BI HOA KINH

10 LỢI ÍCH LỚN CỦA VIỆC ẤN TẠO

KINH PHẬT TƯỢNG PHẬT

  1. Các lỗi lầm đã tạo trước đây. Nếu nhẹ thì lập tức tiêu trừ; nếu nặng cũng được đỗi thành nhẹ.
  2. Thường được Thần tốt ủng hộ, tất cả các tai họa như ôn dịch, nước lửa, cướp bóc, đao binh, lao tù đều không mắc phải.
  3. Oán cừu chướng đối bấy lâu sinh ra, đều bao hàm các pháp ích lợi mà được giải-thoát, vĩnh viễn thoát được khổ do thù- tìm oán- trả.
  4. Đêm gặp ác quỷ, không thể xâm phạm; gắn độc, hổ đói không thể làm hại.
  5. Tâm được yên ổn, ngày không việc dữ; đêm không ác mộng, nhan sắc nhuận sáng, khí lực sung thịnh, việc gì cũng tốt lành.
  6. Chí tâm phụng pháp, tuy không mong cầu, tự nhiên cơm áo sung túc, gia đình hòa thuận, phước lộc lâu dài.
  7. Lời nói việc làm, nhân thiên đều hoan- hỷ, bất cứ đi đến đâu, cũng thường được mọi người tán thán yêu mến, cung kính lễ- bái.
  8. Người ngu trở nên có trí; người bệnh trở nên mạnh khỏe; người gặp khó trở nên hanh thông, nếu là phụ nữ, đến ngày báo tạ, chuyển thành thân nam.
  9. Vĩnh viễn xa ác đạo, thụ sanh thiện- đạo, tướng mạo đoan chánh, thiên tư siêu việt, phước lộc thù thắng.
  10. Năng vì tất cả chúng sanh, gieo trồng thiện căn; vì tâm chúng sanh, gây tạo phước- điền lớn, thu gặt vô lượng thắng quả. Nơi sanh là xứ thường được thấy Phật nghe Pháp. Thẳng đến việc mở rộng Tam- Huệ, thực chứng Lục- Thông, mau chóng được thành Phật.

Ấn tạo Kinh Tượng, đã có công đức thù thắng như thế, cho nên hễ gặp những lúc 0 Chúc thọ 0 Cung hỷ 0 Tránh họa 0 Cầu nguyện 0 Sám hối 0 Tiến cử đề bạt đều nên hoan- hỷ thí xá, cố gắng thi hành chúng.

 

 

PHÁP- TẠNG PHẬT- GIÁO VIỆT- NAM

TỊNH- VƯƠNG- PHẬT

NAM- MÔ BẢO- TẠNG  NHƯ- LAI PHẬT

 

 

BI    HOA   KINH

(Trọn bộ một cuốn)

PHÁP SƯ: Bắc- Lương Thiên- Trúc Tam Tạng ĐÀM VÔ SẤM dịc ra Hoa- Văn trọn bộ.

 

 

TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG

42 HỒNG BÀNG 42

NHA TRANG

VIỆT NAM

 

NĂM 1982 – 1983

MỤC LỤC BI HOA KINH

QUYỂN THỨ 1:

Phẩm thứ nhất: Chuyển Pháp Luân

Phẩm thứ nhì: Đà- La- Ni

QUYỂN THỨ 2:

Phẩm thứ ba phần 1: Đại- thí

QUYỂN THỨ 3:

Phẩm thứ ba phần 2: Đại- thí

Phẩm thứ 4 phần 1: Chư Bồ- tát bổn thọ ký

QUYỂN THỨ 4:

Phẩm thứ 4 phần 2: Chư Bồ- tát bổn thọ ký

QUYỂN THỨ 5

Phẩm thứ 4 phần 3: Chư Bồ- tát bổn thọ ký

QUYỂN THỨ 6

Phẩm thứ 4 phần 4: Chư Bồ- tát bổn thọ ký

QUYỂN THỨ 7

Phẩm thứ 4 phần 5: Chư Bồ- tát bổn thọ ký

QUYỂN THỨ 8

Phẩm thứ 4 phần 6: Chư Bồ- tát bổn thọ ký

Phẩm thứ 5 phần 1: Đàn ba- la- mật

QUYỂN THỨ 9

Phẩm thứ 5 phần 2: Đàn ba- la- mật

QUYỂN THỨ 10

Phẩm thứ 5 phần 3: Đàn ba- la- mật

Phẩm thứ 6: Nhập định tam muội môn

PHẦN CHÚ THÍCH

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

QUYỂN THỨ NHẤT

Bắc- Lương Thiên- Trúc Tam Tạng Đàm Vô Sấm dịch ra Hoa Văn.

 

 

PHẨM THỨ NHẤT

CHUYỂN PHÁP LUÂN

 

Như vầy, tôi nghe: Một thời PHẬT ở thành Vương- xá, núi Kỳ- xà- quật, cùng chư TĂNG là 6 vạn 2 ngàn Đại- tỳ- kheo hội họp. Chư vị đều là A- La- hán, các lậu đã hết: không còn phiền não,  thảy đều tự tại: TÂM được giải- thoát, TUỆ được giải- thoát, tỷ như Voi chúa khéo được huấn- luyện, việc cần làm, làm xong, trút bỏ gánh nặng xuống (không còn bị thân tứ đại làm phiền lụy nữa) thành tựu mục-đích của mình, diệt hết các hữu (các hữu trong 12 nhân duyên là kiết-sử buộc phải tái sanh), được giải thoát bằng CHÁNH-TRÍ, TÂM tự tại,  tất cả TÂM đều được độ qua bờ bên kia, chỉ trừ A-NAN cùng Bồ-Tát Ma-Ha-Tát có 440 vạn người, Bồ-Tát Di-lặc làm Thượng Thủ. Các vị nầy đều được Đà-la-ni Nhẫn-Nhục, Thiền-Định, hiểu sâu các pháp không Vô-Định-Tưởng. Các đại-sĩ như thế chẳng còn thối chuyển nữa. Lúc ấy còn có: Đại Phạm-Thiên-Vương cùng họp với vô-lượng trăm ngàn các Phạm-thiên-tử, tha-hóa tự-tại thiên-vương cùng họp với quyến-thuộc của họ là 400 vạn người, Hóa-lạc thiên-vương cũng họp với quyến-thuộc là 350 vạn người, Đâu-suất thiên-vương cũng họp với quyến-thuộc là 300 vạn người, Dạ-ma thiên vương cũng họp với quyến-thuộc là 350 vạn người, Đạo-lợi thiên vương là Thích-đế hoàn nhân cũng họp với quyến-thuộc là 400 vạn người, Tỳ-sa-môn thiên-vương cũng họp với các quỹ-thần quyến-thuộc là 10 vạn người, Tỳ-lâu-lặc thiên-vương cũng họp với các Câu-Biện-Trà quyến-thuộc là một ngàn người, Tỳ-lâu-lặc-xoa thiên-vương cũng họp với các rồng quyến-thuộc là một ngàn vị. Đề-đầu-lại-tra thiên-vương cùng họp với Càn-thát-bà quyến-thuộc một ngàn vị. Nan-đà long-vương, Bà-nan-đà long-vương cũng đều họp với một ngàn quyến-thuộc. Như vậy các chúng ấy đều đã phát-tâm hướng về đại-thừa, đã thực-hành sáu ba-la-mật.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn được các quyến-thuộc vây quanh. Ngài vì Đại-chúng nói pháp Vi-diệu, trừ bốn điên-đảo, làm rõ thiện-pháp, mở sáng trí-tuệ, giải xong bốn thánh-đế, Ngài muốn khiến cho đời sau các Bồ-tát nhập được tam-muội, nhập tam-muội rồi, vượt quá thanh-văn và Bích-chi Phật, nơi A-nậu đa-la-tam-miệu tam-bồ-đề không còn phải thối chuyển nữa.

