳng còn lấy một khởi. ĐỨC TĂNG CHỦ Ngài mỉm cười, chúng tôi nhận thấy dung nhan Ngài vẫn bình thường tươi đẹp khoan khoái ôn hòa chẳng có chi là đau yếu, thật khó diễn tả thay. Ngài liền bảo tôi rằng: –Ông Pháp Tràng lấy bút để ghi chép HUẤN TỪ GIÁO NGÔN. Ngài dạy:

– Này các ông, khi bậc tu đã Phát Bồ Đề Tâm cầu Đạo, chính là một sự quý báu khó nghĩ bàn, nhưng tại sao lúc tu tập lại suy kém chần chờ, kéo lôi biếng trễ, được mất phân vân, Thọ Lãnh Bảo Pháp chẳng đồng để tu; lại nữa, bậc biết Thọ Lãnh Bảo Pháp nhưng nơi tu chứng khác biệt, thì thử hỏi do bậc Cầu Đạo hay do bậc Chỉ Đạo?

Lúc bấy giờ chúng tôi lặng thinh suy ngẫm chưa kịp trả lời, Ngài dạy tiếp:

– Cầu Đạo nó có hai yếu tố để cho bậc Cầu Đạo thi hành. Thế nào là hai yếu tố?

● Yếu tố thứ nhất: THÀNH THẬT TÂM cầu đạo.

  • Yếu tố thứ hai: THIẾT THA TÂM cầu đạo.

Bằng những bậc Cầu Đạo mà thiếu hai yếu tố trên thì đương nhiên THỜ Ơ TÂM, làm thế nào để Cầu Đạo Chánh Giác? Các ông nghĩ xem lời nói trên có đúng với Tinh Thần Cầu Đạo chăng?

Lúc bấy giờ chúng tôi đồng thưa:

– Kính bạch ĐỨC TĂNG CHỦ, thật đúng như thế.

Ngài gật đầu, trầm ngâm chốc lát Ngài dạy tiếp:

– Các ông cũng nên biết: Tôi thường nói, bậc Truyền Đạo không có quyền truyền Bảo Pháp Tối Thượng mà bậc Truyền Đạo chỉ theo nhu cầu THIẾT THA TÂM của kẻ Cầu Đạo mà diễn nói. Các ông càng thành thật, Thiết Tha Tâm bao nhiêu thời bậc Chỉ Đạo mới theo nơi nhu cầu của các ông mà Chỉ Giáo, do lẽ ấy nên khi bước vào ngưỡng cửa nhà Phật để Cầu Đạo, rất cần thiết hai yếu tố trên. Tôi là bậc CHỈ ĐẠO, mong các ông ghi nhớ.

Ngài dạy xong đoạn trên, thời ông Tạng Nguyên vừa ngưng đánh máy bước vào lễ bái ngồi lại một bên. Ngài dạy tiếp:

– Đối với các ông hiện nay, nếu chưa Thành Thật Tâm hoặc chưa biết Thiết Tha Tâm, thì hãy phát nguyện Thành Thật, Thiết Tha Tâm để Cầu Đạo Tối Thượng Bồ Đề. Khi các ông trọn Tín Tâm Cầu Đạo thời trên con đường Tu Tập các ông hãy thi hành Hạnh Nguyện quyết tâm Thật-Hành, Thật-Tu mới mong đến nơi PHẬT CHỨNG. Bằng chưa Thật-Hành, chưa Thật-Tu thì khó đến Thật Chứng. Đó chính là một Huấn Từ mà Chư Bồ Tát vẫn Phụng Hành Tâm Niệm, Chư Phật ban hành để Bồ Tát tu.

  • THẾ NÀO LÀ THẬT HÀNH?

Khi các ông Niệm Phật, thời các ông Chí Tâm Thật Hành chuyên cần Niệm Phật, lúc các ông Trường Trai hoặc Kỳ Trai thời các ông phải Tinh Tấn Thật Hành Trường Trai Kỳ Trai. Khi các ông Đạo Đức hỷ xả thì các ông phải Thật Hành Đạo Đức Hỷ Xả. Lúc các ông tu sửa Đố Tật, Bố Thí, Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục, Trí Tuệ, hoặc Tu Thiền thời các ông phải Tu Thiền, Sửa Tánh, Bố Thí, Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẩn Nhục. Đó chính là yếu điểm cho các ông THẬT HÀNH, bằng chẳng vậy chưa phải Thật Hành để Tu.

  • THẾ NÀO LÀ THẬT TU?

Lúc đã Thật Hành Bố Thí, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục gặp cảnh trái ngang, chê bai, phiền trách, thời các ông chớ vì trái ngang chê bai phiền trách mà bỏ tu, Đó chính là Thật Tu. Khi các ông Tu Thiền: được, mất đến với các ông trong cơn Thiền, Sanh Tâm biếng trễ mà bỏ Tu, đó chính là Chẳng Thật Tu. Các ông Soi Sáng Trí Tuệ để phá Mê Chấp, lướt qua Nghiệp Chủng, đào sâu nghĩ rộng các Pháp, cốt Tỏ Tánh, đó chính là Thật Tu. Bằng không như thế mà Thọ Chấp An Trụ, đó là Chẳng Thật Tu. Các ông có Thật Hành, Thật Tu, mới Thật Chứng. Tướng Tánh đồng Song mới đoạt đến Thật Giác. Bằng chẳng như thế làm sao đưa các ông THẬT-CHỨNG GIÁC. Các ông nghĩ xem, trong thời GIÁO NGÔN HUẤN TỪ này, tôi đem ra giảng nói cho đầy đủ thì có thể nói một trăm kiếp chưa hết lời. Vậy các ông hãy Tâm Niệm Thật Hành Thật Tu để mà Tu, Thành Thật Tâm, Thiết Tha Tâm để Cầu Đạo Vô Thượng, thì làm gì mà không kết quả hiện tại.

Các ông cũng nên biết: Thời Thượng Pháp, Chí Tôn đến Hạ Lai đương chế, sự hiểu biết Tu Chứng chẳng đồng, bậc dư kẻ thiếu, chỉ vì chênh lệch yếu hèn, bê trễ nơi Thành Thật, Thiết Tha Tâm cùng với Thật Hành, Thật Tu mà phải chịu như thế.

Vậy hôm nay tôi kêu gọi TÂM THỨC của các ông, nên nhận lãnh Thời Giáo Ngôn, phát Đại Nguyện Tâm của các ông để Thọ Trì Thời Pháp Chân Tôn tôi đã nói, để Phụng Trì ghi chép mà Tu. ĐỨC TĂNG CHỦ Ngài dứt lời.

Chúng tôi lễ bái Thọ Trì, ghi chép. Chúng tôi nhận thấy thời Giáo Ngôn Huấn Từ của ĐỨC  TĂNG CHỦ khai nguyên, trực chỉ yếu điểm sai lầm thiếu sót, đó chính là một Pháp Môn Tối Thượng khó nghĩ bàn. Chúng tôi rất cầu mong quý Tín Hữu nhận thức hồi tỉnh để đáp đền công ơn của ĐỨC TĂNG CHỦ đã chỉ dạy chúng ta trong thời Hạ Pháp.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Ngày 11 tháng 6 năm Giáp Dần

Chân Phật Tử: Hoàng Ngọc Sơn
Pháp Danh: Pháp Tràng
“Phụng ghi để phổ truyền

 

 

 

 

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 21

                                                    Ngày 01 tháng 7 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

Của Đức Tịnh Vương Nhất Tôn

QUYỀN HẠN QUYỀN LỢI CỦA BẬC TU

Lúc bấy giờ, vào khoảng 10 giờ 30 ngày mồng một tháng 7 năm Giáp Dần, tức ngày 18-8-74 nhằm hôm chủ nhật. Tại Trung ương, Tín Chúng cùng hàng Giáo Phẩm vắng mặt, vì bận đi hành Đạo hoặc hướng dẫn sinh hoạt các Pháp Bảo trong Tỉnh Thị Hội.

Tôi về đến Trung ương Hội Thượng, vấn an ĐỨC TĂNG CHỦ theo thường lệ, sự hiện diện có bà Pháp Tùng đang thắp hương lễ Phật. Khi ấy ĐỨC TĂNG CHỦ cũng vừa nhập Chánh Định xong, Ngài từ Tịnh Thất bước ra Chánh Điện, an tọa trên chiếc chõng, chúng tôi lễ bái xong đồng ngồi lại một bên. Ngài liền dạy:

– Này ông Pháp Khả, đáng lẽ hôm nay, giờ phút này, Tôi ngồi tại Tỉnh Thị Hội Bình Định Qui Nhơn để nói thời Pháp mà Tôi sắp nói với ông. Vậy tiện đây Tôi nói ra ông ghi chép đầy đủ gởi đến các Pháp Bảo để Tứ Chúng nương theo lời của Tôi mà vững tâm tu tập, nếu Tứ Chúng có một trình độ thường tiếp nhận Giáo Ngôn của Tôi mà thật biết được mỗi thời Giáo Ngôn là mỗi lần Tôi đã đến gần Tứ Chúng thì sự tu hành tiến bộ khó nghĩ bàn.

ĐỨC TĂNG CHỦ dạy xong Ngài ngồi trầm ngâm giây lát, Ngài dạy tiếp:

– Ông cũng nên biết, nói về Quyền Hạn và Quyền Lợi của bậc tu hành, Tôi vẫn thường nói nhưng rất hiếm hoi bậc tu hành hiểu nổi. Vì sao? Vì vô minh chẳng cho bậc tu nhận Chân được nó, nếu nhận được đương nhiên biết được giá trị vô kể, chẳng còn mến tiếc chi thế nhân liền đánh đổi lề lối sống nhỏ nhen thèm khát dục vọng đặng tu đến Tri Kiến Giải Thoát.

Đối với riêng tôi, tôi chẳng bao giờ phiền trách các bậc tu vì chưa nhận được, về bổn phận của Tôi, Tôi phải làm thế nào cho Tứ Chúng tín tâm nhận được Chân giá trị của nó. Khi nhận được giá trị Quyền Hạn đồng Quyền Lợi thì bậc tu hành, tránh nổi Nghiệp Thức thờ ơ hoặc lững lờ, mộng đảo tu đến đích Giải Thoát hoàn toàn.

  • THẾ NÀO LÀ QUYỀN HẠN, QUYỀN LỢI CỦA BẬC TU?

Bậc tu duy nhất có một Quyền Hạn đáng kể là: Tự mình tạo công năng tu đến Tri Kiến Giải Thoát, tự nơi mình tìm Chơn Tánh để tu Tỏ Tánh, tự chính mình có Trí Tuệ quan sát phá chấp, tự mình nâng cao Đạo Hạnh Đức Trí, cũng tự mình nâng mình, Đức tánh bằng Chư Thiên, Đức Tánh ngang Chư Tiên, Chư Thần, Chư Thánh và Chư Bồ Tát tu rốt ráo thành Phật. Bậc tu có Quyền Hạn rộng rãi, có Quyền Hạn tu Phật thành Phật, tu Tiên thành Tiên, tu Thần, Thánh thảy đều thành như sở nguyện. Bậc tu rất cần biết Quyền Hạn nơi mình thời phải nung đúc lấy quả vị, khi nung đúc quả vị cấu tạo công năng đến nơi Sở Đắc thì quyền lợi kia cũng chính mình trọn hưởng.

Ông cũng nên biết, Quyền Lợi hưởng được nó phải có Quyền Hạn Tha Thiết Tâm, Thành Thật Tâm đòi hỏi Chân Thiện hoàn lai. Cũng như bậc tu có quyền hạn tu cầu đến làm chủ vũ trụ, làm chủ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, nhưng phải thật tỏ biết Quyền Hạn nơi mình mới tu chứng rốt ráo, chừng ấy Quyền Lợi trọn hưởng trùm khắp Tam Thiên Thế Giới. Ông nghĩ xem Quyền Hạn đòi hỏi, Quyền lợi được hưởng của bậc tu có rộng rãi to lớn chăng?

Lúc bấy giờ tôi thưa thỉnh: – Bạch ĐỨC TĂNG CHỦ, Quyền Hạn rộng rãi, Quyền Lợi thật to lớn khó nghĩ bàn. Ngài gật đầu nói tiếp:

– Quyền Lợi của bậc tu hành to trùm khắp như thế nên Phật nói -NƠI BIỂN CẢ NÓ CHẲNG CHỊU NHẬN, LẠI NHẬN LẤY BỌT NƯỚC ĐỂ TRÔI DẠT NƠI SANH TỬ.

ĐỨC TĂNG CHỦ nói xong đến đây, Ngài hớp một hơi trà nghỉ ngơi chốc lát và dạy tiếp:

– Này ông Pháp Khả, Quyền Lợi Quyền Hạn Tôi đã nói trên thật quá ư khó bàn, nhưng nào bậc tu hành có chịu đòi hỏi Tự Giác, lại thường chịu van xin, cầu vái, lạy lục ban cho những tấm bé nhỏ nhặt để làm chút ít Phước điền ảo tưởng, trong ảo tượng lầm lẫn đó chính là một điểm chẳng có lợi, lại thêm vào điên đảo cuồng quay, mất cả thời gian của bậc Chỉ Đạo phải phương tiện giảng nói. Vì như thế nên giữa thời ĐỨC THẾ TÔN phải tùy thuận lòng mong cầu tham muốn vọng tưởng điên đảo mà phải giảng nói trên 39 năm (sau 39 năm, ĐỨC THẾ TÔN mới thật giảng nói về Quyền Hạn và Quyền Lợi của bậc tu như thời Giáo Ngôn này, nên Ngài nói: TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH, CÁC NGƯƠI LÀ PHẬT SẼ THÀNH). Hôm nay Tôi nói rõ bổn phận của bậc tu có Quyền Hạn Tỏ Tánh phá lầm mê, tự giải quyết sanh tử, đó chính là lời nói thiệt, bằng chẳng nghe được lời này thời các ông phải Tâm Niệm và Đọc Tụng để ghi nhớ mà tu.

– Còn đối với bậc Chỉ Đạo có Quyền Hạn gì? Bậc Chỉ Đạo có bổn phận Quyền Hạn: Khai thông lầm chấp đưa tất cả đến giải thoát, dạy Đạo Hạnh Đức Trí viên minh. Chỉ các ông Trí tuệ căn bản, vạch lối biết Quyền Hạn Quyền Lợi của các ông, làm cho trọn hưởng Chánh Báo của các ông ngàn xưa thất lạc Chân Thiện Mỹ hoàn lai. Chớ đối với Bậc Chỉ Đạo không có Quyền Hạn bỏ các ông vào nơi Địa Ngục, Súc Sanh, Ngạ Quỷ. Chỉ các ông có quyền bỏ các ông vào Ngạ Qủy, Súc Sanh hay Địa Ngục thôi.

– Từ đời này đến đời sau, nên nghe theo lời minh huấn trên chính là lời kêu gọi Chánh Giác mà Tôi đã nói ra, nếu có bậc Chỉ Đạo nào dùng quá luật Quyền Hạn Chỉ Đạo của bậc ấy, thường đe dọa Thần Quyền bắt bỏ sư ếm, hoặc lập bàn trù hay đặt bàn ếm thảy đều là Ngoại Đạo Tà Thuyết, các ông nên ghi nhớ.

Sau khi được nghe ĐỨC TĂNG CHỦ Giáo Ngôn khai thị, tôi mới nhận rõ được sự tu hành Tự Giác, chính mình phải tự tạo Đức Trí, vì chính nơi mình đã có sẵn một Quyền Hạn đòi hỏi Thiện Chân đến Quyền Lợi Chánh Báo trọn hưởng bất diệt. Thật là một thời Giáo Ngôn trực chỉ làm cho tôi chẳng còn lấy một ảo tưởng cầu mong, mà có thể đưa tôi đến mục đích mong cầu Giải Thoát trong Quyền Hạn của bậc tu hành vậy.

Nay tôi cung kính phụng chép ghi, mong cầu Giáo Ngôn của Minh Sư Bảo Pháp đến tay các ông phổ truyền rộng rãi thức tỉnh vạn phần Tự Giác Giác Tha, chính lời tôi chân thành chúc nguyện.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Ngày 01 tháng 7 năm Giáp Dần

Chân Phật Tử: Võ Văn Khoa
Pháp Danh: Tôn  Pháp Khả
“Phụng ghi để phổ truyền”

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ VÔ THƯỢNG TÔN PHẬT

THỜI PHÁP 22

Ngày 9 tháng 7 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

ĐẠO PHẬT BẢO PHÁP BẤT DIỆT

Tôi được may mắn về Trung Ương Hội Thượng thật sớm lúc 7 giờ, ngày mùng 9 tháng 7 năm Giáp dần, tức là ngày 26 tháng 8 năm l974. Tôi nhẹ bước lên cầu thang Tịnh Thất của ĐỨC TĂNG CHỦ, tôi nhận thấy Ngài đang tĩnh tọa Chánh Định, Tôi rụt rè sắp bước xuống cầu thang, cũng may Ngài vừa xả Định, gọi tôi bảo lấy bút giấy, Ngài đọc tôi chép bài thi như sau:

Khá khen Vạn Pháp diễn tuồng,

Dù lời Kinh Điển vẫn luồng không gian.

Thế rồi cũng một thời gian,

Nương nhờ Kinh Điển mở màng vô minh.
Mới hay Diệu Pháp lộ trình,
Của Như Lai dụng không hình Giác Nguyên.

Tôi chép xong, Ngài bảo tôi ghi thời Giáo Ngôn để giải ý nghĩa bài thi trên, Ngài dạy:

– Này ông Pháp Tràng, Đạo Phật chính là một mối đạo cao quý Bảo Pháp bất diệt. Vì sao? Vì Đạo Phật đã đem lại cho nhân loại sự NGHE-THẤY-BIẾT viên minh, Tri-Kiến Giải-Thoát. Do bởi Nhân Loại có cặp mắt nơi cái Thấy Dị Phân động vọng Bất Tịnh, mà Đạo Phật phải đem lại cho nhân loại có đôi mắt NHÃN TỊNH NHẤT TƯỚNG đến NHƯ TƯỚNG. Do vì nhân loại có đôi tai chướng ngại biệt phân ngăn cách, mà Đạo Phật đem đến cho nhân loại có đôi tai THƯỜNG LẠC VIÊN DUNG THANH TỊNH. Do nhân loại có cái biết để bị biết giới hạn diệt sanh, mà Đạo Phật phải dạy dỗ đem lại cho nhân loại trọn biết chung cùng bao dung trùm khắp Bất diệt.

– Ông nghĩ xem, như thế Đạo Phật có sẵn nền tảng cao quý bất diệt chăng?

Tôi liền thưa thỉnh:

– ĐỨC TĂNG CHỦ thật cao quý bất diệt khó nghĩ bàn.

Ngài dạy tiếp:

– Do nơi cao quý Diệu Âm bất diệt ấy mà bậc tu hành thọ lãnh được Bảo Pháp rất khó. Bậc thọ lãnh phải có công năng tu tập, nhờ sự tu tập đầy đủ công năng mới lãnh hội đặng lời Bảo Pháp, nhược bằng chẳng như vậy thời khó lãnh, đó chính là một tình trạng chung giữa thời nào cũng phải như thế, chẳng phải thời trước dễ dàng, thời này khó khăn lãnh hội theo sự lầm tưởng sai biệt đâu.

Đương thời ĐỨC THẾ TÔN, Ngài có 1200 vị Chân Tử, nhưng sự lãnh hội lời chỉ dạy không hiểu đồng, chia ra nhiều bậc khác nhau. Nói về Bồ Tát hoặc bậc khá nhất trong Giáo Hội Linh Sơn thì chẳng có bậc nào thọ lãnh Bảo Pháp rốt ráo như Ngài, duy chỉ Thọ Giáo, Lãnh Giáo cùng nhận lãnh Bảo Pháp trên dưới 10 vị thì ông đủ biết sự tu tập khó khăn, sự lãnh hội Bảo Pháp càng khó khăn hơn nữa. Lúc bấy giờ, giữa thời ấy, ĐỨC THẾ TÔN thường khuyên các Chân Tử nên Thật Hành Hạnh Nguyện, Thật tu Bát Nhã Ba la Mật Đa đến Thật Chứng. Ngài lại củng cố nghiêm luật, thành tựu Đạo Tràng như vậy, nhưng nào đâu tất cả gần Phật mà toàn diện 1200 vị có được thành Phật đâu? Đối với Đức Bổn Sư giảng dạy chẳng biết bao nhiêu Bảo Pháp tuyệt đỉnh mà các Chân Tử chưa trọn lãnh, thì những lời ấy đâu có mất, nó đi vào không gian đến thời gian các Chân tử gia công tu tập liền Trực Giác phơi bày. Nhờ có như thế sau này mới kết nạp trở thành Tam Tạng Kinh Điển đến ngày nay.