Lúc ấy Di Lặc Bồ tát, Sư Tử Ý Bồ tát, Vô Si Kiến Bồ tát, Thủy Thiên Bồ tát, Nhựt Quang Bồ tát, … Các vị thượng- thủ Bồ tát Ma ha tát là mười ngàn người hội họp, chư vị từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vài phải, chân phải quỳ xuống đất, xoa thủ chấp tay hướng về phương Đông–nam, một lòng vui mừng cung–kính, chiêm–ngưỡng đồng nói lên lời này: ‘‘Nam mô Liên–hoa-tôn đa–đà–a–già–độ–a–la–ha–tam–miệu–tam–Phật–đà!  Nam mô Liên–hoa-tôn đa–đà–a–già–độ–a–la–ha –tam–miệu–tam–Phật–đà!  Bạch Thế Tôn, ít có! Thành A–nậu đa-la tam – miệu tam bồ – đề chẳng bao lâu mà Ngài đã thị – hiện vô – lượng biến – hóa thần – túc , khiến cho vô – lượng vô – biên trăm ngàn ức na – do – tha chúng – sanh được trồng căn – lành, được chẳng thối – chuyển nơi A – nậu đa – la tam – miệu tam Phật – đà!”

Lúc ấy, giữa hội có một vị Bồ tát Ma ha tát tên là Bửu Nhật Quang Minh, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai phải, chân phải quỳ xuống đất, chấp tay hướng về Phật thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Các ngài Di Lặc Bồ tát, Vô Si Kiến Bồ tát, Thủy Thiên Bồ tát, Sư Tử Ý Bồ tát, Nhựt Quang Bồ tát, … Các vị thượng- thủ Bồ tát Ma ha tát 10 ngàn người vì lý do gì mà bỏ nghe pháp, lại từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai phải, chân phải quỳ xuống đất, xoa thủ chấp tay hướng về phương Đông- nam, một lòng vui mừng nói lên rằng:‘‘ Nam mô Liên – hoa – tôn đa – đà – a – già – độ – a – la – ha – tam – miệu – tam – Phật – đà!  Nam mô Liên – hoa – tôn đa – đà – a – già – độ – a – la – ha – tam – miệu – tam – Phật – đà!  Bạch Thế Tôn, ít có! Thành A – nậu đa – la tam – miệu tam bồ – đề chẳng bao lâu mà Ngài đã thị – hiện vô – lượng biến – hóa thần – túc , khiến cho vô – lượng vô – biên trăm ngàn ức na – do – tha chúng – sanh được trồng căn – lành! Bạch Thế Tôn! Vị Liên – hoa – tôn – Phật ấy cách đây xa gần? Từ khi ngày thành Phật đến nay bao lâu? Quốc độ ngài tên là gì? Lấy gì trang – nghiêm? Vì sao Liên – hoa – tôn Phật thị hiện các loại biến – hóa, nơi mười phương thế giới, chỗ có các Đức Phật, thị – hiện vô – lượng các loại biến hóa có các Bồ tát được  trông thấy, còn riêng con lại chẳng thấy?”

Lúc ấy, Phật phán với ngài Bửu Nhật Quang Minh Bồ tát rằng: Lành – thay! Lành – thay! Thiện – nam – tử! Lời ông hỏi đó tức là trân bửu, tức là hiền – thiện, tức là khéo biện, tức là khéo hỏi. Thiện – nam – tử! Như ông có thể hỏi Như Lai các diệu – nghĩa như thế, vì muốn giáo – hóa vô – lượng vạn ức na – do – tha chúng – sanh, khiến trồng căn – lành, vì muốn hiển bày thế giới Liên – hoa – tôn với mọi cách trang nghiêm của nó. Thiện – nam –tử! Nay ta nói đây, hãy lắng nghe, lắng nghe! Thiện – nam hãy nhớ kỹ, hãy khéo lãnh – thọ và giữ – gìn! Bửu Nhật Quang Minh Bồ tát một lòng vui mừng nhận lời khuyên dạy mà lắng tai nghe. Khi đó Thế Tôn dạy ngài Bửu Nhật Quang Minh rằng: Thiện – nam – tử! Đi về hướng Đông – nam cách đây một ức – ngàn cõi Phật có Thế – giới Phật tên là Liên – hoa được trang – nghiêm bằng mọi cách trang – nghiêm như: rải đủ thứ danh – hoa, xông khắp các hương thơm, cây báo mọi nơi, núi báo đủ loại, đất bằng cam – lưu – ly, vô – lượng Bồ tát đầy dẫy trong nước, diệu – âm các pháp lành được nghe khắp nơi, đất đai mềm dịu như áo trời, lúc hạ chân đi đất nhún bốn tấc, khi cất bước lên đất bằng như cũ, các loài hoa sen tự – nhiên sanh ra, các cây bảy báu cao bảy do – tuần, nhánh cao lơ – lửng treo áo cà – sa, thế – giới Phật ấy thường nghe âm – thanh kỹ – nhạc cõi trời trong các tiếng hót của mọi loài chim thường nghe các tiếng diệu – pháp : căn, lực, giáo, ý ( nhánh lá các cây dao động thành tiếng hay hơn âm – nhạc của cả trời người ), mỗi mỗi gốc cây đều tiết hương thơm, thơm quá hương trời, hơi hương đầy khắp quá nghìn do – tuần, khoảng giữa các cây treo nhiều chuỗi ngọc, có lầu năm trăm do – tuần kèm bằng bảy báu, ngang dọc ngay ngắn 100 do – tuần, bao lơn cửa nhỏ xung – quanh đều bằng bảy báu. Bốn bên các lầu có ao nước lớn, dài 80 do – tuần, rộng 50 do – tuần, xung – quanh ao nước có đường dọc bờ toàn bằng bảy báu. Giữa nước trong ao có hoa Ưu – bát – la, hoa – câu – vật – đầu, hoa ba – đầu – ma, hoa – phân – đà – lợi, mỗi mỗi hoa sen ngang dọc đều rộng đến một do – tuần.  Vào các đầu hôm có các Bồ tát sanh trong đài – hoa thảy ngồi kiết – già nhận trong giải – thoát niềm vui an – lạc. Quá nửa đêm bốn phương nỗi gió mềm dịu thơm sạch chạm thân Bồ tát, gió ấy năng khiến các hoa tụ – họp phải nở bày ra và thổi phân – tán rải khắp mặt đất. Lúc ấy Bồ tát từ tam – muội – dậy, lại nhận niềm vui giải – thoát êm – dịu, bước xuống đài – hoa, vào các lầu cao, lại ngồi kiết già trên tòa bảy báu, nghe lãnh diệu pháp. Trong vườn ấy nhìn ra ngoài bốn phía, có núi vàng tía là Diêm – phù – đàn cao 20 do – tuần, ngang dọc ngay ngắn đủ 3 do – tuần. Núi có vô – lượng trăm ngàn trân – bửu, cam – lưu – ly châu , hỏa – châu sáng chói, xen kẻ lẫn nhau giữa khoảng các báu. Lúc ấy, Liên – hoa – tôn  Phật dùng đại – quang – minh gồm mọi ánh sáng quý báu hòa hợp hiển – chiếu thế – giới của Phật khiến nên trong sáng vi – diệu bậc nhất. Lại nữa cõi ấy, chẳng có mặt trời, mặt trăng chẳng có ngày đêm, chỉ dùng hoa, chim trên lầu mà biết thời tiết. Trên các núi báu có đài rất đẹp bằng cam – lưu – ly, cao 60 do – tuần ngang dọc 20 do – tuần. Bốn phía các đài đều có bao lơn làm bằng bảy báu. Đài chính giữa có giường bảy báu, mỗi giường đều có một vị Bồ tát nhất – sanh (bổ xứ) đang ngồi nghe nhận pháp. Thiện – nam – tử! Thế – giới Phật ấy có cây bồ – đề tên Nhân – đà – la cao 3.000 do – tuần, thân cây ngang dọc 500 do – tuần nhánh lá dang rộng một nghìn do – tuần. Dưới cây bồ – đề có các hoa sen, thân bằng lưu – ly, cao năm trăm do – tuần mỗi mỗi thứ hoa đều có một ức trăm ngàn lá vàng cao 5 do – tuần, nhụy tua các hoa đều bằng mã – não, cao 10 do – tuần, đường kính mỗi hoa dài 7 do – tuần.