Ông Pháp Tràng, lời Tôi nói trên để chỉ Đại cương Bảo Pháp một thời Đức Phật, sau này các Chư Tổ thừa kế nhắc nhở không ngoài lời trên của Đức Phật. Chư Tổ có trách nhiệm thừa kế làm cho Giác Ngộ toàn diện nhân loại chẳng còn sót một ai mà chưa Giác. Cứ mỗi thời thì có mỗi bậc hiện thân. Bậc ấy tùy theo thời mà chỉ đạo, bậc ấy tùy theo căn cơ sở tri của bậc tu hành mà dìu dắt, dùng đủ phương tiệïn cứu cánh. Nhưng ngặt một nỗi, bậc tu khó nghe, khó hiểu, khó tin, thường chấp, do đó mà bê trễ trên con đường Giải Thoát; đến chừng xong cuộc, Vị Tổ nhập Niết Bàn thì lời dạy chưa lãnh hội kia nó cũng phải từ không gian đến thời gian để các bậc tu gia công tu tập, đầy đủ công năng liền Trực Giác mới hay rằng chính mình đã gặp Phật, hoặc Bồ Tát thì muôn sự cũng đã an bài.

Ông cũng nên biết đương thời này chính là thời Hạ Lai. Vì sao gọi là thời Hạ Lai? Vì từ thời Thượng Kiếp qua Trung Kiếp đến Hạ Kiếp, do đó nên Hành dụng Như Lai tận độ gọi là Hạ Lai, giữa thời Hạ Lai chính là thời Tận Độ, vì nhân loại nhiều Tự Ngã, lắm lý chướng sự chướng, do đó khó tu. Hai nữa, cầu Đạo Vô Thượng vướng nơi ảo tưởng nhiều, Tham vọng lắm, Nương tựa căn, Lợi dụng căn, Háo danh căn để cầu đạo, thật rất hiếm bậc Thiết Tha Tâm, Thành Thật Tâm, Thù thắng tâm nên chi sự cầu đạo kia mới vừa hiểu đôi chút đã ngộ nhận mình biết, vừa biết đã chấp nhận mình Giác, tu chưa trọn Tri Kiến đã vội thọ chấp Sở Đắc Chánh Giác mà an trụ, dù vô tình lầm lẫn hoặc cố ý chấp mê Thọ Ngã chăng cũng vẫn đánh giá Bảo Pháp Chí Tôn Chân Truyền vào nơi lạc lõng gọi là Mạt Pháp.

Nói đến thời này hay thời trước, nó không khác mấy, vì sao? Vì biển cả kia duy chỉ có bấy nhiêu nước biển. Nhưng trước thì biển nó IM, thời nay thì biển ĐỘNG, nổi lên từng sóng cồn diễn cảnh. Còn đối với bậc tu hành khi chưa tỏ biết thì nó phải khác xa trăm nghìn vạn cách giữa thời này và thời xưa bởi Vạn Pháp cuồng quay Như Lai hành dụng Nghiệp Thức Chúng sanh tạo thành thời thế vọng loạn điên đảo, nên Phật nói:

TÂM BÌNH TẤT CẢ BÌNH.

TÂM LOẠN, TÂM NGHI, TÂM ĐẢO LIỀN BỊ LOẠN, BỊ NGHI, BỊ ĐẢO là vậy.

Này ông Pháp Tràng, Tôi biết giữa thời Hạ Lai vọng động như thế, Tôi thường tâm tình bằng thi thơ, Tôi biết Mạt Pháp Tận Độ nó phải như vậy, Tôi thức tỉnh bằng Giáo Ngôn, đối với Tôi, Tôi biết Bảo Pháp phải tùy theo trình độ chuyển trao cho bậc tu thọ lãnh. Nhưng Tôi thật biết thời này rất nhiều bậc khát khao Bảo Truyền Chân Pháp, lắm bậc Đại Hùng Đại Lực để cầu Đạo Vô Thượng Chân Truyền, nên hôm nay Tôi nói thời Pháp Bất Diệt Bảo Truyền để gởi đến bậc tu hành, chúc cầu Tròn Giác.

Đối với các ông, sự tu hành duy nhất bền chí, đầy đủ kiên dũng trước sóng cồn Thân Tâm, thường xem Giáo Ngôn, đọc Kinh Điển. Tất cả việc ác nhỏ đều bỏ, việc Thiện nhỏ phải làm, miễn sao Thiết Tha Tâm cầu đạo, Thành thật Tâm tu hành, trăm Kinh vạn Điển thảy đều có thế.

Tôi ghi chép xong thời Giáo Ngôn của ĐỨC TĂNG CHỦ, tôi nhận thấy tình Ngài bao la rộng lớn, đã khai thị cho thời Hạ Pháp biết tỏ rõ rằng thời nào cũng thế, duy chỉ nơi mình thiếu kém thân tâm lầm theo vọng đảo mà bê trễ đường tu, chỉ có mình thiếu sót công năng nên chưa Thọ Lãnh Bảo Pháp, đâm sinh ra nghi chấp. Nếu hiện tại không tu thì chẳng bao giờ đến, bằng hiện tại chẳng Giác thì chẳng bao giờ Tròn Giác Viên Minh.

Thời Giáo Ngôn thật quý giá vô lượng, nó làm kim chỉ nam dẫn đường chỉ lối cho các thời Giáo Ngôn trước đây mà Ngài đã từ bi khai thị. Tôi cùng các anh em giữa thời Hạ Pháp này được Đại Duyên Lành gần bên ĐỨC  TĂNG CHỦ đã nhận chân được một phần giá trị vô song của thời Pháp, nên cung kính nguyện cầu Chư Long Thần Hộ Pháp, Chư Bồ Tát Đồng Thanh Tương Ứng Nguyện, đồng hộ trì giúp đỡ cho tất cả Tứ Chúng cùng nhân sinh trong vũ trụ thời này đồng thời sau thọ lãnh Bảo Pháp đặng vào biển Đại Giác.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Ngày 9 tháng 7 năm Giáp Dần

Chân Phật Tử: Hoàng Ngọc Sơn
Pháp Danh: Pháp Tràng
“Phụng ghi chép Đức Tăng Chủ điểm sửa để cho phổ truyền”

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 23

Ngày 24 tháng 7 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

CÁI MÊ CHÍNH NÓ KHÔNG GỐC

Tôi về Trung Ương Hội Thượng vào lúc 21 giờ ngày 24 tháng 07 năm Giáp Dần tức ngày 10 tháng 09 năm 1974, theo như thường lệ mỗi tối, tôi thẩy đều về Trung Ương Hội Thượng đặng gần Đạo Hữu, Đạo Tràng làm nguồn an ủi duy nhất của đời tôi. Khi tôi về đến nơi nhận thấy có sự khác lạ khó nghĩ bàn hơn các buổi trước, ĐỨC TĂNG CHỦ Tĩnh Tọa Trang Nghiêm, hiện diện gồm có: Ông Tạng Bửu, Tạng Nguyên, Tạng Tích, Pháp Bách, Bà Pháp Tùng, Bà Tạng Trình cùng một số Tín Chúng đồng ngồi quanh Ngài lặng lẽ. Tôi bước vào lễ bái xong ngồi lại một bên, Ngài bảo tôi đem bút chì ghi chép Giáo Ngôn Ngài dạy:

– Các ông cũng nên biết, CÁI MÊ CHÍNH NÓ KHÔNG GỐC, nếu Mê nó có gốc thì chẳng bao giờ Tu Giác Ngộ. Ngài nói xong trầm ngâm chốc lát rồi dạy tiếp: Nhưng kẻ đã trót Mê thì cái Mê nó liền có Nguồn Mê của nó để mà Mê. Thế nào là Nguồn Mê? DUYÊN KHỞI SANH TÂM đó là nguồn mê, khi đã có Tâm sanh, Tâm nó liền có Tánh, đó là Nguồn Mê. Tánh ấy phải có Thức, đó là Nguồn Mê. Thức thì linh động di chuyển không ngừng, bởi bậc Tu hay kẻ chưa Tu mong cho Thức ngừng an trụ mà trở thành Nghiệp. Đó chính là Nguồn Mê trong tứ thời lầm lẫn từ trên xuống dưới để Thọ Chấp làm Chúng Sanh Giới vậy.

Hôm nay tôi ra thời Giáo Ngôn này chủ yếu dạy, đồng chỉ rõ sự Mê lầm của Tứ Thời để cho các ông nhận định rõ biết khỏi Thọ Chấp, khỏi An Trụ để mà Tu, đồng thời lưu lại cho đời này, đời sau làm một hướng chỉ Đạo, Tu Tứ Thời trở thành mục tiêu Tu Chứng, từng cấp bậc cao thấp khác nhau, rốt ráo hoặc chưa rốt ráo mà thành tựu vậy. Đó là thời Giáo Ngôn tùy nghi xử dụng tín dùng.

Các ông cũng nên biết: Buổi ban đầu bậc Tu hành bước vào ngưỡng cửa nhà Phật, phát Bồ Đề Tâm thì trước tiên phải thi hành Giải Nghiệp, nói đến Nghiệp, mỗi bậc Tu đều có Nghiệp, kẻ chưa Tu vẫn có Nghiệp, Nghiệp nó sai khác nhau tùy theo tư tưởng Thần Thức năng chấp trụ, tùy theo lớn nhỏ rộng hẹp của ý Thức trở thành Nghiệp, tùy theo Nghiệp Thức thọ chấp, nhưng cốt yếu muốn tu, phải giải Nghiệp mới tu. Nghiệp thì thật nhiều vô kể, nó có đủ khía cạnh mà Thọ Nghiệp.

Do lẽ ấy, nên bậc tu dùng đủ phương tiện, đủ phương pháp, tiêu trừ Giải Nghiệp. Sự Giải Nghiệp tùy theo Trí Tuệ lướt qua hoàn cảnh, tạo công năng Giải Nghiệp, cứ giải bớt Nghiệp bao nhiêu thì Trí Tuệ tăng trưởng thọ lãnh Bảo Pháp bấy nhiêu. Công năng Giải Nghiệp giúp cho bậc tu mau đến Sở Cầu, Sở Nguyện thành tựu, dù tu hành chưa có kết qủa chi cho lắm, nhưng có thật hành Giải Nghiệp, đặng Phước Báo Nhân Thiên, khỏi sa ba đường ác Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục. Nếu tu hành quyết tâm trừ giải, đánh đổi lề lối sống nhỏ nhen của đời, để tiến đến con đường Đạo rộng rãi thanh thoát chứng quả, thì rất cần đến Pháp môn Giải Nghiệp. Khi Giải Nghiệp rạng rỡ liền đặng chứng tri Tiên Thần hay sanh về cõi Trời nơi Tam Giới.

Các ông cũng nên biết, Tôi nói Tứ Thời của nguồn mê, lý sự Giải Nghiệp, mới thi hành phần nhất mà đã kết quả đáng kể là: MÌNH TỰ NÂNG LẤY MÌNH, PHƯỚC BÁO NHÂN THIÊN, hưởng các Cõi Trời. Nếu Bậc tu Nhất Tâm Thật Hành, Thật Tu trong Thời Hai thì có lợi vô kể, một là đắc quả A La Hán, hai là Bồ Tát Hạnh tu rốt ráo Tứ Thời thành Phật. Đây chính lời tuyên rõ giữa thời Hạ Lai chỉ Đạo, các ông nên nghe rõ Thời Hai Tôi nói.

Ngài dạy tiếp:

THỜI HAI, có hai lối Tu, hai bậc Tu. Một là Bậc NHIẾP THÂU THỨC, hai là Bậc KHÔNG NHIẾP THÂU THỨC.

  • THẾ NÀO LÀ BẬC TU NHIẾP THÂU THỨC?

Bậc tu nhận thấy Thức thường di chuyển, tư tưởng động vọng quá nhiều mà trái lại sự mong mỏi của bậc tu đến Thanh Tịnh, vì lẽ ấy nên Nhiếp Thâu bằng cách kềm chế động vọng, huân tập Tịnh Tâm, lìa bỏ Nghiệp Thức, Ý Thức dung dưỡng Thần Thức, gọi là Tu Tịnh, chủ quán Định Thần Tưởng Thức, sau khi luyện Thần, ép Thức, đắc quả A La Hán là bậc Nhất trong lối tu Nhiếp Thâu Thức này. Ngoài ra thiếu công năng, được thành Tiên Thần. Đó là một lối giải Nguồn Mê thời Hai Thu Nhiếp, lại dùng Tư Duy Thức Tịnh thành tựu vậy.

  • THẾ NÀO LÀ BẬC TU KHÔNG NHIẾP THÂU THỨC?

Bậc Tu Hành Không Nhiếp Thâu vẫn nhận thấy Thức thường di chuyển Tư Tưởng động vọng, Tịnh Bất Tịnh trăm phương vạn Thức không đáng sợ, bậc ấy không Nhiếp Thâu Thức, vẫn nương theo Thức di chuyển, cốt yếu khi nghi chấp để phá chấp đưa về sự rõ biết Nghiệp Căn Chủng Tánh các Pháp di chuyển Thần Thức Ý Thức, gọi là trụ vào Thức mà không trụ Thọ Chấp. Phật thường căn dặn Bồ Tát TRỤ MÀ KHÔNG TRỤ cũng thế.

– Các ông nên nhớ, bậc tu biết giải Nguồn mê của Thức, chính là bậc biết nương theo Thức, cốt soi biết rốt ráo mạch lạc Bổn Lai của Thức, chuyên tu đoạt đến Tự Tánh Tỏ Tánh, chớ chẳng phải nương theo Thức mà an trụ thọ chấp nơi Thức. Nếu Thọ Chấp thì đương nhiên bị chứng tu của mình chỉ tu đến đó mà thôi. Nên Tôi thường dặn: NGHI CHẤP ĐỂ PHÁ CHẤP chính là tiến bộ chớ chẳng phải Nghi chấp để chấp lấy Nghi. Cũng như nương theo Vô Ngã tìm Chân Ngã cũng thế.

Đối với Thức nó chỉ có một ở trong tứ thời Nguồn Mê, nhưng linh động trên dưới, ngoài trong trở thành thanh thô, rộng hẹp, nặng nhẹ, phân tán. Do đó, nó phải làm ba lối suy tưởng khác nhau, để tiêu biểu cho sự tu chứng khác biệt, từ Phàm Phu đến Trí Thức qua Đại Thức Tiên Thần. Thế nào là ba lối? Lối thứ nhất Thần Thức, lối thứ hai Ý Thức, lối thứ ba Nghiệp Thức. Lối Thần Thức suy tưởng thanh thoát, tìm hiểu rỗng rang đặng thoát cao siêu soi khắp vũ trụ Nhân sinh, Tiên Thần, Tam Giới. Nếu là bậc tu Thiền, thời Thần Thức di chuyển cùng khắp mười phương, qua từng cảnh giới để cốt Tỏ Ngộ. Thần Thức chính là một Nguồn Mê, dễ dàng đưa cho bậc tu hành lầm tưởng mà Thọ Chấp, ngỡ mình thành Phật, thành Tiên cao cống Tự Ngã. Do lẽ ấy nên Phật căn dặn: Nếu chấp nhận mình Sở Đắc, thì chẳng Đắc. Vì sao Vì Sở Đắc Định Tưởng đương nhiên bị lầm từ Thần Thức trở thành Nghiệp Thức chấp trụ. Các ông thấy Ngộ là yếu tố nguy hại của sự lầm nhận chưa?

Chúng tôi đồng thưa:

– Kính bạch ĐỨC TĂNG CHỦ, thật nguy hại, nếu trong thời chuyển Thức, chẳng có bậc Chỉ Đạo thì chúng con rất dễ lầm nhận.

ĐỨC TĂNG CHỦ gật đầu dạy tiếp:

– Nói về Thần Thức, nó có Bổn Tánh rỗng rang lung lạc, tùy thuận theo ưa thích, nó liền đưa đến Suy Tưởng như ý nguyện. Nó lại di chuyển đồng ứng làm cho bậc tu thích thú vui vẻ hỷ lạc, lầm nhận, vì Bổn Tánh nó như vậy, nên Bồ Tát thường dùng Thần Thức làm nơi an vui trong chốc lát Đạo Tràng, Bồ Tát không Thọ Chấp.

Bậc Thiền Tọa gặp lúc Thần Thức dồi dào thường khi xuất thần đi vào các cảnh Giới du hành. Lối xuất thần này có hai lối khác nhau. Thế nào là khác nhau? Bậc nương theo Thức lúc xuất thần vào cảnh giới biết đó chính là Nguồn Mê của diễn cảnh, nên không cố định chấp trụ để thụ thai vướng vào Nghiệp Thức Cảnh Giới. Còn bậc tu Nhiếp Thâu Thức thường dung dưỡng Thần Thức, lúc xuất thần, liền huân tập nhiếp thâu, để thụ thai nơi Định Tưởng mà chấp trụ, tu đến thành tựu liền bị an trụ.

Các ông nên nhớ kỹ, Thần Thức nếu nương theo để tỏ ngộ Sở Đắc Pháp Thân, do lẽ ấy Bồ Tát tu Pháp Môn Vô Ngã đến nơi Sở Chứng Pháp Thân thật yếu tố quan trọng, bằng Sở Chấp, sở trụ liền bị Tu Chứng đến mức trụ mà thôi, theo như lời Tôi đã nói trên.

Còn về phần Ý Thức, Ý Thức Bổn Lai của Ý Thức năng phân, nếu chấp thì bị biệt, lại năng tách, nếu thụ thì Bị Biết nó đo lường tỉ mỉ từng môn, từng tướng, từng hạt cát đến vũ trụ không thiếu sót. Bậc tu biết nó như thế, phải nương theo nó lập Đạo Hạnh, xem xét tỉ mỉ thật biết, nó chính là một cơ bản Tướng Phần Hạnh Nguyện thành tựu SẮC THÂN TƯỚNG PHẬT Tịnh Độ Niết Bàn, trang nghiêm cõi Phật, không thiếu sót Cảnh Giới, từ Chư Thiên an hưởng hoan lạc, từ phàm phu tu cầu Phước Báo giàu sang, cái giá trị kiểm kê của Ý Thức đối với bậc Giác ngộ nó như vậy, bậc nương theo để thành tựu lấy nó. Bằng chưa biết dụng nó làm một quan điểm duy nhất để tu, như nghiên cứu từng văn tự, ép xác, Đạo Hạnh cố định, tỉ mỉ thọ chấp thật khó tu. Đối với Ý Thức mang nặng thì phàm phu, nhỏ nhen eo hẹp mà bỏ nó ra thì Phi Đạo, buông lung Tà Kiến, vì sự hệ trọng và ích lợi của nó như thế nên Phật căn dặn ĐỨC TRÍ TƯƠNG SONG. Vì sao? Vì Ý Thức tạo Đức, Thần Thức phát Hụê. Ý Thức là Pháp ĐỊNH, Thần Thức là Pháp Tuệ, Ý Thức ỨNG THÂN, Thần Thức PHÁP THÂN, các ông nên nhớ kỹ.

Ngài dạy đến đây, hớp một chung trà của Tín Chúng vừa dâng. Ngài nói tiếp:

– Còn đối với Nghiệp Thức, là một Nguồn Mê thọ chấp dừng trụ, Nghiệp Thức cũng gọi là chấp pháp, nếu một bên tu Đạo Hạnh hay một bên tu Trí Tuệ phá chấp để mà chấp, hai bên vẫn nằm nơi Nghiệp Thức, và Tọa Thiền xuất Định để an trụ nơi Thiền Định, vẫn là Nghiệp Thức. Nói ra đây để các ông nhận lãnh hiểu biết làm gương đo lường soi biết chớ không thể diễn giải cho hết Nghiệp Thức trong giai đoạn chấp thủ.

Các ông nên thịnh trọng nhớ kỹ thời Giáo Ngôn này, đồng lưu ý Chú niệm TỨ THỜI NGUỒN MÊ, nó quan hệ nhất là Thời Hai về Thức, làm cho các bậc tu lẫn lộn, tự sanh hồ nghi bất tín, trước Thần Thức buông lung, Ý Thức phân biệt hai đường một lối nan giải, phải bị Nghiệp Thức chấp thủ mà sanh lòng ngạo mạn, Tâm sanh khinh mạn Chân truyền Bảo Pháp cho rằng Chân LÝ NÓ CŨNG THIỆT MÀ NÓ CŨNG GIẢ. Do đó, lúc tu sanh tâm bất tín tự hào, trở thành bừa bãi, tăng thượng đối với Bậc Chỉ Đạo mất tôn kính. Chính chẳng phải do các ông, do tu chưa chu đáo, giai đoạn Thức nguồn mê chưa hiểu biết tí nào nên Thức chuyển đảo điên, lầm ngỡ rằng mình nhận đúng Chánh Đạo.

Đối với giai đoạn Thời Hai Nguồn Mê thuộc về Thức, nó có lợi cho bậc nương theo Vô Ngã để rốt ráo nguồn sanh tử, tận tận Chủng Tánh Khởi Sanh, thật biết Pháp Giới Thọ Chấp, tỏ rõ Tam Thế Như Lai, Cung kính nghiêng mình Hạnh Nguyện, tránh né thọ chấp Tiên Thần, nó chẳng khác NGỌN ĐUỐC SÁNG SOI, NẾU VÔ TÌNH THỌ CHẤP MỪNG RỠ NÉM ĐUỐC BỊ CHÁY RỪNG, TẮT ĐUỐC TẠO VÔ MINH, THÌ PHẢI CHỊU CHÁY, CHỊU KẸT TRONG HANG SÂU RỪNG THẲM VẬY.

Khi bậc tu đi qua hai giai đoạn Giải Nguồn Mê NGHIỆP và THỨC, thì bắt đầu Thanh Tịnh tỏ ngộ, Tự Tại Vô Ngại dung thông, biết lượng theo thời nghi mà giải nói, biết từng khởi sanh của kẻ tu để mà chỉ bày, trên cung kính Chí Tôn, dưới kiểm soi giúp đỡ, không còn lề lối ngạo mạn bừa bãi, đem thời pháp diễn giải đúng chỗ phá mê lầm, chẳng tự ngã khoe khoang, thường xuất định giao du các cõi, lúc trả về chẳng vướng mắc vương mang. Lúc bấy giờ mới xét soi Tự Tánh để Hành Thâm Bát Nhã soi từng bậc, từng Cảnh Giới, từng Tam Thiên, từng lý sự di chuyển kết hợp diễn hóa tạo thành Cảnh Giới, tạo thành Quốc Độ Tịnh Độ muôn phương, Bậc này biết tỏ rõ, biết tỉ mỉ Nghiệp Sanh, Nghiệp Khởi, Nghiệp Trụ, Nghiệp Chấp, Thức Chuyển, Thức Xuất, Thức Sanh, Thức Báo, tự tại ra vào Viên Giác như kẻ nguyện trú Tam Bảo để Thề Nguyện Học.

Khi trưởng thành trọn vẹn, giải trọn vẹn Nguồn Mê về Tánh trong Thời Ba thì đương nhiên Tự Tánh Phổ Chiếu Sở Đắc các Pháp Thần Thông Tam Muội, như Du Hí Thần Thông Tam Muội, Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội, Chánh Định Tam Muội cùng các pháp Thần Thông Tam Muội khác vô kể, vô kể. Vì sao? –Vì Bổn Tánh Tự Tại Vô Ngại Đại Bi của Bồ Tát Hành Dụng, do lẽ ấy Phật nói: Con mắt Phật không thể nào soi khắp Hành Dụng của các Chư Bồ Tát đặng nên không thể diễn nói hết trong Thời Giáo Ngôn này.

Lúc bấy giờ Bồ Tát trưởng thành Đại Bồ Tát thường dùng THƯỜNG TỊCH QUANG để cung kính Như Lai, thường dùng Diệu Âm Quang để Đảnh lễ Chư Phật, thường dùng KIM SẮC QUANG đặng trang chỉnh Quốc Độ, thường dùng DIỆU SANH QUANG cứu độ Chúng Sanh, làm cho tất cả Thường An Thường lạc. Đó chính là Bổn Nguyện Tự Tánh.

Đến giai đoạn Thời Tư tức là Tứ Thời Nguồn Mê, giai đoạn này thật là giai đoạn quá kể, nhưng vì mở màn để giải Nguồn Mê nên Tôi diễn nói để các ông tự liệu từ đời này làm một Chỉ Đạo Chân Tâm để mà tu cho khỏi lạc, làm cho Chánh Pháp trường cửu chẳng suy đồi.

ĐỨC TĂNG CHỦ Ngài dạy đến đây bảo Tứ Chúng đảnh lễ nơi Chánh Điện đâu đó xong, ngồi lại một bên. Ngài dạy tiếp:

– Khi Ba Thời đã hoàn tất Nguồn Mê, đến Thời Thứ Tư thuộc về Tâm, bước qua giai đoạn TÂM thì CHÂN TÂM CHÁNH GIÁC Thị Hiện Viên Tịch, Viên Dung. Chỉ mỗi một gật đầu chấp thuận thì thay đổi Tam Thiên ô trược, phiền não trược, Chúng sanh trược thảy đều trở thành Tịnh Độ trang nghiêm. Một lời nói, một nụ cười, Chân Phật Tử thọ lãnh thì liền Tri Kiến Giải Thoát, Tự Tại Vô Ngại muôn phương. Mỗi một khơi móng tay, mỗi một lần xét đến, thì dù cho Chân Phật Tử bị Ma Ba Tuần nhiễm hại cũng phải rời rã tay chân, không còn quấy nhiễu. Thật quá kể quá kể, bậc Tứ Thời rốt ráo CHÂN TÂM CHÁNH GIÁC VIÊN MINH, không thể nào tán thán hết. Chỉ có Công Đức phụng hành, TIN VÂNG trọn là Cúng Dường Bảo Phẩm thôi.

Khi ghi chép xong, chúng tôi không biết nói gì hơn trong thời Giáo Ngôn này để tỏ Chân thành xưng tán ĐỨC TĂNG CHỦ cho vừa, không ai bảo ai đồng quỳ trước Ngài Chiêm ngưỡng lễ bái thưa thỉnh:

– Kính bạch ĐỨC TĂNG CHỦ, Ngài đã vì lòng thương chúng con từ đời này đến đời sau làm một CẨM NANG CHỈ ĐẠO CHÂN TÔN để tu. Vậy chúng con xin phụng hành trước Ngài để phụng thỉnh từ Chân Tâm Chí Thành của các con lưu truyền đến Chân Tâm Chí Thành của các bậc khác gìn giữ phụng hành bất diệt.

Chúng con xin Ngài dủ lòng thương cho chúng con được tỏ rõ Thời Pháp này là Thời Hiệu chi để cho tất cả phụng trì.

ĐỨC TĂNG CHỦ nói:

– Thời Giáo Ngôn này gọi là Thời CẨM NANG CHỈ ĐẠO CHÂN TÔN. Nói lên cái Mê nó không gốc.

Chúng tôi Đảnh Lễ Phụng Hành.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Ngày 24 tháng 7 năm Giáp Dần

Chân Phật Tử  : Võ Văn Khoa
Pháp Danh       :  Pháp Khả
“Phụng ghi để phổ truyền”

 

 

 

 

 

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 24

Ngày 25 tháng 8 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

ĐẠO PHẬT TU TÂM CỐT GIÁC TÂM

Lúc bấy giờ vào khoảng 21 giờ ngày 25 tháng 8 năm Giáp Dần, tức là ngày 10.10.1974. Sự hiện diện giữa chúng tôi gồm có: Ông Pháp Tràng, Tạng Nguyên, Pháp Hậu, Bà Pháp Tùng, Tạng Trình và một số Tín Chúng ngồi chung quanh ĐỨC TĂNG CHỦ. Ngài bảo tôi lấy bút để ghi chép Giáo Ngôn. Ngài dạy:

– Các ông cũng nên biết ĐẠO PHẬT chính là một mối ĐẠO lấy TÂM làm gốc để Tu gọi là TU TÂM đến GIÁC TÂM mà GIÁC NGỘ, đó là cơ bản mục đích của Đạo Phật. Nhưng tất cả trót lầm lẫn bị NGŨ ĐỘC đang chìm đắm trong Sanh Tử lầm mê, dù cho bậc Tu muốn lấy TÂM để TU TÂM thì Tâm ấy chính là Tâm Vọng làm thế nào Tu được Tâm? Cũng như kẻ đang ngủ trong giấc ngủ làm sao mà trở thành thức được? Đó chính là một yếu điểm của cuộc giải Mê. Cho nên nói đến đã Mê, khi bậc Tu dù có phá Chấp-Mê chăng nữa cũng chỉ loanh quanh phá Mê để mà Mê chứ không bao giờ đến Giác. Dù cho có bậc Chân Thành Kính Bái để mà Tu thì đương nhiên sự Chân Thành Kính Bái kia vẫn còn nằm trong mê man lầm lẫn của Kính Bái Chân Thành, chẳng đi vào đâu cả, chỉ được Phước Báo Nhân Thiên thôi, trừ ra gặp THIỆN-TRÍ-THỨC Ấn Chứng Chỉ Điểm, lúc bấy giờ mới Giác Ngộ Viên Minh.

Trường hợp gặp bậc THIỆN-TRÍ-THỨC chỉ điểm mà trái lại bậc Tu kém TIN VÂNG cũng khó thành tựu. Thật là một then chốt của nghìn xưa đến ngày hôm nay vẫn còn đang tái diễn giữa sự hợp hóa tương sanh.

Ngài nói xong trầm ngâm một lát, trên Chánh Điện hương tỏa ngào ngạt. Tứ Chúng lặng yên tịch tịnh, bỗng nhiên Ngài dạy:

– Hôm nay tôi khai thị cho các ông, để các ông được tỏ rõ trên sự Tu Tâm chủ yếu Giác Tâm để Giác Ngộ.

Các ông cũng nên biết, nếu các ông lấy Tâm Giác để mà soi đó chính là các ông đã Tu Tâm. Lấy Tâm Giác để mà biết, mà nghe, mà thấy đó mới gọi là Tu Tâm. Bằng chẳng vậy thì dù cho các ông có Tu hàng vạn Tâm, triệu Tâm cũng không bước vào được một tia sáng đến TÂM GIÁC để soi.

Thế nào là dụng TÂM GIÁC để soi?

– Các ông soi trong hoàn cảnh, đứng giữa hoàn cảnh, vấp phải hoàn cảnh ngặt nghèo, đói khổ, sướng vui, chết sống, nếu các ông soi dùng Tâm Tín Thành tu cầu thoát khỏi trần lao khổ sở trong mọi hoàn cảnh để Xuất Ly, mặc dầu sự Tu cầu soi ấy có thành tâm sở nguyện Tri Kiến Giải Thoát chăng, cũng chẳng phải các ông dùng Tâm để Tu Tâm đặng đến sở nguyện của các ông. Vì sao? Vì các ông đang đứng tư thế Hữu Vi Sắc Phần làm mục tiêu sở cầu đều bị Vọng Tâm, không thể nào thấy Tâm cầu chứng, đã không thấy Tâm làm sao Tu Tâm? đã không Tu Tâm thì làm sao Chứng Tâm?

Bằng các ông cứ dùng Tâm Giác cố thủ để soi trong thời đang có hoàn cảnh nói trên. Nếu các ông chẳng soi vào hoàn cảnh trên, lại soi công năng Tu Tập, Phước Báo, giúp kẻ đang bị hoàn cảnh như các ông, sự Tu hành Hạnh Nguyện của các ông mỗi ngày thảy đều tăng trưởng từ Trí Tuệ đến Phước Vân Điền. Chừng ấy, các ông mới nhận thấy chính mình giàu quá kể. Đó là các ông đã dùng Tâm Soi Tâm đến Giác Tâm.

Hai nữa, các ông đang mong tìm nhận định Chánh Báo hiện tại theo nguyện vọng sắc phần của các ông, hoặc giả các ông mong tài phép danh giả làm nguồn an vui hiện hữu đến cho các ông, những điểm ấy thảy đều là cái Vọng Tâm Sắc Phần Tướng Pháp, chẳng bao giờ tu đến Chân Tâm Tròn Giác.

Chỉ trừ ra các ông dùng TÂM GIÁC để nhận biết hiện tại các ông đang ở nơi TÒA BẢO PHÁP, cùng chung với một mục đích của Chư Phật đồng Chư Bồ Tát Nguyện, xây đắp Chánh Báo, được xem Kinh Pháp, được nghe Giáo Ngôn, trí tuệ tăng trưởng, phước điền bồi dưỡng, thời các ông mới nhận thấy Chánh Báo hiện tại đã có hưởng, vị lai sẽ trọn hưởng, đó là nguồn an vui đứng nhất, đó cũng là Tu Tâm biết khai Tâm đến Tâm Giác trọn vẹn Giác Tâm.

Ba nữa, ví như các ông muốn tìm xem Ông Tri Huyện có Đạo Đức, hoặc vị Học Giả có phải nhân tài hay bậc Thiện Trí Thức có Giác Ngộ chăng? Lúc bấy giờ các ông đến xem xét châu thân của các bậc ấy để tìm nơi Đạo Đức, tìm tư cánh nhân tài hoặc tìm cái Giác Ngộ của mấy bậc kia thì chẳng bao giờ nhận thấy mà trái lại phải bị nơi lầm lẫn si mê vọng loạn của Tâm. Bằng các ông đến Công Đường để nhận biết khi ông Tri Huyện đang phân xử, các ông phải có Tâm Giác để nhận biết, chừng đó mới thật biết được ông Tri Huyện Đạo Đức. Còn vị Học Giả hay bậc Thiện Trí Thức có phải là nhân tài hay Giác Ngộ chăng? Ít ra các ông cũng có một đôi chút về Tâm Giác Nhân Tài hay Tâm Giác phần nào về Giác mới nhận được, bằng chẳng như thế khó biết Tài, Giác của hai vị.

Nếu các ông Tu Tâm thì các ông phải nên quán xuyến bằng Tâm Giác để soi biết, chớ chẳng nên dùng Sắc Pháp Tướng Phần phải bị trong vòng Vọng Tâm khó mà đến nơi thật NGHE THẤY BIẾT. Cũng như: khi tôi nói các ông NGHE, chẳng nhận nghe trong mục đích chính, thì các ông BỊ NGHE nơi THINH PHÁP. Bằng tôi CHỈ để biện minh Giác Tâm của các ông, các ông chưa nhận thấy, thì cái Thấy BỊ THẤY nơi SẮC PHÁP. Nếu tôi bày để các ông BIẾT nhưng các ông chưa rõ biết thì cái biết kia nó phải nằm nơi BỊ BIẾT chớ chẳng bao giờ được Biết. Do lẽ trên nên Phật thường nói: Xem Kinh Pháp để nhận biết, chính là bậc biết xem Kinh, Bằng xem Kinh để xem Kinh, đọc Kinh đặng có đọc Kinh thảy đều trong vòng Sắc Pháp Tướng Phần bị biết hay bị thuộc Kinh thôi. Vì sao lại phải như thế?

– Vì Sắc Pháp Tướng Phần thuộc về Đạo Hạnh Sắc Tướng, còn Tâm thuộc về Chân Giác. Khi Tâm bị Vọng Giác nọ bèn đảo điên tạo Vô Minh che Chân Tâm Trực Giác, bởi nó như thế nên Bậc Tu thiếu sự nhận biết để Thọ Lãnh Kinh Pháp.

ĐỨC TĂNG CHỦ Ngài dạy đến đây Ngài bảo ông Tạng Nguyên châm trà, Ngài dùng tách trà xong, Ngài dạy tiếp:

– Các ông cũng nên biết, Đạo Phật luôn luôn Tu Tâm cốt Giác Tâm, từ thời quá khứ ĐỨC THẾ TÔN cùng Chư Tổ đã khai thị đầy đủ các khía cạnh, nếu thiếu sót thời vị sau nầy kế tiếp bổ túc thêm cho dễ hiểu đặng dễ nhận lãnh mà Tu. Tuy nhiên sai khác lời lẽ, chung lại chỉ một mục đích mà thôi. Các ông mặc dù có Tín Tâm Tu Phật, có Chí Nguyện đến Công Năng, nhưng chưa hiểu thông đường lối thì dù có Tu đến vạn kiếp sở cầu cũng khó mà đạt đến BẢN THỂ TÂM, ít nhất phải có sự chỉ điểm cho các ông, lần đưa các ông tu tập mới đến đích. Khi đã có Bậc Ấn Chỉ Khai Thị trái lại các ông chưa Phát Tâm, chưa Thật Hành cầu Đạo Tối Thượng thì chẳng bao giờ kết quả đặng, các ông nên ghi nhớ.

Bài Giáo Ngôn hôm nay là một cây kim chỉ nam, các ông nên xem kỹ, nhớ kỹ thi hành tu tập, lúc chưa hiểu sau được hiểu, khi chưa biết lần đến tự biết, đem đến cho các ông thật NGHE THẤY BIẾT, chẳng khác nào Chư Bồ Tát thời trước đã phụng hành bài nầy, đến lúc khai thông sở đắc mới tán thán đồng thưa thỉnh với ĐỨC THẾ TÔN rằng:

Bạch ĐỨC THẾ TÔN, chúng con chưa đặng Nghe, hôm nay được Nghe. Chúng con chưa đặng Thấy, hôm nay được Thấy, chúng con chưa đặng Biết, hôm nay được Biết. Chỉ vì nhận được Nghe mà biết Nghe. Nhận được Thấy mà Biết Thấy. Nhận được Biết mà trọn Biết. Nhận đặng TÂM GIÁC mà đến Giác Tâm vậy.

ĐỨC TĂNG CHỦ Ngài vừa khai thị xong, chúng tôi được thọ lãnh, mới hay Tu nơi Hữu Lậu Tướng Phần dù cho có công dụng Tâm chăng cũng chỉ là Tâm Tín Ngưỡng, Tâm Duyên Lự, Tâm Tu Cầu Chánh Báo Nhân Thiên chớ chưa hẳn Tu Tâm để đến Giác Tâm bất diệt.

Thật Ngài đã Từ Bi tỏa ánh Từ Quang soi sáng Vô Minh để cho chúng con nhận tỏ rõ Tâm Giác tu đến Giác Tâm, xa lìa vọng thức đảo điên, cứu cánh Giải Thoát.

Chỉ vì chúng con tập nhiễm Tướng phần nên mới bị Tướng phần cầu đảo mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn, đòi hỏi Chánh Báo, thọ chủng tử sanh.

Chúng con nguyện phụng hành phổ truyền giúp ích cho những bậc tu, từ đời này đến đời sau Tâm Niệm.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Ngày 25 tháng 8 năm Giáp Dần

Chân Phật Tử  : Hoàng Ngọc Son

Pháp  danh      : Pháp Tràng

“Phụng Ghi Để Phổ Truyền”

 

 

 

 

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 25

Ngày 6 tháng 8 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN Trích nơi BẢO PHẨM XUẤT THẾ CHƠN KINH của ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

VỀ PHẨM TU TÂM, trích từ BẢO PHẨM XUẤT THẾ CHƠN KINH

Lúc bấy giờ vào khoảng 20 giờ 30, ngày mồng 6 tháng 9 năm Giáp Dần (tức ngày 20.10.1974). Nhằm chủ nhật theo buổi sinh hoạt, cũng được ĐỨC TĂNG CHỦ khai thị. Tại Trung Ương Hội Thượng, trời bên ngoài thì mưa tầm tã, Tứ Chúng tề tựu đầy đủ, thật là một buổi sinh hoạt đi trên mưa gió về Trung Ương để lãnh hội thời Pháp khai thị. Trước Chánh Điện hương trầm nghi ngút vi diệu trang nghiêm. Tứ chúng một lòng chiêm ngưỡng cung nghinh ĐỨC TĂNG CHỦ. Ngài từ Tịnh Thất bước ra Chánh Điện, Tứ Chúng Đồng đứng dậy Đảnh lễ, xong đâu đấy ngồi theo thứ lớp. ĐỨC TĂNG CHỦ Ngài dạy:

– Các ông hãy nhìn lấy tôi để làm gương mà tu, đối với Tôi tay không lìa máy đánh chữ, CHÍ không lìa soi giúp đỡ sự lầm lẫn của các ông trên con đường tu tập. Nhưng rất tiếc thay, lời chỉ dạy của Tôi không thiếu sót, mỗi tháng ra bốn bài Giáo Ngôn, ngoài ra còn có rất nhiều Thời Pháp phụ thuộc để dạy bảo, không bao giờ Tôi chán nản. Vì sao? Vì Tôi phục vụ một cương vị Chỉ Đạo, một bổn phận trách nhiệm Tỏ Đạo, đưa các ông vào con đường Giải Thoát thật sự. Tôi không bao giờ trách các ông, nhưng Tôi chỉ khuyên các ông nên cổi giải các NGHIỆP, khi Nghiệp đã biếng trễ nó kéo lôi các ông được, thì đương nhiên Chân Lý nó phải mơ màng khó nhận định, khi nó đã mơ màng khó nhận liền bước vào con đường vọng đảo, trong lúc vọng đảo làm gì Sở Đắc Chân lý hữu hiệu.

Tôi vì hiện hành phục vụ cao quý của Chánh Giác Bảo Truyền, nên diễn nói đầy đủ tất cả khía cạnh, lưu lại đời này và đời sau lần lượt có nhiều bậc Tu Chứng. Hôm nay trước sự hiện diện giữa Tôi và các ông, Tôi chẳng tiếc Công của Tôi, nhưng rất tiếc công của các ông biếng trễ, nhìn thấy Bảo Vật mà không biết dùng Bảo Vật, nhận được Thiện căn cao quý mà chẳng thật hành để thành tựu đến Thiện căn quý cao. Biết rằng Bảo Pháp Bất diệt, mà chẳng biết bảo trì nơi Bất Diệt, lại theo điên đảo diệt sanh. Do lẽ ấy nên hôm nay Tôi cho các ông được trích lại một đoạn ở tập BẢO PHẨM XUẤT THẾ CHƠN KINH, để các ông làm một bản đồ tu Tâm rất rõ ràng, không sai một mũi kim hoặc một sợi tóc, không sai với tinh thần hai chữ Chân lý Phật Tôn. Ngày nay nó lạc pháp, Hạ Lai, Tận Độ. Bài này là một bài rất hữu hiệu hiện tại của các ông đang mơ màng nơi tu tập. Đoạn kinh này là đoạn các ông đang cần thiết. ĐỨC TĂNG CHỦ dạy xong, Tứ Chúng đồng đảnh lễ cung tiễn Đức Ngài trở về Tịnh Thất. Tứ Chúng ai nấy vui vẻ phấn khởi vì được sự chấp thuận của ĐỨC TĂNG CHỦ, cho trích một đoạn trong Kinh Bảo Phẩm Xuất Thế, mà mấy hôm nay Ngài Đã nhập vào Chánh Định tạo thành.

Lúc bấy giờ, trong Tứ Chúng đề cử mỗi chúng một Đại diện lên Đảnh lễ ĐỨC TĂNG  CHỦ, đồng thời để thọ lãnh Bảo Phẩm Chơn Kinh Xuất Thế.

* * * * * * *

BẢO PHẨM CHƠN KINH XUẤT THẾ đoạn Tu Tâm, Ngài dạy:

Thứ nhất tu Tâm, trước tiên thành thật Tâm, thiết tha Tâm đồng phát Bồ Đề Tâm nguyện, sau Tâm nguyện Tâm, huân tập Tâm, làm cho Tâm nọ phát triển trở thành Thù Thắng Tâm, công dụng Thù Thắng Tâm để tu. Bằng chưa có Tâm Thù Thắng, thì có tu chăng vẫn tu nơi cầu Phước, tu để làm lành thế thôi.

Sau khi đã có Tâm Thù Thắng thời dùng Tâm ấy lướt qua các hoàn cảnh, các trở ngại ngăn chấp, các chướng đối trái tai gai mắt như Tịnh Bất Tịnh không vì lý mà chướng, chẳng vì Sự mà ngại, các vọng đảo nghi chấp nơi Tâm thảy đều giải nghi phá chấp, làm cho Tâm suông chảy không mắc miếu, Tâm đặng phân minh Đạo Tràng mà Thanh Tịnh Tâm, Tâm đặng thanh tịnh chính nương nhờ Hỷ Xả Cổi Giải vặc mắc mà Tâm mới được Thanh Tịnh, chớ chẳng phải tìm nơi vắng vẻ mà Thanh Tịnh Tâm, đó là yếu điểm cần ghi nhớ.

Lúc đã sở đắc Thanh Tịnh Tâm nhìn lại con đường Tu Tâm mới thấy được các pháp Tịnh Bất Tịnh do Tâm Năng Biệt nên Bị Biệt, các Chướng Đối trái tai gai mắt, bởi Nghiệp Thọ Ngã mà ra liền Sở Đắc Nhãn Tịnh đồng Nhĩ Tịnh. Lúc đã đến Nhãn Tịnh, Nhĩ Tịnh thì cái NGHE cái THẤY trước cảnh Sắc Trần Thinh Pháp chẳng còn ngăn cách chướng đối như trước kia nữa, Vì Sao? Vì nó đã thành tựu kết chung hai Tướng về với một Tướng.

Thế nào là hai Tướng về với một Tướng? Tướng NGHE, tướng THẤY là hai, đều trả về trở thành Tướng Tâm. Khi Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn thành tựu đặng mức Tướng Tâm thì cái Nghe Thấy nó không còn bị Nghe bị Thấy, nhờ chẳng Bị nên không chướng ngại biệt phân, nó dung thông vô ngại, có Vô Ngại như thế nên dù nghe lời Tịnh Bất Tịnh thảy đều lời Phật Pháp chẳng chướng đối. Thấy những nơi gai chướng nó ít lưu tâm để thọ chấp, Tâm thường thanh tịnh rỗng rang, phát Trí Tuệ tìm Chân Giác.

Mới nhận được Các Pháp vốn KHÔNG, do lầm mê năng sở tri chấp phải vướng mắc vạn Pháp trong Sanh Tử Tử Sanh liền đắc pháp Chân Không Thanh Tịnh, nhìn khắp sơn hà Đại Địa Chân Không, nhìn đến Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới chẳng còn, Tâm vô ngại Tâm kia mừng rỡ rỗng rang chẳng còn ngăn ngại lấy một pháp nào chứa đọng, trong một thời gian tối đa ba tháng đương nhiên vô ngại Tâm phát khởi nghi ngờ Năng Sở Kiến Tri trở về vạn Pháp tìm tòi cái gì của nó để an trụ Tu Chứng.

Này Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn, bậc tu tâm đứng giữa tình trạng này bậc tu sở đắc rốt ráo hay chưa đặng rốt ráo nơi tu chứng của Thiện Nam, Thiện Nữ khó diễn nói cho đặng, vì sao? Vì nó chính là một ngã ba chia ra rất nhiều bậc tu chứng, nó lại tùy theo Năng Sở Tri của mỗi bậc mà thành tựu quả vị.

Nếu là bậc có căn bản Bồ Tát Nguyện thì bậc này thường tự kiểm soát lấy mình Đạo Hạnh Trí Tuệ nương theo Bát Nhã Tâm Kinh làm tấm gương soi sáng lần tiến để tu. Trên cung kính Tam Bảo, dưới lục hòa Tín Chúng, phát Tâm Công Đức làm Bảo Phẩm Chánh Giác, bằng cách Hạnh Nguyện Hành Thâm Pháp Giới, Tự Lợi, Tha Lợi làm an vui trú nơi Đạo Tràng, bậc này thật biết pháp Bất Tịnh vô ngại con đường Bất Tịnh, nhưng chẳng bao giờ thi hành cho Dục Vọng Bất Tịnh, bậc này rất biết nghịch hành ngạo mạn hay Tăng Thượng không chút sợ sệt, nhưng chẳng bao giờ nghịch hành, chẳng bao giờ Ngôn ngữ ngạo mạn Tăng Thượng, vì sao? Vì gìn giữ Phẩm giá Đạo Tràng, Bảo Trì ngôi Tam Bảo như gìn giữ thân mạng mình để cho kẻ khác khỏi đoạn duyên Phật mà chính bậc này đã thi hành thành tựu Nhất Hạnh Tối Thượng làm Bảo Phẩm báo ân Chư Phật.

Này Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn, đắc pháp Chân Không tức là tỏ rõ Pháp Chân Thật của Không. Chân Không là nơi Tạm Trú của Bồ tát, lúc Bồ Tát Hạnh Nguyện Hành Thâm Pháp Giới làm lợi khí áo giáp Bát Nhã Ba La Mật Đa để cho Tâm rũ sạch lỗi lầm phạm giới, lại rũ sạch các Nghiệp Thức lầm nhận được từ Thanh Tịnh đến Đại Thanh Tịnh, khỏi nơi than van ân hận tâm mà bước qua Nghiệp quả do Tâm vọng gây tạo.

Chân Không nó có rất nhiều lớp, nhiều thứ bậc, từ phàm phu chấp trụ đến Chư Thiên lập trụ, cùng Chư Tiên Thần an trụ, Ngoài ra Chư Bồ Tát tạm trú Chân Không khi bậc tu Tâm đắc Pháp Chân Không chính là một Pháp áo giáp Bát Nhã Ba La Mật Đa để cho bậc tu mang vào khỏi vướng mắc các Pháp, nó cứu cánh Tối Diệu thậm thâm. Nếu kẻ chưa biết dùng nó ngỡ mình đã Sở Đắc Chân Lý, đoạt Vô Thượng Chánh giác, liền mang thêm vào tham vọng ngạo mạn Tăng Thượng phải sa vào tà Kiến bị báo nơi Địa Ngục A Tỳ.

Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn, nên nhớ lời nói trên, phải tự lượng chỗ nghi ngờ chưa tỏ rõ nơi mình mà nương theo vết chân Chư Bồ Tát Nguyện Bồ Tát Hạnh đặng tu lấy Tâm thông đạt tâm, sạch sẽ Tâm Không chổ chỉ mới là Chân Tâm.

Nếu chẳng như thế thì dù cho gặp Bậc Thiện Tri Thức đứng trước mặt mình là Phật chỉ dạy mình chăng nữa, cũng không thể nào đưa nổi mình đặng. Chính tự mình nâng mình Chánh Kiến, cũng do mình đem mình vào Tà kiến, do chính mình đưa mình đến Tịnh Độ hay lạc vào Tiên Đạo. Lỗi ấy không phải lỗi của bậc Chỉ Đạo mà chính lỗi ấy do nơi mình thường chấp cái biết của mình gọi là: Năng Sở Kiến Tri mà mình lãnh lấy Chứng vị.

Có những năng sở kiến tri gì phải bị sai lạc như thế?

– Một là thường chấp cái thấy biết của mình, mộng tưởng điên đảo cứu cánh Niết Bàn an trụ tu chứng. Dùng Định tưởng, huân tập tâm nơi sắc Pháp thành tựu thọ chấp Tu Luyện mà lâm vào Định tưởng trở thành Hữu Dư Niết Bàn sai lạc vào Tiên Đạo hoặc Đắc A La Hán.

– Hai là thường chấp nơi Thanh Tịnh của mình, bậc này trên vẫn gìn giữ Đạo Hạnh, vẫn tự kiểm soát lấy mình, trên cung kính Tam Bảo, dưới Lục Hòa Tín Chúng, lấy Đạo Tràng an vui sở trú, thật biết tất cả Tịnh Bất Tịnh, ngạo mạn tăng thượng, nhưng chẳng làm cho Công Đức nơi mình tổn thương. Duy chỉ có lập Thanh Tịnh làm nơi Năng Sở Kiến Tri mà huân tập Tâm trong thời gian thật chứng TỊNH ĐỘ, còn một lối về Tịnh Độ là lối ép Tâm, Hỷ Xả chướng ngại gìn giữ Thanh Tịnh được độ, gọi là Tịnh Độ được độ.

– Ba là lúc Sở Đắc Pháp Chân Không rỗng rang Thanh Tịnh, nhìn trên Tam Thế, nhìn đến Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới tất cả Vũ Trụ Sơn Hà Đại Địa đều Chân Không, Tâm vô ngại kia mừng rỡ chẳng còn ngăn ngại lấy một Pháp nào chứa đọng, liền vội vàng Năng Sở Kiến Tri Thọ Chấp KHÔNG. Do lẽ ấy Tâm Thanh Tịnh trở thành Tâm Vô Ngại, có Vô Ngại nơi không kia mà phát sanh ngạo mạn Tăng Thượng phóng đạt buông lung bước vào đường Bất Tịnh, Nghịch Hành lung lạc để thỏa mãn nhu cầu tham vọng, cứ ngỡ rằng mình Sở Đắc Chánh Giác tối thượng, nên thường dùng câu: Không Trụ Không Tu Không Chứng làm nơi Tâm vô ngại, do đó Tâm liền phát sanh Tăng Thượng, cười chê các bậc Tu Hành, các phẩm Đạo Hạnh, Công Đức đều là lầm lạc, Đạo Tràng phẩm Công Đức, Hạnh Nguyện thảy đều bó buộc trói mình, lại so nơi mình và Chư Phật bình đẳng hoặc chính nơi mình còn hơn thế nữa, mà phải lâm vào TÀ KIẾN.

Này Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn, ba lối Tu sai lạc trên, các Thiện Nam, các Thiện Nữ hãy xem kỹ đọc tụng rõ ràng để mà Tu, nó duy nhất đúng sai chỉ có: THƯỜNG CHẤP THẤY BIẾT CỦA MÌNH, gọi là Năng Sở Kiến Tri Thọ Chấp, trở thành Chứng Vị sai lạc khác nhau, sinh ra nhiều thứ lớp Chứng Tri khác biệt.

Bậc căn bản Bồ Tát Nguyện, bậc này không bao giờ dùng Năng Sở Kiến Tri nơi mình để Thọ Chấp, vì sao? Vì bậc nầy thường kiểm soát, suy ngẫm lấy chính mình, từ cử động đến Ngôn Hạnh để mà Tỏ Ngộ tu đến Rốt Ráo Chánh Giác, do lẽ ấy mà không có Năng Sở để Kiến Tri chủ thủ. Bậc Bồ Tát Nguyện thật biết, những loài Thảo Mộc Hoa Trái đến thời đơm bông trổ nhụy, thì đương nhiên nó phải đơm bông và trổ nhụy không cần đem thứ chi đổ trên hoa nhụy của nó. Trên bước đường Tu Tâm cũng thế, nên không dùng Định Tưởng để an trụ, không dụng Thanh Tịnh để Thủ Chủ, không dùng tất cả để Thọ Chấp mà trái lại trọn tất cả Chánh Giác.

Đối với Tăng Thượng Nghịch Hành ngạo mạn, bậc Bồ Tát Nguyện rất thịnh trọng, rất chu đáo, không thể nào hành sự được vì sao? Vì mục tiêu Chánh Báo nơi Báo Thân không quái ngại chi tất cả nhưng rất cần thứ lớp Trang Nghiêm, lúc lập hạnh Trang Nghiêm đương thời Chánh Báo Trang Nghiêm, Chánh Báo Trang Nghiêm do đâu mà thành Tựu?

– Do Chân Tâm phổ chiếu, do Thanh Tịnh đến Đại Thanh Tịnh tỏ rõ tỉ mỉ Thật Giác mà Thành Tựu, vì lẽ ấy nên không hành sự Tăng Thượng Nghịch Hành ngạo mạn. Lại nữa, vì lòng Tha Lợi Độ Sinh nên mới gìn giữ Đạo Tràng, gìn giữ ngôi Tam Bảo để tưởng niệm Công Đức vô lượng vô biên Chư Phật đã Tha Lợi thi hành cứu giúp, hôm nay nguyện nương theo dấu vết Chư Phật thi hành Phật Sự đặng duy trì Bảo Pháp không ngừng dứt. Nhờ Bồ Tát Đại Nguyện như thế nên chi khỏi vào nơi cuồng vọng, khỏi bị dục vọng sai khiến, lại khỏi lầm lẫn nơi Tà Kiến.

Đại Nguyện Bồ Tát thật hành mà phát Tâm ngăn trừ các vọng khởi, mong cầu ham muốn, nên Tâm không có chỗ THAM để VỌNG, không vọng nào có ĐẢO, không Đảo cũng không Vọng, đương nhiên không Tham, đã không còn nơi Tham thì liền Sở Đắc Đại Thanh Tịnh.

Khi Sở Đắc Đại Thanh Tịnh. Bậc nầy đã từng nương nhờ VÔ NGÃ, đã từng lìa Bản Ngã cùng Ngã Sở nên Tâm mới đặng thông, gọi là Tâm Thông, nhờ Tâm Thông nên mới Nhiếp Thâu tất cả các Năng Sở Thọ Ngã của những bậc vọng đảo chứng, tu mà tỏ rõ tất cả từng thứ lớp căn bệnh chấp thủ, liền Tu Chứng Bản Thể Tâm thành tựu Chân Tâm.

Chân Tâm Bất Sanh, Bất Diệt, Bất Cấu, Bất Tịnh, đồng hợp Như Lai Tạng liền tự sanh Diệu Giác Minh để soi khắp Pháp Giới, Soi khắp tất cả ẨN HIỆN không thiếu sót, liền Sở Đắc TỔNG TRÌ ĐÀ LA NI TẠNG, nơi Tổng Trì Đà La Ni Tạng nầy, nó đã có rất nhiều Công Năng mới thành tựu, từ Tu Tâm đến Tâm Vô Ngại, từ Vô Ngại đến Tự Tại Tâm, từ Tự Tại Tâm đến Đại Bi Tâm. Từ Đại Bi Tâm đến TỔNG TRÌ ĐÀ LA NI TẠNG.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG
“Đồng Phụng Chép Để Phổ Truyền”
Ngày 06 tháng 9 năm Giáp Dần

 

 

 

 

 

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 26

                                                    Ngày 22 tháng 9 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN

TRÍCH NƠI BẢO PHẨM XUẤT THẾ CHƠN KINH của Đức Tăng Chủ Nhất Tôn

LỤC-BA-LA MẬT-ĐA NHIẾP ĐỘ LỤC ĐẠO

Chúng tôi trong BAN HỘ ĐẠO, cùng Tứ Chúng PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM Trung Ương Hội Thượng. Được ĐỨC TĂNG CHỦ cho phép trích trong BẢO PHẨM XUẤT THẾ CHƠN KINH về phẩm LỤC-BA-LA MẬT-ĐA nhiếp thâu LỤC ĐẠO. Để phổ truyền từ các Tỉnh-Thị-Hội, cho đến Quận Hội, Hội Sở, Chi Hội, Tứ Chúng đồng Phụng Hành.

LỤC-BA-LA MẬT-ĐA nhiếp độ LỤC ĐẠO như sau:

– Vì Tự Tại ĐẠI BI mới nói lên Pháp Tối Diệu này của Chư Bồ Tát thường phụng hành để nhiếp độ Lục Đạo, cứu độ Chúng Sanh trong Ba Cõi Sáu Đường làm phẩm Công Đức Cúng Dường Chư Phật. Bậc Tu Hành luôn luôn đang nằm nơi Lục Đạo, không chịu tu trì phụng hành Bố-Thí Trì-Giới Tinh-Tấn Nhẫn-Nhục Trí-Tuệ Thiền-Định thời chẳng bao giờ tỏ thông các Pháp, không dùng Công Đức nhiếp độ Lục Đạo, thì không bao giờ thoát khỏi Ba Cõi Sáu Đường mà Sở Đắc Thật Chứng.

Bồ Tát Hóa Độ Giới sinh trong Lục Đạo Pháp Giới. Bồ Tát thật biết sự lầm lẫn chia ra nhiều Pháp Giới trùng trùng Pháp Giới, nhưng do căn khởi trở về khởi căn mà thụ thai sanh trưởng Lục Đạo làm nơi an trụ Chúng Sanh, khi tập nhiễm Thọ Chấp, hoặc lúc chưa tập nhiễm không thọ chấp vẫn phải vướng mắc nơi Lục Đạo đã có vướng mắc, vương mang thì nên thi hành hóa độ mới rốt ráo, bằng chưa thi hành hóa độ chưa bao giờ rốt được. Vì sao? Vì trót đạp phải gai, khi biết mình đạp gai phải nên lấy gai để giải gai. Lúc trót lầm huyển phải dụng huyển để tu, huyển hết đương nhiên Giác Ngộ, chớ không đi vào huyển không bao giờ thâm nhập Giác Ngộ đặng.

  • BỐ THÍ NHIẾP ĐỘ ĐỊA NGỤC

Bậc Tín Tâm cầu đạo thường hướng thượng tu theo Bồ Tát Hạnh vẫn dùng phẩm Công Đức cấu tạo Công Năng thọ trì Bảo Pháp nên chi lập Bố Thí Nguyện để nhiếp độ Địa Ngục, thường Hành Thâm trên con đường khổ mới phát lời Nguyện rằng: Tôi chịu nhận lấy cái khổ để cho Chúng sanh được thoát khỏi Địa Ngục, nhờ lời phát nguyện ấy mà bậc tu hành mới thoát khỏi Địa Ngục nhiếp độ Địa Ngục.

Chư Bồ Tát nhận lãnh phẩm Bố Thí giúp đỡ cho Chúng Sanh, cúng dường Chư Phật. Hằng đem bộ óc tìm nơi mê lầm đen tối của Chúng Sanh đặng giải mê phá chấp, Chúng sanh qua đặng cơn đen tối mê lầm, tai của Chúng Sanh biết nghe Pháp, óc của Chúng Sanh được viên thông chỉ nương nhờ pháp Bố Thí của Bồ Tát mà thành tựu.

Bồ Tát thật biết pháp Bố Thí là một Bảo Phẩm thoát trần lao Địa Ngục, nên Bồ Tát nguyện đem thân mạng cứu giúp cho Chúng Sanh bằng cách mở Hội Trường chỉ dạy Đạo Đức tu học, ban cho thuốc men trong lúc bệnh hoạn nguy kịch, Bồ Tát tự tay cứu chữa rất nhiều căn bệnh từ thân mạng đến Trí Tuệ mê lầm thảy đều chữa trị không chối cãi, miễn Chúng Sanh vui Bồ Tát được vui.

Bồ Tát lại đem tài lực cứu độ bằng cách thành lập Đạo Hạnh, chỉ dạy Bố Thí trai đàn để vãng sanh Địa Ngục, dụng tài chánh xây chùa, dựng tháp Đa Bảo, dùng lễ bái cúng lạy chiêng trống tràng phang Bảo Cái quyết lòng trên cúng dường Chư Phật, dưới Bố Thí Chúng Sanh để nương nhờ phẩm Bố Thí mà cứu độ Chúng Sanh thoát nơi cực khổ không ngừng của Địa Ngục.

Bồ Tát đã thi hành phẩm Công Đức Bố Thí, Bồ Tát thường bảo trì Bố Thí, vì bảo trì nên Bồ Tát không kể ơn nghĩa trong phẩm Bố Thí, nhờ không kể ơn nên Công Đức Bố Thí được trọn Ba La Mật Đa hoàn mỹ.

  • TRÌ GIỚI NHIẾP ĐỘ NGẠ QUỶ

Khi biết được Bố Thí là nhiếp độ Địa Ngục, liền tự kiểm kê lấy công năng tu tập nơi mình giới hạn Đức Tánh nơi nào còn chênh lệch thiếu sót, đúng đắn với một Chân Phật Tử hay chưa đúng đắn, lúc bấy giờ mới tùy khả năng Công Đức bảo trì tư cách cùng ngôn hạnh đặng khỏi vương vào Ngạ Quỷ. Bậc này thật biết, Ngạ Quỷ hay buông lung, ngôn hạnh bừa bãi, tánh nết không chừng, do không chừng như thế nên chi sự tiêu xài quá lố, đến lúc keo kiệt thì quá kể, lại ưa xu nịnh điêu ngoa để tìm lối ăn tiền bạc rượu chè của kẻ khác, lại thường vui thích nơi ăn chơi bài bạc làm nơi sở thích chính mình, khi chẳng thỏa mãn, hận thù sân si, chém giết phải sa nơi Địa Ngục.

Do thật biết nên mới dùng pháp Trì Giới để nhiếp độ Ngạ Quỷ, vì Trì Giới nên mới sửa sang Đức Tánh quân bình, nói năng từ tốn, tiêu xài vừa giới độ của mình, không bừa bãi, cũng không keo kiệt, lại thường dùng trang nghiêm đúng đắn giúp đỡ cho tất cả mọi người không kể lể chẳng dục lợi riêng nơi mình mà làm thiệt hại kẻ khác, đó chính là Trì Giới Ba La Mật Đa.

  • TINH TẤN NHIẾP ĐỘ SÚC SANH

Súc Sanh chính là một Pháp Giới, nhẹ nhàng đưa tất cả từng lớp Dục Vọng vào nơi Sanh Tử. Súc Sanh có một sức mạnh vô biên, nó là một pháp Ái Khả đứng nhất, nó đưa đến cho Chúng Sanh mê man trong vòng Dục Vọng mơ ước đòi hỏi theo nó, nó lại tạo cho Chúng Sanh đi nơi Ái Dục Ái Nịch không ngừng, nó cảm hóa Chúng Sanh phải dùng cái sống nơi nó mà gợi lòng tham muốn nơi SẮC, THINH, HƯƠNG, VỊ để cầu van cho thỏa tình Dục Vọng, thèm khát xin xỏ theo con đường Sanh–Diệt, Diệt–Sanh không ngừng nghỉ.

Từ một nơi SẮC-PHÁP HOA-MỸ, nó gợi cho luyến ái, khi đã luyến ái đương nhiên sanh Tình Ái, từ nơi tình ái không rời sinh ra Ái Nịch, nơi ái nịch thỏa thích dục vọng sinh ra Ái Dục. Khi đã ái dục liền tạo thành Danh Vọng thèm khát mong chờ theo Danh Vọng đuổi bắt, lại còn mong cầu nơi danh vọng có đầy đủ Hương Vị Hạnh Phúc, lúc có hương vị liền mong mỏi Địa Vị, trong vòng quanh quẩn chỉ có Sắc-Thinh-Hương-Vị mà phải lâm vào nơi Xúc Pháp.

Khi bị thất bại về Địa Vị liền sinh lòng buồn khổ, thường hay oán đời sa vào Địa Ngục. Lúc Hương Vị mất thể diện thì Danh Vọng phải mất Tâm sanh buồn chán, sống trong vòng phiền não sa vào Địa Ngục. Khi thất bại trên con đường Tài Chánh, ái nịch, ái dục bị thất vọng, khổ sở than phiền sa vào Địa Ngục. Lúc không thỏa mản nhu cầu, Danh Vọng tiêu hao, tiền bạc không còn, đương nhiên Tình Ái mất hẳn, bị phụ bạc sinh ưu phiền khổ sở, than khóc không ngừng sa vào Địa Ngục.

Bậc tu pháp Tinh Tấn không ngừng nghỉ để nhiếp độ các Dục Vọng mơ ước, lìa các Danh Giả Hương Vị, mục đích hàng phục, điều ngự Tâm để khỏi sa vào Súc Sanh Giới. Càng Tinh Tấn bao nhiêu thì còn Công Đức bấy nhiêu, càng Công Đức bao nhiêu lại tạo Công Năng đầy đủ để lướt qua các nơi Tham Vọng ảo tưởng của Súc Sanh Giới. Đó chính là Bậc biết nhiếp độ Súc Sanh. Còn bậc chưa được tỏ rõ, chỉ hiểu biết có một khía cạnh nào thì bậc này chỉ biết Dâm Dục là Súc Sanh, khi tu mong thoát khỏi Súc Sanh bằng cách ly dục mà trở thành chưa trọn Súc Sanh Giới vì sao? Vì Ly Dâm Dục, tu nơi Dục Vọng, tu trong Dục Vọng tham muốn mong cầu trở thành Tiên Đạo. Duy nhất chỉ có SẮC – THINH – HƯƠNG – VỊ mà không nhiễm mới qua nổi, bằng nhiễm thì đương nhiên phải bị, đó chính là yếu tố trong Ba La Mật Đa Nhiếp Độ vậy.

● NHẪN NHỤC NHIẾP ĐỘ A–TU–LA.

Pháp Giới A-Tu-La là một pháp Nóng Nảy thường tạo Vô Minh, thường tồi phá Phẩm Hạnh, thường làm đổ vỡ phẩm Công Đức, do lẽ ấy bậc A La Hán nóng nảy không khác nào bưng Ngũ Độc để uống. A Tu La lại thường tạo nên Nghiệp, tạo nên sự tranh giành gây gỗ, vô tình làm thành đường dây Sanh-Tử Luân-Hồi vô tận.

A Tu La pháp giới có hai Chánh Báo cùng chịu báo.

– Lối thứ nhất, bậc gieo trồng Đức Hạnh, Bố Thí Thân Tâm quảng đại, cứu giúp cho tất cả mọi trường hợp ngặt nghèo, không kể lể miễn sao tạo được Phước Điền, nên chi từ trên đến kẻ dưới thảy đều quý mến. Nhưng vì Nghiệp Chủng A Tu La chưa dùng Nhẫn Nhục để Nhiếp Độ do lẽ ấy mà hơi trái với thâm tâm liền nổi nóng, la hét tạo thành vô minh chủng nghiệp, sau khi Chánh Báo đặng mức Tiên Thần, tức là vị Thần ở cõi Thiên. Còn một bậc nữa vẫn dụng Đức Hạnh bố thí, thân tâm quảng đại, cứu giúp kẻ nghèo khó, nhưng lập Phước Đức nhỏ nhen không bằng bậc trên đã nói, cũng chỉ vì Pháp Giới A Tu La dằn lòng chẳng đặng, vẫn được Chánh Báo Thần Hoàng hay Thổ Địa.

– Lối thứ hai, kẻ này thường dùng cá tánh bảo thủ, gặp trường hợp trái ý liền sân hận, thù hằn, nóng nảy, chưởi bới, hăm dọa, đâm chém, lấy hung bạo để làm mức sống, lấy uy quyền dọa nạt kẻ hiền lành, lấy địa vị để chiếm đoạt gia tài hay tiền bạc, kẻ ấy thường cấu tạo Vô Minh, nhưng thật chẳng biết mình đang uống phải Ngũ Độc A Tu La Pháp Giới, ngỡ mình là anh hùng can đảm. Đến lúc mạng Căn hết sanh về A Tu La Quỷ. Còn nhẹ hơn kẻ nói trên, có một lương tâm suy nghĩ biết hối cải thì được sanh vào Thần Quỷ A Tu La. Bọn Quỷ A Tu La là một cảnh giới tắm bằng lửa, uống bằng lửa, sống trong lửa, còn Thần Quỷ A Tu La thì thường ở nơi cây cao bóng mát, hay bắt bớ để kiếm ăn bằng cúng lễ các Miếu ngã ba hay bên sườn núi.

Pháp Hạnh Nhẫn Nhục mới có thể đối trị nhiếp độ A Tu La thôi, ngoài ra không có Pháp nào đối trị để nhiếp độ đặng, bởi như thế nên chi Chư Bồ Tát phải dùng, Chư Phật đã dùng, hôm nay bậc Tu đang dùng Nhẫn Nhục nhiếp độ tánh nóng nảy của Chủng Tánh A Tu La, cốt dứt nghiệp quả của quá khứ, hiện tại thề nguyện nhiếp độ đoạn.

Bậc tu Pháp Hạnh Nhẫn Nhục thật biết pháp Nhẫn Nhục cao quý vô giá, vì sao? Vì dùng Nhẫn Nhục vừa nhiếp độ A Tu La lại vừa nhiếp Tâm đang đứng trước kẻ ngạo mạn nóng nảy họ đã lầm lẫn nung đúc A Tu La chạy vòng nơi Nhân Quả Luân Hồi.

Bậc nhiếp độ rõ biết Chủng Tánh A Tu La là một chủng tánh gây tạo Vô Minh nghiệp quả trở thành Nóng Nảy thiêu đốt Phúc Quả, thiêu đốt Thiện Căn, tồi phá Trí Tuệ, dung dưỡng Bản Ngã, nuôi nấng Tự Ngã càng ngày càng thêm Thọ Nghiệp. Hôm nay dụng Nhẫn Nhục nhiếp độ nơi mình, cùng giúp cho kẻ gần mình được sự nhiếp độ tránh khỏi A Tu La, phát Bồ Đề Tâm Nguyện.

Bậc tu Pháp Hạnh Nhẫn Nhục nhiếp độ A Tu La tỏ rõ, khi kẻ đang thọ nghiệp chủng tánh A Tu La liền chưa có Phật Tánh, nên chi nóng nảy chém giết sa nơi Địa Ngục, đến lúc từ một NHẪN biết hối cải ở nơi Địa Ngục Nhẫn Nhục đương nhiên Phật Tánh lộ diện mà thoát khỏi Địa Ngục. Do thật biết A Tu La Chủng Tánh làm cho Phật Tánh không thể nào lộ diện nguy hại như thế nên mới Nhẫn Nhục để nhiếp độ, khi đã nhiếp độ đặng A Tu La thì Thân Tâm Thanh Tịnh, Sở Đắc Bình Đẳng Tánh Trí đồng với Diệu Quang Sát Trí thoát khỏi A Tu La pháp giới. Bằng chưa Nhẫn Nhục nhiếp độ thì dù cho có Sở Đắc Chân Lý thành Phật chăng cũng là Phật Thể Hiện Hóa Độ A Tu La thôi.

  • TRÍ TUỆ NHIẾP ĐỘ NHÂN

Trong Lục Đạo không có nơi nào thường chấp cho bằng Nhân Đạo, do thường chấp như thế Tâm phân biệt theo ý thức. Khi Nhân Sanh phân tách từng ý thức để rõ biết thì cái biết kia nó đã nằm nơi Ý Thức Hệ, ý thức hệ chính là một hệ thống Pháp Giới, do lẽ ấy nên chi học hỏi từng hệ thống ý thức bao nhiêu lại càng cố thủ để thọ chấp bấy nhiêu, càng học rộng trở thành bậc Trí Thức bao nhiêu lại càng bị đóng nơi khuôn thường chấp bấy nhiêu. Bậc Trí Thức phần nhiều tu tập khảo cứu nghiên cứu bao nhiêu thời nhiễm nơi Trí Thức pháp giới bị biết, rất hiếm bậc Tự Biết có Trí Tuệ thanh thoát, do đó nên mờ tối đâm ra mê tín, bởi lầm mê nơi kiến thức của mình.

Căn bệnh thường chấp, thường cho lẽ phải nơi mình hơn hết chính là một căn bệnh trầm trọng khó giải vì bệnh thường chấp nên chi phát sanh thường nghi, gọi là Nghi Chấp, đã nghi chấp đương nhiên mỗi Nhân Sinh đều cố thủ lẽ phải nơi mình, nghi kẻ nọ không biết mình cho mình là Quấy, trở thành nghi người đến mình vẫn bị mình nghi lấy.

Nói đến bệnh Thường Nghi, Thường Chấp trên Ý Thức đến Trí Thức chia ra nhiều giai cấp, nhiều trình độ, nhiều ý nghĩ khác nhau trở thành khắc biệt không đồng, nên mới có sự tranh giành từ quyền lợi đến ý thức hơn thua nhau thật là vô kể. Đối với Nhân Sinh Pháp Giới vì thường nghi chấp nên nếp sống trong vòng 20 năm liền có một năm tụ tập để chém giết nhau, 20 ngày sẽ có nửa ngày gây gỗ, 20 giờ liền có 05 phút ganh tị hoặc ghét ghen, mãi cứ chống trả nhau nơi sự bất đồng chỉ vì riêng tư nơi thường chấp.

So đến các nơi như: Địa Ngục Pháp Giới chỉ có một căn bệnh ở trong Cái Khổ, mong thoát khỏi nơi Khổ, khi đã thoát được là toại nguyện hồi hướng.

So Ngạ Quỷ có mỗi một căn bệnh tham lam ăn xài tiêu phí riêng cho mình, lại hay keo kiệt đối với kẻ khác, nếu đặng như ý cầu liền toại nguyện, bọn Ngạ quỷ rất ít nghi chấp, ưa bạn bè, thường gìn giữ Ẩm Thực và Tài Chánh cá nhân.

So với Súc Sanh chỉ có ước mơ Sắc Pháp Hoa Mỹ, lại đi nơi ái dục ái nịch nhiều hơn, ngoài ra họ vẫn dễ dãi ít nghi chấp, có khi họ thường trao đổi vợ chồng trong chốc lát làm thú vui giữa buổi dạ hội, nếu được như ý họ liền toại nguyện.

Về A Tu La có căn bệnh Nóng Nảy vội vàng bộc phát, sau khi hết cơn thường hay tự hối, lại cũng thường hay tự phát. Nếu bình thường rất ngay thẳng chân thật, chừa bỏ Cổi Giải được liền toại nguyện.

Tự Tại Đại Bi Tâm nêu rõ ra đây để các bậc tu nhận thấy, căn bệnh THƯỜNG CHẤP, chính là một căn bệnh đảo điên đòi hỏi quá nhiều, do nơi Tham Vọng sinh điên đảo nên phải dùng Trí Tuệ Nhiếp Độ giải mê, phá nghi chấp, phải dùng Trí Tuệ Nhiếp Độ Trí Thức, dùng Đại Trí để Nhiếp Độ Ý Thức, dùng Tạng Thức Nhiếp Độ Đại Trí đưa về Như Trí đến Như Lai Tạng, thông tạng Giác Ngộ.

Đại Bi Tâm do tình duy nhất mà nói lên Sự Thật, không sợ độc ác, chỉ sợ không biết hối cải, không đáng sợ bừa bãi nghinh ngang, ăn xài quá lố, keo kiệt nơi cá tánh mình, mà đáng sợ chưa biết hối cải. Không sợ Sắc Pháp hoa mỹ, ái dục chìm đắm mà chỉ sợ không biết ăn năn hối cải. Không sợ Nóng Nảy chém giết gây nhiều tội lỗi phá chùa, phản thầy phản bạn, mà đáng sợ chưa ăn năn sám hối. Khi bậc đã ăn năn sám hối chừa bỏ không tái phạm lỗi lầm việc đã làm trước, nay thề nguyện không làm. Từ một phàm phu lầm lẫn, nay nhất tâm niệm một câu CHÁNH NIỆM liền thành Phật.

  • THIỀN ĐỊNH NHIẾP ĐỘ THIÊN

Môn Thiền Định chính là một môn Nhiếp Độ Chư Thiên cũng là một môn Trí Tuệ Diệu Giác Viên Minh, tỏ rõ hiện tại đang làm, vị lai phải đến.

“Có làm mới thấu trắng đen.
Chưa làm chỉ nói đã thèm thế thôi. “

Bậc bước vào Tu Thiền đến khi dùng Thiền Định để Nhiếp Độ Chư Thiên, Bậc này thi hành nơi Lục Đạo ít nhiễm, vì sao? Vì bản năng Thường Nhiễm, Thường Trụ, Thường Chấp, chính là một nguồn mê đang tập nhiễm nơi Lục Đạo, nếu chưa Tu Thiền hoặc giả tọa thiền đơn giản Tâm lại thường mắc miếu nơi nghi chấp, chớ chưa lướt qua giai đoạn Nghi Chấp Phá Chấp Nghi, tỏ thông vạn Pháp.

Tu Thiền có một Trí Tuệ siêu thoát, nhận tỏ được lỗi lầm chính bậc tu đang vấp phải, rõ biết được những điểm sai vọng ở nơi mơ ước của vọng thức, thần thức viễn vong, còn có thể gìn giữ mục tiêu để đào tạo Chánh Giác, gọi là lập trường Bất Diệt Không Hai Tướng.

Tu Thiền thật biết sát thật. Chư Thiên, Chư Tiên cùng tất cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, mỗi một Chủng Tánh nào Chánh Báo nơi cõi nào, quyết định không sai chạy, hoặc giả đến nơi Chánh Báo Cảnh Giới, tuổi thọ nơi cảnh giới đó được hưởng bao nhiêu, lúc nào là lúc diệt vong, khi nào là khi thành tựu, thật biết chẳng khác nào kẻ biết đặng tuổi thọ của hoa trái, tuổi thọ của các loài Phù Dung, loài trùng loài dế cùng các loài khác ở nơi quả Địa Cầu này vậy. Do thật biết như thế nên chi Thiền Định để nhiếp độ thật rõ ràng tận biết Chư Thiên Tiên Thần không tập nhiễm cầu mong Thiên Tiên Thần để mà mình Chánh Báo nơi đó làm chi, nhờ biết được biết tỏ rõ nên Tâm không còn Tham Vọng mà hoàn toàn Giải Thoát khỏi Lục Đạo.

Bậc Tu Thiền và kẻ chưa Tu Thiền, Tướng thấy đồng nhau, nhưng Tánh thấy khác xa vạn dặm, nhờ dùng nơi Tánh Thấy mà thấy được Giác Minh, thấy được Thật Tướng về Như Tướng, nhờ Tánh Thấy mà thật biết tỏ rõ Chủng Tánh của Chư Thiên, Chủng Tánh Chúng Sanh, Chủng Tánh Bồ Tát, Chủng Tánh Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, đến A Tu La nơi Lục Đạo thảy đều tỏ rõ chẳng khác nào thấy được đứa bé đang cười vui thích khi cha mẹ cho quà mừng rỡ vậy.

Bậc Tu Thiền và kẻ chưa Tu Thiền, Cái Biết đồng đẳng, nhưng Tánh Biết khác xa muôn thế kỷ, nhờ nơi tận biết như thế mà có thể biết được Quả Địa Cầu này, tôn sùng các Chí Tôn Phật Đạo, Thiên Chúa cùng các Bậc họ đã Cung Kính Tôn Sùng. Vậy thì muôn ngàn vạn Hành Tinh khác, mỗi Hành Tinh đều có mục đích nơi họ Tôn Sùng Cung Kính những Vị đang Tôn Kính. Biết đến tận biết như thế, bậc nầy mới du hành dạo khắp, đồng hiện theo sở cầu của mỗi Hành Tinh để Nhiếp Độ, bằng lời lẽ diễn giải đúng theo tinh thần mong mỏi của hành tinh để cho chúng họ vui vẻ an lành Thân Khẩu Ý mà phát Bồ Đề Tâm Nguyện tu sửa tùy theo mỗi nơi mà Thọ Ký.

Bậc Tu Thiền thật biết Nhân Sinh Quan. Thiên Sanh Quan. Tiên Sanh Quan. Thánh Sanh Quan chung gồm các cõi cùng các Giới thảy đều dùng Ý Thức Hệ cực đối của Cảnh Giới hay Cõi hoặc Thế Giới của mình phân tách minh định tạo thành. Bậc Thiền định biết rõ họ đang theo dõi sống nơi mê man hoài ảo, nếu họ dùng đặng Trí Thiền Định họ liền tự biết nó không khác mấy với con Diều Giấy đang bay trên hư không, mà kẻ nắm dây Diều chính là một đứa bé đang vui thích mừng rỡ vì con Diều không thể nào ra khỏi đường dây của nó vậy .

Bậc Tu Thiền còn nghe được hơi thở của loài thảo mộc, cây cối cùng Quả Địa Cầu nhịp nhàng động thở cho đến tiếng Nhạc Trời của Chư Thiên trổi lên từng lúc thanh bình, nhờ nghe như thế, nhờ thấy như vậy, nhờ biết tường tận những gì mà tất cả đang lầm tưởng, do nơi lầm tưởng đương nhiên mong ước, do mong ước nên mới có gây ra được mất hơn thua tranh giành với nhau từng lúc, từng hồi và từng kiếp đâm âu lo sợ sệt chết sống không biết nó sẽ về đâu? Nếu tất cả thảy đều biết rằng: Từ Quả Địa Cầu cho đến các Cõi hoặc các Cảnh Giới, các Hành Tinh nơi Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới này. Sau khi mãn phần trong một kiếp có đủ quyền thụ thai hay hóa thai, sanh thai bất luận nơi nào cũng được, không phải cầu mong mà nó đến. Duy Nhất đồng hiệp Chủng Tánh nó liền về ngay nơi hiệp.

Tất cả đã lầm, tưởng mình sau khi mãn phần hết kiếp vẫn sanh trong Quả Địa Cầu nầy, hoặc mình là người thời được sanh làm kiếp con Người, có kẻ lại lầm khi mình chết là mất. Nếu chính mình lầm tưởng mình làm người sau mãn kiếp vẫn sanh làm người. Thì loài Trâu, Bò, Chó, Ngựa cùng các loài khác nó cũng yên trí như thế, còn kẻ cho chết là mất thật quá ư lầm lẫn những lỗi lầm trên chỉ có bậc Trí Tuệ Thiền Định thật biết tỏ rõ tỉ mỉ. Mỗi một Bậc khi mãn phần hết kiếp thì từ nơi Quả Địa Cầu nầy, liền thoát sanh qua trăm ngàn Quả Địa Cầu khác, đến nơi đồng hợp với Đức Tính, đồng hợp với cử chỉ liền được sanh nơi đó, rất hiếm Bậc đặng đồng sanh nơi mình mới vừa thoát để sanh.

Lại có Bậc từ Quả Địa Cầu nầy, lúc mãn phần vừa mới được thoát sanh liền được sanh phải lướt qua trăn ngàn Cảnh Giới hoặc lướt qua trăm ngàn Cõi, Cảnh Giới nào hay Cõi nào đồng hợp với Đức Tánh Cử Chỉ liền được sanh nơi đó. Bậc Thiền Định thật biết trên Quả Địa Cầu nào bất luận, hoặc Cõi nào bất luận, hay Cảnh Giới nào bất luận thảy đều sắp xếp có Lục Đạo nơi đó để an bài cho những kẻ, những bậc đồng hiệp mà tự sanh nơi Pháp Giới Lục Đạo tại đó.

Bậc Thiền Định rất tường tận thật biết, cứ mỗi một kiếp như thế được thai sanh làm Người quá khó, vì sao? Vì nơi tư thế của con người có thể kiến tạo được nền Đức Trí vững chãi, có thể Tu Phật thành Phật, tu Tiên thành Tiên, có thể giải mê hết chấp trở nên Bậc Thánh. Đó là một cơ hội may mắn hiếm có. Nếu đã làm người chưa biết tạo lập một phước điền, chỉ biết có mưu sanh đời sống cung đốn cho dục vọng, lòng tham bảo thủ cá tánh riêng mình sung sướng, thì chính mình tự phá hoại nhân cách nơi mình.

Đến lúc mãn phần phải trả những gì mình đã làm trước, đó chính là món nợ mình đã vay lấy, từ nơi ẩm thực vui thú đã giết các sanh vật như kẻ cướp lấy thân của chúng làm món ăn nhậu tế lễ hoặc đình đám vui nhộn, miễn lúc bấy giờ mình thỏa thích, còn về phần chúng bị khổ đau thảy đều phải trả.

Do hành sự như thế nên chi con người nào có Diễm Phúc nhứt thời 100 năm được sanh vào một kiếp làm người, lại tùy theo nơi sống của con người ấy, khi mãn phần còn thừa bao nhiêu thì phải tuần tự trả nợ miệng trong kiếp làm người đã sát hại chúng. Đó mới nói về điểm chính, còn các điểm khác chưa kể đến.

Ngoài ra có những con người quá ư tàn bạo như buôn bán thân mạng loài vật, dụng thân tạo nghiệp bằng cách trộm cướp, dụng ý tạo nghiệp bằng mưu sĩ, lừa gạt, sát hại người, dụng khẩu tạo nghiệp bằng tư cách nói dối, nói làm thiệt hại người, nói làm cho suy đồi Phật Đạo, nói cho kẻ nọ hận người kia, thì không thể nào quyết đoán được bao nhiêu năm mà họ được tái sanh làm người.

Chỉ trừ Bậc Bố Thí khuyên người Bố Thí, Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục đồng khuyên người Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục. Bậc nầy không sát sanh thường khuyên người không sát sanh, tạo Phước Thiện, tạo Công Đức khuyên người tạo phước thiện, công đức.

Nương nhờ phẩm Công Đức thường khuyên người giúp đỡ cho người, quyết định không làm điều quấy trái với lương tâm Nhân Đạo, lại bày cho người khác y như mình đã làm, cố tạo cho mình Đức Trí, khuyên người nên lập Đức Hạnh, lần đưa cho họ Trí Tuệ. Bậc đã như thế không bao giờ phải trả, hay phải vay món nợ miệng được, vì sao? Vì đã từng gieo Đức nhiều mà tội ít, làm sao có chỗ trả?

Đoạn trên Tự Tại Đại Bi quyết chỉ pháp tối diệu mà Bồ Tát đang thi hành, Chư Phật đã thi hành để sung vào phẩm Công Đức cúng dường tạo Công Năng Thọ Lãnh Bảo Pháp. Đó chính là Phẩm NHIẾP ĐỘ LỤC ĐẠO chính mình đặng hoàn toàn thoát khỏi Lục Đạo.

Đại Bi nói một cách thiết thực để cho các Bậc tu hành hồi tỉnh nhận được lời nói nầy thì tránh khỏi tập khí sanh tử của Lục Đạo, lại tỏ rõ Chân Lý tuyệt đối mà Chư Phật đã ra chẳng biết bao nhiêu Công Trình tâm huyết, mong đời nầy cùng đời sau nhận chân được nó để mà tu, thì nền Chánh Pháp vẫn trường tồn vĩnh cửu nơi Đông Độ.

Dù cho Bậc có một Trí Tuệ cứu cánh, sạch tất cả những lý giải Chân Như chăng, hoặc giả có Bậc đã từng Tọa Thiền có Trí Tuệ Thiền Tọa, hai Bậc nầy hay nhiều Bậc khác tương đương trình độ. Nhưng chưa thi hành Hạnh Nguyện nhiếp độ Lục Ba La để ngộ nhập đoạt đến Mật Đa, thì những Bậc ấy vẫn còn tập khí sanh tử nơi Lục Đạo. Đó chính là một lời dĩ nhiên phải như thế.

“Đồng Phụng Chép Để Phổ Truyền”
Ngày 22 tháng 9 năm Giáp Dần

 

 

 

 

 

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 27

Ngày 22 tháng 10 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN Của Đức Tăng Chủ Nhất Tôn

SỰ TU HÀNH KHÓ MÀ KHÔNG KHÓ, BIẾT NHẬN CHÂN THẬT MỚI LÀ KHÓ

Lúc bấy giờ vào khoảng 8 giờ 45 phút tối ngày 22 tháng 10 năm Giáp Dần (1974) tôi về đến Trung Ương Hội Thượng, ĐỨC TĂNG CHỦ từ Tịnh Thất bước ra Chánh Điện, chúng Tôi đồng lễ bái xong đâu đó ngồi theo thứ lớp, giữa sự hiện diện gồm có: Ông Tạng Nguyên, Ông Pháp Sử, Ông Tạng Dụng, Bà Diệu Thái, Bà Tạng Trình và Bà Pháp Tùng. ĐỨC TĂNG CHỦ Ngài dạy:

– Các ông cũng nên biết, đối với Chân Lý nhà Phật, điểm khó nhất biết nhận và không biết nhận.

Khi chưa biết nhận được Chân Lý thì có đi tìm Chân Lý trên sơn lâm cùng cốc cũng chưa biết nhận lãnh để mà tu. Khi biết nhận lãnh ở ngay đô thị, quần chúng vẫn đoạt đến Chân Lý mà Giác Ngộ.

Do lẽ ấy mà ĐỨC VĂN THÙ Ngài nói:

– Chúng Sanh nó ở trong rừng thuốc của Như Lai có đầy đủ các môn thuốc chữa bệnh mê lầm cho nó, nó không nhận lấy để mà dùng, cứ mãi đi tìm trên ảo tượng, đó chính là điểm chứng minh.

– Các ông cũng nên biết, khi có kẻ oán đời, giận đời, trách đời đủ trăm phương vạn lối, tự sanh bó buộc Tâm, đi tìm sự tu tập để xa đời lánh bạn. Đến khi họ nhận được, họ liền tự hỏi: Đời là gì? Thế gian hay Thế ngay? rồi họ tự trả lời: Đây chính là Thế gian, đến khi biết như vậy họ mừng rỡ vui thích vì họ đã ở ngay Thế giới gian xảo mà Tâm họ vẫn ngay thẳng, nên họ không oán thế gian, họ còn cho Thế Gian là trợ Đạo cho họ, đó chính là Bậc biết nhận. Bậc biết nhận chân được như vậy cũng gọi là Trí Tuệ, là cứu cánh giải thoát từng giai đoạn cổi giải Tâm, phá mê chấp. Khi biết nhận như thế, họ lấy đường dây trên để tu bằng cách tự cổi giải tâm, họ tự biết những đố tật nào của kẻ bên ngoài xấu xa, làm cho mọi người không ưa thích thì họ lấy đó tự tu sửa chính cho họ. Khi nhìn thấy bên ngoài có kẻ đoan trang, nói năng từ tốn làm cho tất cả ai cũng kính nể thì liền bắt chước sự đoan trang, sự từ tốn để cho họ được mọi người kính nể.

– Các ông cũng nên biết, Tôi nói thời pháp trên tuy rất đơn giản, khi mà các ông biết nhận lấy nó nương theo đường lối ấy để mà tu, đương nhiên các ông vào Pháp Môn thực thể, tìm đặng Chơn Tánh mà Tu.

– Bằng các ông xem thiên kinh vạn điển, tư tưởng cầu mong Chư Phật chứng tri giúp đỡ các ông, mà đường tu của các ông chẳng thực thể là tu trên tưởng, chưa biết nhận chân.

– Từ phàm phu tu hành đến Giác Ngộ, họ vừa hiểu biết được Pháp Môn nào thì họ liền đem Pháp Môn ấy ra ứng dụng thực hành trong một thời gian kết quả hoàn mỹ. Cũng như có một vị chuyên ròng dùng Nhẫn Nhục để mà tu, phải thi hành trước hoàn cảnh để mà Nhẫn Nhục đến nỗi sau khi Tâm không còn hờn giận dù vô tình, cố ý đương nhiên thành tựu, biết được pháp Nhẫn Nhục chính là một Pháp Môn tối diệu cắt tất cả các đường dây sanh tử lại trọn thân bằng quý hữu chín kiếp mười đời của họ. Vì sao? Vì cuộc sanh tử luân chuyển kiếp này qua kiếp nọ vô tình hay cố ý họ gặp phải người nóng giận mà tiền kiếp là ông nội hay ông cha, họ phát sanh đánh đập gây tạo nhân quả. Khi họ nhẫn nhục được, đương nhiên họ đã trả ơn cho ông nội hay ông cha của tiền kiếp.

– Các ông cũng nên biết, đối với Đạo Phật, biết nhận thức Đạo Phật thì nên tu trì lý sự đồng song, khi mà lý sự đồng song thời mới biết Đạo Phật chính là một Chân Lý thực thể. Khi Bậc tu biết dùng Chân Lý thực thể thì luôn luôn con đường Giác Ngộ sẽ cận kề, còn chưa biết nhận lãnh thực thể thì dù có tu muôn kiếp cũng chẳng kết quả.

Chúng con được nghe Giáo Ngôn của ĐỨC  TĂNG CHỦ, chúng con rất vui mừng vì Ngài đã khai thị cho chúng con biết ứng dụng Chân Lý Thực Thể khỏi xa lìa Thể Tánh. Bởi chúng con còn lầm lẫn nên ảo vọng cầu mong. Khi có ảo vọng thì vẫn còn tham vọng nên phải xa lìa Thể Tánh. Ngài đã Từ Bi chỉ điểm cho chúng con trên con đường PHẬT-PHÁP BẤT LY THẾ-GIAN GIÁC để hoàn mỹ TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG

Ngày 22 tháng 10 năm Giáp Dần

Chân Phật Tử HOÀNG NGỌC SƠN

Pháp Danh      PHÁP TRÀNG

“Phụng ghi để phổ truyền”

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

THỜI PHÁP 2

Ngày 14 tháng 11 năm Giáp Dần

GIÁO NGÔN Của Đức Tăng Chủ Nhất Tôn

ĐẠO PHẨM

Lúc bấy giờ, vào đêm 14 rạng ngày Rằm tháng 11 năm Giáp Dần. Tứ Chúng Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam tề tựu rất đông đủ, từ hàng Tín Đồ Đạo Chúng đến hàng Trưởng Giả Chúng, Hộ Pháp Chúng cùng Thị Giả Chúng dự lễ sinh hoạt hàng tháng.

Tất cả toàn Tứ Chúng đều ngạc nhiên giữa đêm hôm ấy có một không khí điều hòa, Thân Tâm thoải mái lại thêm vào đó có các hàng từ xa về dự lễ.

Trước Chánh Điện Hương Trầm nghi ngút, anh em Tứ Chúng ngồi theo thứ lớp vì giờ hành lễ sắp đến. Một Thị Giả và một Hộ Pháp lên Cung Nghinh ĐỨC TĂNG CHỦ Chứng Minh Đại Lễ. Tiếng chuông reo báo hiệu ĐỨC  TĂNG CHỦ sắp Giáng Lâm, tất cả Tín Chúng đều Chiêm Ngưỡng ĐỨC TĂNG CHỦ từ Tịnh Thất bước ra, Tứ Chúng lễ bái. Ngài an tọa, sau khi hành lễ xong ĐỨC TĂNG CHỦ ban Giáo Ngôn, Ngài dạy:

– Hôm nay là ngày tôi đã viết vào BẢO PHẨM XUẤT THẾ CHƠN KINH với mục đề ĐẠO PHẨM, Tứ Chúng nên Nhứt Tâm Đảnh Lễ Chiêm Ngưỡng Tín Thành để Cung Thỉnh ĐỨC GIÁO CHỦ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT Chứng Minh lòng thành của Tứ Chúng, Tín Nguyện của tôi có bổn phận trên Báo Ân Tam Thế, dưới mở lối Vô Minh đã che khuất các ông làm cho thời Hạ Kiếp phải lạc hướng tu trở thành mơ màng ảo tưởng, bởi như thế nên tôi cũng thường nói các Nghiệp Thức, các Vọng Đảo tạo thành Vô Minh che khuất, nên những lời tôi dạy cho các ông chưa Thọ Lãnh được bao nhiêu, đối với con đường tu Chánh Giác nó hãy còn xa vời vợi. Do lẽ ấy tôi quyết định nói rõ Chân Lý của ĐỨC CHÍ TÔN chỉ thẳng đường lối sáng suốt để cho đời này và đời sau làm một tấm gương huy hoàng tu chứng thật sự TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

Các ông cũng nên biết, đối với Chánh Pháp Bảo Truyền nó đã bị thất lạc trên 1000 năm chớ chẳng phải bây giờ mới lạc, do lạc mà trở thành Mạt Pháp, chớ nào Pháp đâu phải Mạt. Do sự nhận định tinh thần Phật Đạo yếu kém thành thử lối tu cũng yếu kém, do Tâm Quán không minh định nên Tâm kia nó trở thành Vọng Đảo, Giáo Lý chưa nghe được bởi Hạnh Nguyện không tích cực thành thử con đường Chân Giác xa xăm, tôi sẽ cho các ông ghi chép lại thời Giáo Ngôn này ở trong tập Bảo Phẩm Xuất Thế Chơn Kinh, để cho các ông có đủ ý chí, tâm chí, quyết chí thành tựu Nhứt Tâm mà đi đến.

Ngài dạy xong trở về Tịnh Thất. Tứ Chúng thọ lãnh ghi chép để phổ truyền.

ĐẠO PHẨM

TỰ TẠI ĐẠI BI diễn giải về Đạo Phẩm, Đạo Phẩm duy nhất có một. Từ Đạo Tràng nhiếp thâu huân tập các Phẩm Nguyện đầy đủ gồm về một mối TRI KIẾN GIẢI THOÁT. Không ngoài hai chữ TU đồng với HÀNH. Đạo để huân tập LÝ TRÍ HƯỚNG THƯỢNG. Lý Trí Hướng Thượng là Chân Lý Tối Thượng Bát Nhã Trí. PHẨM cốt yếu thâm nhập vạn pháp, Tỏ Pháp Sở Đắc.

Đương thời này suy kém nơi Hướng Thượng, chỉ dùng Lý Trí chủ thủ trở thành Lý Luận suông, vì vậy nên đường tu dễ bị lầm vào Lý Chướng đến Sự Chướng, khi Lý Sự đều chướng thì Đạo Phẩm mơ màng, do mơ màng đâm ra mơ hồ thối chuyển, vì nó như thế nên: Tự mình Phát Tâm tu, rồi chính mình tự phản lấy.

Đứng trước mơ màng Đạo và Phẩm, các Bậc tu đang phân vân chưa quyết định, Tâm tự hỏi lấy Tâm. Nên ở Đạo Tràng hay nên lìa khỏi Đạo Tràng? Câu tự hỏi ấy nguyên nhân Lý Sự chướng mơ màng thối chuyển mà ra, chẳng phải do đâu mà có nó. Thời Trung Kiếp tất cả các Bậc tu hành chẳng có câu hỏi đó, vì sao? Vì Thời Trung Kiếp, Bậc tu ít Lý Trí, dụng Ý Trí nên chi tu thế nào hay Phát Nguyện ra sao vẫn gìn giữ Tròn Nguyện, nhờ thế mà không có vấn đáp phân vân toại nguyện thật chứng.

TỰ TẠI TÂM nói lên Đạo Tràng không phải THỦ mà cũng chẳng phải XẢ, không phải LẤY cũng chẳng phải BỎ. Nếu Đạo Tràng Cố Thủ, Tu Cầu thành Phật, thành Bồ Tát, thành Chư Thánh thì vẫn sai biệt với tinh thần toàn giác. Bằng Xả Bỏ Xa Lìa không chấp nhận Chư Phật, Chư Bồ Tát Tam Thiên vẫn sai biệt tinh thần Hoàn Giác lại bị lâm vòng KIẾN DỤC.

Sự Lấy Bỏ Thủ Xả do nơi Thật Hành chưa đúng Tinh Thần mục tiêu của Chân Giác, khi đã Tu đúng, nhận đúng liền biết, lúc đã biết mới nhận thấy: HUÂN TẬP ĐẠO TRÀNG ích lợi những gì, bằng không huân tập thiệt hại ra sao? Nếu thật hành đầy đủ các Phẩm có lợi những gì? Bằng chưa thật hành Phẩm thời nó ra sao?

Khi các Bậc tu hành nhận biết tỏ rõ Đạo Phẩm duy nhất, các Phẩm thảy đều là những môn Trợ Đạo bồi dưỡng cho Đạo Tràng, Chư Bồ Tát đã từng tu tập, đã từng dụng Chí Nguyện thật hành các Phẩm Nguyện làm tinh chất bồi dưỡng cho sự hiểu biết đến Giác Ngộ. Nay các Bậc tu mong cầu Diệu Quả Bồ Đề rất cần nương theo vết chân Chư Bồ Tát, đồng Hành, đồng Sự, đồng kết quả như nhau, đến lúc Chư Bồ Tát thành tựu Bồ Tát vẫn nương theo nơi Bổn Nguyện của Chư Phật đã làm, nay Bồ Tát phải làm mới kết quả, Hiện hành các Bậc Tu rất cần tu đúng tinh thần, tu đúng với Sở Nguyện thời làm gì không Giác Ngộ? Đó chính là lẽ dĩ nhiên nó phải như thế.

Bậc Tu đã từng Huân Tập Đạo Tràng thật hành các Phẩm Nguyện đầy đủ bao nhiêu thì sự hiểu biết càng tăng trưởng bấy nhiêu, nương nhờ nơi Lễ Bái, Chiêng Đàn, Trống Phách, Tụng Niệm. Chiêm Ngưỡng, từ Đại Lễ, Trung Lễ, Tiểu Lễ. Mới nhận thấy mình đang chung cùng duy nhất một LẼ SỐNG trong BÁO THÂN CHƯ PHẬT.

Nơi Báo Thân trùm khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, các Cõi cho đến các Cảnh Giới, Tịnh Độ cùng Quốc Độ Ba Cõi Sáu Đường không thiếu sót đều là Báo Thân. Khi thành Tựu Chánh Báo Thân Phật có đầy đủ các hàng Bồ Tát như Bồ Tát Nguyện, Bồ Tát Bảo Trì, Bồ Tát Hộ Pháp, Bồ Tát đến Bồ Tát Ma Ha Tát, từ hàng Bồ Tát đến Đại Bồ Tát có hằng hà sa số Bồ Tát. Trang Nghiêm từng Quốc Độ của Chư Phật.

Các hàng Chư Thiên, Chư Càng Cát, Chư Long Thần, Chư Hộ Pháp, Chư Hộ Pháp Bồ Tát, Chư Hộ Pháp Bồ Tát Ma Ha Tát đồng thanh Niệm Phật, đồng thanh tán thán, đồng thanh Chiêm Ngưỡng Lễ Bái Nhứt Tâm Cúng Dường không dứt.

Báo Thân Phật có đầy đủ Trang Nghiêm, có đầy đủ trang trí Quốc Độ như Bảo Châu, Ngọc Bích, Xa Cừ, Xích Châu, Mã Não cùng các Báu khác như Lọng Thanh Quang Bảo Châu. Phướng Hồng Quang Xích Châu cùng Mã Não Trân Châu. Tràng Phang Bạch Châu cùng Huỳnh Châu, Bảo Cái kết đính hằng hà sa số Châu Ngọc cốt trang nghiêm Quốc Độ.

Nơi Chánh Báo có hằng hà sa số Quốc Độ, mỗi Quốc Độ thảy đều có sự Trang Nghiêm Trang Trí như trên, đồng với hàng hà sa số các hàng Bồ Tát, các hàng Chư Thiên, các hàng Chư Long Thần Hộ Pháp, Chư Hộ Pháp Bồ Tát, cùng nhau rải hoa Cung Kính tán thán không ngừng, Sự Trang Nghiêm Quốc Độ Chư Phật bất khả thuyết, bất khả tư nghị, duy chỉ có Nhất Tâm TIN liền đặng.

TỰ TẠI ĐẠI BI nói chân thật, đối với ĐỨC PHẬT lời vàng đưa ra, các Bậc TÍN THÀNH Thọ Trì KHỎI PHẢI TU vẫn thành Phật, vì sao? Vì Phật không có Vạn Pháp, đã không có Pháp nào có Chúng Sanh? Đối với Bồ Tát có Vạn Pháp, không có Hoàn Cảnh, nên Bồ Tát Nhiếp Độ Vạn Pháp chẳng lưu tâm đến hoàn cảnh. Về Phàm Phu không thể nhìn đặng Vạn Pháp, chỉ nhìn nơi mình có hoàn cảnh, nên chẳng nhận ra Vạn Pháp.

Trong ba giai đoạn trên ba tư thế khác nhau, nơi tư thế Phàm Phu thấy hoàn cảnh thuận nghịch ràng buộc ngăn cách, lúc mong thoát khỏi Phàm Phu Tính đặng an nhiên tự tại thì phải tu Pháp Môn CỔI GIẢI TÂM lướt qua các Hoàn Cảnh được gọi là THÙ THẮNG TÂM, khi có Thù Thắng mới có Trí Tuệ để lãnh hội Vạn Pháp tu trì PHÁ CHẤP MÊ đến tỏ pháp Sở Đắc CHÂN KHÔNG đã qua đặng nơi hoàn cảnh của Phàm Phu Tính, liền sau lúc đó phải thật hành Hạnh Nguyện cốt qua con đường BỒ TÁT HẠNH để tròn các PHẨM NGUYỆN, có như thế mới đứng trong vòng THÁNH đoạt đến Sở Nguyện. Bằng chưa thật hành Hạnh Nguyện, xa lìa Đạo Tràng trong thời gian ngắn phải mắc miếu vương vào các pháp lộn vòng Chúng Sanh Giới lâm nơi KIẾN DỤC. Còn Chư Bồ Tát thật hành Hạnh Nguyện, từ ĐẠO đến PHẨM không thiếu sót cốt Nhiếp Độ Vạn Pháp để tỏ pháp trọn Chánh Giác, Chư Phật Thọ Ký Thành Phật.

Pháp Độ Chánh Báo Chư Phật trọn quyền Ấn Chứng Thành Phật, Pháp độ Chư Phật Vi Diệu như thế nên thời Quá Khứ Thượng Kiếp. ĐỨC THẾ TÔN chưa Thành Phật đang còn Tu Sĩ, Ngài đến Cung Kính Cúng Dường, Chiêm Ngưỡng Lễ Bái ĐỨC NHIÊN ĐĂNG PHẬT, Đức Nhiên Đăng Phật mới Thọ Ký Trung Kiếp thành Phật với Danh Hiệu: BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. Sau Đức Bổn Sư Thể Hiện Chỉ Đạo Thọ Ký DI LẠC TÔN PHẬT cùng các hàng Bồ Tát đến các Bậc Hữu Học, Vô Học đều thành Phật mỗi thời tùy hỷ, nơi DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH, đó lời chân thành quyết định.

Nói về Chánh Báo Thân Phật trong thời THƯỢNG KIẾP đặng thành tựu đứng bậc nhứt. Thời nầy các bậc tu trì Chánh Tín có hằng hà sa số, vô lượng vô biên thành Phật, qua giai đoạn THƯỢNG KIẾP, yếu kém căn cơ sai phần Chánh Tín chẳng đặng như trước, nên rất hiếm thành Phật mà đa số thành Tiên Đạo gọi là Đắc Quả, đến phần sau nữa càng ngày càng sa sút chánh tín liền đắc quả nơi Thần Thánh Đạo .

Thần Thánh Đạo đến thời Trung Kiếp rất hiếm, Thần Đạo được tôn sùng, vì Nghiệp Căn cầu đảo điên loạn mơ màng thành thử thời bấy giờ đối với Pháp Độ Chánh Báo Thân Phật chẳng còn ai biết đến, duy chỉ phát sanh ÁC ĐẠO tế lễ bằng máu huyết trâu bò. QUỶ ĐẠO sát sanh cúng tế bằng xương thịt súc vật sống. THẦN ĐẠO đánh đập bùa chú. MA ĐẠO khỏa thể phơi xác ép thân làm cho tất cả sống nơi Chú Ngải cuồng tín chịu nơi Biển Sanh Tử Bệnh Lão Khổ, cũng không ngừng các mối Đạo sư ếm gieo rắc ghê sợ kể không hết đặng.

Trước khi Tâm Nguyện nói rõ đến đoạn này:

TỰ TẠI ĐẠI BI ban bố cho Tín Chúng PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM, lập Đại Lễ Chiêm Ngưỡng lễ bái cung thỉnh ĐỨC GIÁO CHỦ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT Chứng Minh lời chân thành chủ yếu xưng tán pháp Tối Thượng mà Ngài đã từng Đại Bi chỉ dạy. Đến nay Hạ Kiếp lạc lối tu trở thành Hạ Pháp gọi là Mạt Pháp. Chúng con xin lễ bái đặng diễn nói lên lời chân thật, Cúng dường báo ân Đức Giáo Chủ cùng xây dựng ngôi Tam Bảo Chân Truyền, đồng thời mong cho các bậc tu Thức Tỉnh phát tâm trở thành Thượng Trung Hạ duy nhất.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Lành thay! Lành thay! Đức Bổn Sư thể hiện đúng lúc vào cuối thời Trung kiếp, tuổi thọ của Nhân Loại đã giảm không ngoài 100 năm một kiếp. Ngài là vị cứu tinh. Ngài khéo đem Pháp Tối Thượng Chỉ Đạo. Ngài khéo đem Chánh Báo Thân Phật từ thời Thượng kiếp đã đặng hưởng đến cuối Trung Kiếp vẫn tồn sinh khỏi đoạn duyên Phật. Ngài tùy căn cơ, tùy vọng đảo, tùy mơ màng, tùy khởi niệm, tùy thọ ngã, sở ngã trụ chấp, tùy nơi chứng tri kiến chấp, tùy nơi Chánh Báo Phước Điền, Thọ Báo Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục mà Ngài xướng lên 10 Danh Hiệu để cứu độ 10 lối nghi ngờ, 10 điều vướng mắc, 10 chốn thọ chủng Giới Sinh. Ngài lại chỉ bày Bốn Lối rành mạch tuyệt mỹ, để từng cấp, từng Bậc, từng hồi giảng giải cho các Bậc Năng Sở Kiến Tri Thọ Ngã trở thành Chính Kiến, thoát khỏi Kiến Dục, hoàn toàn Giải Thoát.

Thế nào là Bốn Lối Năng Sở Kiến Tri giải nói?

  • Lối thứ nhất: NHƯ LAI PHÁP. Lối Như Lai Pháp nói pháp BÌNH ĐẲNG. Lối Như Lai Pháp xóa mờ Kiến Vọng, tiêu giảm vọng ước đảo điên tập nhiễm nơi THÁNH ĐẠO. THẦN ĐẠO. TIÊN ĐẠO. THIÊN ĐẠO nơi TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI, Ba Cõi Sáu Đường, Ác Đạo, Quỷ Đạo, Ma Đạo, cho đến mộng tưởng Thành Phật Sở Đắc Chân Lý nơi KIẾN DỤC KIẾN NGÃ KIẾN CHẤP Vọng Ngã, Đảo Điên Mơ Màng, Cầu Mong thảy đều sạch sẽ, đưa cho các Bậc tu Chánh Kiến duy nhất Thọ Ký Chánh Báo Thành Phật.
  • Lối thứ hai: Là PHẬT PHÁP nói về Quyết Chỉ Ấn Chứng Chánh Báo. ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT, Ngài đã từng nói tất cả sự Trang Nghiêm các Quốc Độ, tất cả Công Đức thành tựu sung mãn Chư Phật, các Tối Thắng Diệu Âm Chư Phật, các Ấn Chứng Thọ Ký trải khắp Chánh Báo Trang Nghiêm từng Quốc Độ Chư Phật. Ngài cũng đã nói lên nơi Chánh Tín Cúng Dường các hàng Đại Bồ Tát, các hàng Bồ Tát, các hàng Bồ Tát Ma Ha Tát cùng các Chư Thiên Hộ Pháp không thiếu sót ở nơi Kinh Pháp Vi Diệu Thậm Thâm để cho Nhân Loại tu tập Chánh Tín đặng Thọ Ký Thành Phật.
  • Lối thứ ba: Là Bồ Tát HẠNH NGUYỆN, nói về Pháp Môn Nhiếp Độ, Pháp Môn Thu Nhiếp, Pháp Môn Tự Lợi Tha Lợi, Pháp Môn Lý Sự Đồng Tu.

Các Hàng Bồ Tát nương nhờ nơi Hạnh Nguyện có Trí Tuệ Giác Tâm, từ nơi Tâm Quán nhận thấy qua từng Pháp Môn Giải Thoát, qua từng Pháp Giới Giải Thoát, qua từng Năng Sở Trụ Chấp được Giải Thoát, qua từng Kiết Sử Nghiệp Lậu Giải Thoát, qua từng Thọ Ngã, Kiến Ngã, Chủng Ngã Giải Thoát, qua từng Sanh Diệt Diệt Sanh, Tu Chứng Vô Sanh Giải Thoát, qua từng SẮC-THỌ-TƯỞNG-HÀNH-THỨC Giải Thoát, qua từng THIÊN-TƯỞNG NHÂN-TƯỞNG CHÚNG-SANH-TƯỞNG THỌ-GIẢ-TƯỞNG Giải Thoát, qua từng Có-KHÔNG Thật Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn Giải Thoát, qua từng Năng Sở Kiến Tri tập khí Giải Thoát. Hạnh Nguyện đến không còn môn Giải Thoát, đó là Giải Thoát.

  • Lối thứ tư: Lối thứ tư nầy chung gồm các Pháp Môn chỉ dạy tu. Từ nơi Tu Tâm vì Tâm bó buộc, Tâm Vặc Mắc, Tâm Tham Vọng, Tâm Điên Đảo, Tâm Mong Cầu, Tâm Tự Ngã, Tâm Phân Biệt, Tâm Dị Biệt, Tâm Chướng Đối, Tâm Khinh Ghét, Tâm Chê Bai, Tâm Keo Kiệt, Tâm Ích Kỷ, Tâm Lừa Dối, Tâm Thù Hận, Tâm Tạo Tác. Do đó mà thở thành NGHIỆP, Tùy nơi Nghiệp sanh Hoàn Cảnh, Từ hoàn Cảnh sinh Ngăn Cách, bởi ngăn cách nên phải dùng Thù Thắng Tâm lướt qua các hoàn cảnh để mà tu, phải tu CỔI GIẢI TÂM cho đặng Thanh Tịnh Tâm Thọ Lãnh các Pháp. Lúc đã tỏ Pháp ít nhiều liền có Nghi Chấp, dụng Trí Tuệ phá Nghi giải Chấp. Đó chính là yếu môn thứ Tư vậy.

TỰ TẠI ĐẠI BI TÂM chẳng biết nói làm sao đây, Bốn Lối Chỉ Đạo tuần tự đón đưa linh động tuyệt mỹ làm cho tất cả Tứ Chúng đương thời của ĐỨC GIÁO CHỦ BỔN SƯ Giác Ngộ, thật vi diệu, thật tuyệt đích khó nghĩ bàn, khó tán thán lưu đến thời nay vẫn còn dấu vết Tam Tạng Kinh.

Tam Tạng Kinh đang còn giữa thời Hạ Kiếp, tuổi thọ Nhân Loại không đầy 80 năm trong một kiếp. Thần Đạo không còn, ÁC ĐẠO. QUỶ ĐẠO đã hết, vì nhờ Tiêu Giải Sát Sanh. Nhưng MA ĐẠO thịnh hành gấp vạn lần của thời Thượng Kiếp, Ma Đạo khôn khéo, bên trong Đạo Phật mượn Tam Tạng Kinh diễn nói, bên ngoài Đồng Bóng làm các Thần Linh.

Dù cho các Bậc tu hành Tín Tâm chăng, hoặc giả đã tìm đặng Chơn Tánh để tu nơi Tự Tánh, Nương vào Kinh Pháp chí Tâm đi nữa mà chưa tỏ rõ. Thế nào là Như Lai Pháp, thế nào Phật Pháp, thế nào Bồ Tát Pháp, thế nào Chúng Sanh Pháp để công dụng minh định tỏ rõ khỏi phải nghi ngờ, may ra tránh khỏi. Bằng còn nghi ngờ, còn chưa tỏ rõ vẫn bị lâm vào MA ĐẠO tàn phá.

Đến nỗi có những Bậc Minh Chánh tỏ rõ tỉ mỉ đứng ra Chỉ Đạo cốt đem đến nguồn sữa tươi nuôi dưỡng các con đang thèm khát, Thì MA ĐẠO tồi phá bên trong lập thành Đồ Chúng, bắt buộc đòi hỏi Minh Sư phải tuân theo Chương Trình bọn chúng. Chúng nào có tỏ rõ sự Giác Minh, chúng nào có biết được BỐN LỐI. Như Lai Pháp, Phật Pháp, Bồ Tát Pháp, cùng Chúng Sanh Tu Hành Pháp mà sử dụng Toàn Giác. Chúng chưa giảm TÁNH MA, chúng chưa Thật Hành Hạnh Nguyện, chúng chưa hoàn tất TỰ LỢI nơi mình, LỢI THA nhân loại. Chúng chỉ KIẾN DỤC chạy theo Danh Giả đòi hỏi thèm khát sự TÔN KÍNH bên ngoài mà trở thành như thế.

Có Bậc thật Tín Tâm tu lâu ngày chầy tháng, Trí Tuệ kém cỏi, Kinh Pháp dẫy đầy, thật đáng kính nể được ở nơi Kho Tạng Bảo Pháp. Nhưng chưa biết Sử Dụng Lời Vàng thì Kho Tạng trở thành vô giá trị. Chưa biết được nơi linh động cứu chữa căn bệnh mê lầm, cứ mãi ôm ấp lời Như Lai Pháp mà Thọ Ngã. Khi đã Thọ Ngã mới công dụng Giáo Phẩm của mình mà chỉ trích. Chớ có ngờ đâu lúc ĐỨC BỔN SƯ Ngài vì kẻ mơ ước THỌ NGÃ SỞ ĐẮC mà Ngài nói nơi Như Lai Pháp: NẾU CHẤP NHẬN MÌNH ĐẮC LÀ CHƯA ĐẮC. Cốt làm cho kẻ kia lìa Thọ Ngã. Đến nay Bậc Tín Tâm đem ra chỉ trích làm cho Tín Chúng tự hoá MA ĐẠO đua nhau tiêu diệt trở thành Tôn Chỉ Phật Đạo mất giá.

Từ Thân Tâm bên trong MA ĐẠO tàn phá, chỉ vì chưa Thật Hành Hạnh Nguyện, chưa thường tu Chủ Quán Tâm Giác cốt Giác Tâm đúng với Tinh Thần Phật Đạo, chưa Tỏ Tánh để nhận rõ BỐN LỐI mà sử dụng đúng lúc, đúng thời, đúng chỗ thì làm sao tránh nổi sự tàn phá của MA ĐẠO. Khi tu trì mong mỏi cho mau thành Đạo, tâm ý ưa chuộng nghe hoặc nghiên cứu Pháp nào là Pháp KHỎI TU mà Đắc Đạo, còn Pháp Môn phải tu thì cho đó là MÊ CHẤP, đâu có rõ Bậc đã từng rốt ráo mà phải Thọ Chấp Đạo Tràng. Đức Thế Tôn Ngài phải sử dụng Như Lai Pháp cốt làm cho Bậc Kia Chánh Giác.

TỰ TẠI ĐẠI BI TÂM, nói lên Thời Hạ Kiếp MA ĐẠO tàn phá PHẬT ĐẠO cực kỳ nghiêm trọng làm cho Phật Đạo chỉ còn Tấm Bảng Danh Hiệu, bên trong thì các Bậc Tu dật dờ theo Ma Chúng. Đến nỗi Nhân Loại bên ngoài phải kêu ca là MA GIÁO, một là Bất Tín, hai là Thức Tỉnh Chúng Tăng Phật Tử, nhưng nào có thấm vào đâu làm cho Nhân Sinh chẳng nơi nương tựa, chỉ còn có TIN vào ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT thời Trung Kiếp.

Đứng trước Thời Hạ Kiếp, đang ở giữa sự sợ hãi nghi ngờ Nhân Sinh. Dù cho có Minh Sư ĐẠI HÙNG ĐẠI LỰC minh xác huy hoàng cũng khó khăn trên con đường Chỉ Đạo, vì Bậc cầu đạo Chánh Tín chân thành hiếm hoi, chỉ có tu hành theo Tín Dụng, còn bên trong đeo đuổi Cuồng Tín để Tu, lỗi ấy chẳng do đâu mà có, bởi tại Thời Lạc Pháp mà ra, Vì sai hướng thiếu tình nên nó như thế.

KÍNH DÂNG PHỤNG HÀNH

Sau khi trích xong thời ĐẠO PHẨM, chúng con Tứ Chúng Mật Niệm chiêm ngưỡng ĐỨC TĂNG CHỦ đã mở màn chỉ điểm trong Thời Hạ Kiếp làm cho Đời nầy và Đời sau được quân minh, nhìn thấy tia sáng của ĐỨC CHÍ TÔN một Kho Tạng Bảo Châu vô giá của Pháp Tối Thượng. Dù cho chúng con có muôn ngàn Xưng Tán chẳng thấm vào đâu đối với LÒNG ĐẠI BI, ĐẠI HỶ, ĐẠI XẢ của ĐỨC NGÀI.

Hôm nay, chúng con Tứ Chúng Pháp Tạng xin đảnh lễ phụng ghi mong cho tất cả các bậc tu hành thức tỉnh, nhận biết được Thời Pháp nầy chính là một Thời Pháp Thừa Kế THƯỢNG TRUNG HẠ duy nhất để BÁO ÂN Chư Phật cùng Tam Thế Chứng Minh lòng thành của chúng con.

TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG Kính Dâng Phụng Hành
Tứ Chúng Đồng Phụng Ghi Để Phổ Truyền
Ngày 14 tháng 11 năm Giáp Dần.

 NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT

 

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG

THỜI PHÁP 29

Ngày 04 tháng giêng năm Ất Mão

GIÁO NGÔN

CỦA ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN

CHẤP TRƯỚC ĐƯƠNG SINH THỌ NGÃ

Nói về chương trình Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam, đương thời Đức Tăng Chủ Tịnh Vương Nhất Tôn chỉ đạo, theo thường lệ, mỗi năm kể từ ngày 24 tháng 12 là ngày Đản-Sanh của Ngài, trong toàn Hội Đồng Tứ Chúng an nghỉ, tạm hoãn sinh hoạt cho đến 12 tháng Giêng Đại Lễ Khai-Nguyên Pháp-Tạng, thời bắt đầu sinh hoạt như thường lệ. Ngoài ra, ngày mùng một Tết Nguyên Đán, Tứ Chúng tề tựu để dự lễ Đức Di Lạc Tôn Phật, cùng nhau chúc tụng đầu năm.

Do chương trình thường lệ nên chi tại Trung Ương Hội Thượng yên tĩnh hơn ngày thường, duy chỉ có hàng Tín Tâm Tôn Giả hoặc Giáo Pháp hay các bậc mến đạo, say đạo, quý đạo tu không nhàm chán thường về vãng lai Trung Ương chẳng thiếu sót. Các bậc nầy đã từng hiểu biết giá trị Chân Lý Bảo Pháp, đã từng gần gũi đức Tăng Chủ để thọ lãnh lời chỉ giáo không biếng trễ, nên chi ngày nào vẫn tu trì Tinh Tấn bất chuyển.

Vào đêm 27 tháng mười hai, lúc 9 giờ tối, tôi về Trung Ương trước sự hiện diện gồm có: Ông Pháp Sử, Pháp Tràng, Pháp Bang, bà Pháp Tướng, Pháp Tùng, ông Pháp Hậu, Tạng Bửu, Tạng Nguyên, bà Tạng Trình, ông Tạng Bền, Tạng Dụng, bà Diệu Thái cùng nhau đàm luận thân hữu thích thú an lành, lại hứa hẹn thăm viếng dịp Tết đến buổi đầu Xuân.

Bỗng nhiên đức Tăng Chủ từ Tịnh Thất bước ra, chúng tôi lễ bái xong, không như thường lệ Ngài đồng ngồi chung với Tứ Chúng, êm lặng đầy cảm mến, chốc lát Ngài dạy:

– “Nầy các ông, tôi nhận thấy các ông thích sống về đạo, ưa vui với đạo, lấy đạo làm nguồn sữa yên lành, làm nơi an nghỉ, nên hôm nay tôi vì các ông để nói lên những kẻ tu tập bị biếng trễ, những bậc cầu Đạo Vô Thượng tu không trọn là do CHẤP TRƯỚC ĐƯƠNG SINH THỌ NGÃ. Chấp trước chính là một vấn đề ngăn đón từng lớp lang thứ bậc thọ ngã an trụ vậy, hiện giờ tôi dùng phương tiện như thế nầy để chỉ cho các ông nhận thấy thế nào là Chấp Trước Đương Sinh Thọ Ngã.”

Ngài nói xong lần lượt hỏi từng bậc, mỗi vị đều thưa thỉnh trường hợp ấn tượng phát sinh quan niệm làm cho sự tu hành bê trễ, khi kể xong, chúng tôi nhận thấy rõ được do nghiệp thức động vọng khởi sinh quan niệm nghi chấp, gọi là Chấp Trước, thật khó tu, khó tiến bộ bởi ngăn cách. Đức Tăng Chủ Ngài hỏi vị sau cùng là ông Pháp Sử đứng ra trình bày thưa thỉnh:

– Bạch Đức Tăng Chủ, con gặp đặng Ngài, con chưa nhận định được chi cả, chỉ quan điểm duy nhất là Chiêm Ngưỡng Lễ Bái, cầu vái chư Phật, chư Long Thần Hộ Pháp. Vì như thế, nên con ít lưu tâm, kém chú trọng về Giáo Lý, do đó kém sự học hỏi, trí tuệ mơ màng, chỉ nhất tâm cầu thỉnh là hơn cả. Đến một hôm con nghe Ngài khai thị trong ngày lễ sinh hoạt rằng:

“Các ông cũng nên biết, dù cho các ông có tu trì lễ bái cầu vái van xin hay trường trai dùng toàn hoa quả chăng nữa, tu như thế từ một kiếp đến trăm kiếp mà chưa sáng soi ĐỐ TẬT, chưa tu sửa nghiệp thức trái ngang để giải phá VÔ MINH, thời như chưa có một ngày tu.” Con nghe đặng lời ấy, thế rồi con bắt đầu thường về nghe Giáo Lý.”

Có một hôm, con tự kiểm điểm nhận thấy sự tiến bộ về sửa tánh, sự thư thả nhờ Cổi Giải Tâm, con từng kiểm kê căn nghiệp đảo loạn của con, từng phát sinh trước nghịch pháp, con giải tỏa được nương nhờ nơi đó tiến bộ đương sinh con thương Ngài. Con nhận thấy Ngài Chỉ Đạo dạy cho chúng con không dục lợi cầu báo chi cả, nhưng phần Ngài thì thiếu thốn, còn con thì nghèo, nếu con gần Ngài thêm hao sức nơi Ngài, con cứ nghĩ như thế một thời gian tâm con thờ ơ, lòng con chê chán bãi bỏ công phu, lăn lộn theo sự sống mải mê bê trễ. Một hôm, con nghe Ngài nhắc đến con, tựa như làn mật cảm thân yêu trìu mến, con vội vã về, Ngài hỏi, con thưa lên nỗi lòng viễn tượng của con cùng sự e thẹn chẳng có chi đền đáp ơn Ngài. Ngài nói:

“Kể ra ông biết nghĩ đến tôi cũng tốt, nhưng tốt hơn hết là ông phải đào tạo Trí Tuệ tu đến Tri Kiến Giải Thoát, đó chính là ông đền đáp ơn tôi. Ông chớ vì một chuyện nhỏ mà phí bỏ việc lớn thời gian gặp tôi chỉ đạo.”

Con nghe xong, phá giải đặng ấn tượng quan niệm, đến nay con mới biết đặng được gần Ngài thật quý vô giá khó nghĩ bàn, dù con có tu cách mấy chăng chính con tự tạo Vô Minh Thọ Ngã.

Thưa thỉnh xong, ông Pháp Sử ngồi về một phía.

Đức Tăng Chủ trầm ngâm chốc lát, Ngài dạy: “Nầy các ông, các ông đã từng nghe, mỗi vị trình bày mỗi diễn cảnh, ấn tượng bất đồng tâm khởi sinh Nghi vội Chấp hoặc đương nhiên động vọng trở thành CHẤP TRƯỚC làm cho bê trễ hay ngăn trở tu hành.

Nói đến chấp trước, nó có rất nhiều trường hợp, tùy theo sự ngăn chấp nhiều ít của mỗi vị, nhưng chung quy do tâm khởi động vọng tựa như nghịch ý mà thành, nó chỉ có hai đường nói được, một là tiến bộ khởi duyên tu không ngừng, hai là Thoái Chuyển làm cho bê trễ ngăn cách đoạn duyên Chấp Trước Thọ Ngã. Khi các ông đã nhận biết sự phân định Chấp Trước bất lợi thì các ông phải hóa giải, cốt cho đặng trơn liền để đoạt đến mục đích rốt ráo, đó gọi là NGHI CHẤP GIẢI CHẤP, các chư Tổ cùng chư Bồ Tát vẫn thường dụng con đường duy nhất ấy, nên Bồ Tát nói: “CHỚ SỢ NGHI, CHỈ SỢ KHÔNG GIẢI NỔI NGHI.”

Đối với thường trụ hay chấp trước chẳng phải do đâu mà có, do Nghiêp Thức trót lầm mê mà thường có khởi sanh khởi diệt, chưa đặng biết được nó nên thọ chấp trở thành Nghiệp, nghiệp càng nặng bao nhiêu thì sự khắc biệt Chấp Trước bấy nhiêu. Nếu bậc tu hành đã biết nơi khởi sanh diệt thọ chấp nguy hại thì đương nhiên phá giải, cốt Chân Thiện hoàn lai.

Các ông cũng nên biết, tại sao lại có từng lớp lang thứ bậc như phàm phu đến Thiên, Tiên Thần cùng Thánh Tăng? Do nơi lầm mê vội chấp cầu mong mà thành Tiên Thần, Thiên, Phàm phu, còn đoạt đến bậc Thánh Tăng thời phải tu môn Nghi Chấp Giải Chấp rốt ráo thành Thánh Tăng.

Tôi nói ra đây các ông nên ghi nhớ. Nếu Phàm Phu gặp đặng vị Thánh tăng chỉ dạy cho phàm phu, thời vị này phải giảng giải chỉ dạy tận tường cốt làm thế nào đưa Phàm Phu qua từng lớp lang Nghi Chấp Giải Chấp, đến chừng nào tỏ thông vạn chấp của phàm phu, của Tiên Thần, của chư Thiên khỏi nghi hết chấp mà rốt ráo hoàn mỹ Chánh Giác.

Bằng Phàm Phu có Tâm Chí nhỏ nhen vị kỷ keo kiệt gặp đặng bậc Thiên, thì vị nầy sẽ chỉ dạy cho Phàm Phu quảng đại Bố Thí, đi đứng khoát đạt, ăn nói chững chạc, Tâm Chí cao thượng đến mức thành tựu chư Thiên.

Nếu Phàm Phu gặp đặng Tiên hoặc Thần thì các vị này sẽ dạy thanh cao tinh khiết, xa lánh ô trược, uế trược nơi phàm phu để tu luyện. Còn gặp phải Ngoại Đạo, Tà Giáo thì dạy Tế Tự Sát Sanh, Bùa Ngải, luyện Gồng, luyện thân thể trở nên dao chém không đứt, gậy đập không chuyển mà thành tựu y như sở cầu của bậc chỉ dạy đó, duy chỉ có Phật Đạo, bậc Thánh Tăng mới dạy giải mê lướt qua các khởi vọng nghi ngờ chấp trước cốt thành đạt rốt ráo hoàn mỹ chánh giác. Đó chính yếu điểm ngôn từ chân giác vậy.”

Đức Tăng Chủ dạy đến đây, Ngài dùng chung trà xong nói tiếp:

“Nầy các ông, các ông đã nhận biết mỗi giáo môn đều có vị Chỉ Đạo đưa Tín Chúng đoạt đến đích, thì mỗi một bậc có trình độ hiểu biết hơn Người, đưa cho con người đến trình độ của mình không hơn kém. Mỗi một ông Giáo dạy cho học trò thời chỉ đưa cho học trò ấy đến sức học của mình. Đối với Pháp Môn Tối Thượng gặp bậc Chánh Giác vốn có mục đích duy nhất đưa Tứ Chúng nhiếp thâu vạn vạn môn thật tỏ rõ từng môn, từng chấp trước của các bậc lầm lẫn, chính mình chẳng còn lầm mà chánh giác hoàn mỹ.

Khi các ông nhận định làm thế nào để thấu tỏ sự lìa chấp từng lúc, từng hồi, các ông khỏi vướng vào chấp ngăn ấy là các ông đã nhiếp độ, nếu nhiếp độ từ một đến bá thiên vạn nhiếp, đương nhiên chính mình chủ hóa trí tuệ của mình, chính mình tự giải mê lầm mà chủ hóa cho mình từ phàm phu trở thành Hóa Thân chánh giác. Cũng như kẻ học trò, ban sơ học lớp Một, kẻ ấy kiên trì học mãi không ngừng cho đến thành tài Bác Học hay Kỹ Sư chẳng hạn, đối với con đường lìa chấp tỏ rõ sự ngăn chấp làm cho mình khỏi lầm nơi chấp đoạt đến toàn giác cũng thế.

Nói về Tu Phật, Pháp Môn Giải Thoát tức nhiên ra khỏi sự lầm mê, các bậc tu phải tỏ rõ tất cả nguồn mê chấp, nếu sở cầu giải mê phải tu cho đầy đủ các môn mê chấp, nương nhờ nơi các môn MÊ ấy mới giải thoát, bằng chẳng như thế thì khó bề giải thoát. Các ông nghe tôi nói như thế, các ông nghĩ thế nào? Nếu các ông còn đang nghi ngờ vọng loạn, các ông chấp nơi vọng loạn là thật thể, thì thử hỏi các ông đã rốt ráo thực thể chưa?”

Lúc bấy giờ tất cả Tứ Chúng đồng thưa:

“Bạch Đức Tăng Chủ, không bao giờ rốt ráo. Vì sao? Vì CÒN NGHI THỜI CÒN CHẤP.”

Ngài gật đầu, dạy tiếp:

“Các ông hãy nghe tôi nói, tình trạng chung của các bậc Chỉ Đạo trên con đường Giải Thoát, tình trạng nầy tất cả bậc Chỉ Đạo Tối Thượng thảy đều hứng chịu, càng Chỉ Đạo rốt ráo bao nhiêu càng chịu đựng với sự nghi ngờ Chấp Trước của các ông bấy nhiêu, chừng nào các ông khỏi nghi thì các ông hết chấp, chừng ấy mới là Báo Ân cho bậc Chỉ Đạo, nếu các ông còn nghi đang chấp thì các ông chớ vội cho mình đã báo ân, đó chính là lời chân tình ngày hôm nay tôi nói ra đây.”

Lúc bấy giờ Đức Tăng Chủ Ngài nói đến đây, Ngài nhìn về xa xăm in tuồng chiêm ngưỡng chư Phật thời quá khứ, Ngài bảo đốt nén hương nơi Chánh Điện, Ngài dạy:

“Kể từ Đức Bổn Sư Chỉ Đạo, Ngài đem Pháp Môn Tối Thượng ban hành Tri Kiến Giải Thoát. Ngài đã chịu tất cả các Giáo Môn từ bên ngoài bài bác, phần thì bên trong chư đệ tử khó tin Ngài chỉ đạo Giải Thoát, Ngài phải tùy theo nguyện vọng sở nghi của tất cả giải bày, dụng tất cả lòng tham cầu mong muốn theo động vọng Tiên Thần mà diễn giải gần 40 năm, sau có nhiều bậc lãnh hội tinh thần Giải Thoát soi biết rõ Nghiệp Thức hay chấp, thường chấp, lần lượt lướt qua từng Chấp Trước mà trơn liền Giác Ngộ, đến khi Ngài nhập Niết Bàn mới thiết tha mong nhớ thì cớ sự đã an bài.

Đến giai đoạn các vị Tổ thừa kế Chỉ Đạo thì chư đệ tử nào có Tin là Tổ. Cũng chưa Tin được sự Giác của chư Tổ, nó vẫn tái diễn không khác mấy với đức Bổn Sư ngày trước, cho đến ngày hôm nay tôi ngồi trước mặt các ông, tôi vẫn Chỉ Đạo với một Mục Đích, tôi vẫn chịu những gì mà ngàn xưa đã chịu, tôi vẫn bị nghi những gì mà ngàn xưa đã nghi, tôi vẫn giải những gì mà ngàn xưa đã giải không hơn kém tí nào cả, chính tôi đã biết nó như thế nên tôi rất tự tại vô ngại, tôi chỉ phụng sự Đại Bi, do tôi phụng sự Đại Bi mà giảng nói thời Giáo Ngôn bất nhị nầy chủ yếu các ông đời này và đời sau phá giải chấp trước làm bước tiến Giải Thoát, bằng chẳng phá giải, để Chấp Trước Đương Sinh Thọ Ngã, tu chưa rốt ráo thời lỗi ấy do các ông tạo thành chớ bậc Chỉ Đạo không chịu trách nhiệm.”

Ngài dạy xong, chúng tôi đồng lễ bái phụng hành phổ biến. Thật là một Giáo Ngôn tuyệt mỹ, Ngài đã dủ lòng Đại Bi nói lên các Thời Chỉ Đạo khai thị tỏ rõ những gì mà Tứ Chúng đã chấp trước đối với Ngài. Chúng tôi tự nghĩ những ê chề, những gì mà chúng tôi đã nghi chấp thọ chấp làm cho Ngài phải chịu lấy từng bậc nghi chấp, từng kẻ chấp nghi, từng người thọ chấp, không thể nào kể cho hết nông nổi của Nghiệp Thức tạo thành. Chúng tôi chẳng biết viết sao đây để tỏ lòng sám hối, chỉ mong tất cả quý Đạo Hữu, các bậc tu hành xem kỹ, nhớ kỹ giải chấp phá nghi khỏi vướng nơi Chấp Trước mới đền đáp đặng Tam Thế chư Phật, mới báo ân bậc Chỉ Đạo.

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT CHỨNG MINH
TÂM THÀNH TỨ CHÚNG

TRUNG ƯƠNG  HỘI THƯỢNG
Ngày Mùng 4 tháng  Giêng năm Ất Mão
Chân Phật Tử: Võ Văn Khoa
Pháp Danh: Pháp Khả
“Phụng ghi để phổ truyền”

VÔ THƯỢNG CHÂN TÔN

 VÔ THƯỢNG CHÂN TÔN Lục Đạo khi đã Hóa Giải Nhiếp Độ tường tận Chánh

KHAI – THỊ – NGỘ – NHẬP

KHAI – THỊ – NGỘ – NHẬP             BỐN BẬC THỌ LÃNH BẢO PHÁP

TÔN CHỈ MỤC ĐÍCH

TÔN CHỈ MỤC ĐÍCH     PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM ĐÔNG ĐỘ THIỀN

BI HOA KINH

10 LỢI ÍCH LỚN CỦA VIỆC ẤN TẠO KINH PHẬT TƯỢNG PHẬT Các lỗi lầm

BẢO PHẨM XUẤT THẾ CHƠN KINH

  PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM   BẢO PHẨM XUẤT THẾ CHƠN KINH  

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

EnglishFrenchGermanVietnamese