Lúc bấy giờ Liên – hoa – tôn Phật ngồi trên hoa ấy, tức trong đêm qua đã thành A – nậu đa – la tam – miệu tam – bồ – đề. Chung quanh tòa bồ – đề của Phật lại có các loại hoa sen, trên đó có các vị Bồ tát ngồi thấy mọi cách biến hóa của Đức Liên – hoa – tôn Phật.

Khi Đức Thế Tôn Thích – ca – mâu – ni nói việc ấy rồi, Bửu Nhật Quang Minh Bồ tát lại bạch Phật rằng: ‘‘ Bạch Thế Tôn! Liên – hoa- tôn Phật dùng tướng mạo gì làm mọi biến hóa, xin Phật nói cho.” Phật phán với Bửu Nhật Quang Minh Bồ tát rằng: Thiện – nam – tử! Liên – hoa – tôn  Phật trong nửa đêm qua đã thành A – nậu đa – la tam – miệu tam – bồ – đề, rồi qua nửa đêm Phật đã thị – hiện các loại biến – hóa thần – túc: thân Phật biến – hiện cho đến Phạm – thiên, tướng – đảnh nhục – kế phóng 60 ức na – do – tha trăm nghìn ánh sáng, chiếu về phương trên, đến các thế – giới của các Đức Phật nhiều như số bụi. Lúc ấy các Bồ tát ở phương trên chẳng xem những hình sắc của mắt nương theo ở phương dưới, như các vườn cây lớn nhỏ cho đến các núi non, mà chỉ xem xét nơi nào có ánh sáng Phật cho đến các thế – giới trong đó có những vị Bồ tát đã được thọ ky ( sẽ thành Phật) hoặc được tam – muội nhẫn – nhục đà – la – ni, hoặc được thượng – vị nhất – sanh bổ – xứ, các vị Bồ tát như thế đều có ánh –sáng, nhưng vì đã có ánh – sáng của Phật nên lại chẳng hiện. Chúng Bồ tát ấy chấp tay hướng về Liên – hoa – tôn Phật, chiêm – ngưỡng  tôn – nhan của Ngài. Lúc ấy chư vị thấy 32 tướng tốt, anh – lạc trên thân, 80 vẻ đẹp thứ lớp trang – nghiêm, thấy Liên – hoa – tôn Phật cho đến mọi thứ trang – nghiêm của thế – giới Phật, thấy như vậy rồi tâm được vui mừng. Lúc ấy trong thế –giới chư Phật nhiều như số bụi nhỏ, chư Đại Bồ tát, sau khi thấy mọi biến hóa trong ánh – sáng của Liên – hoa – tôn Phật, mỗi vị đều dùng thần lực, xa rời bốn độ, đến chỗ Phật ngự, lễ – bái, đi vòng, cung – kính cúng – dường, tôn – trọng khen – ngợi. Thiện – nam – tử! Khi Phật trông thấy chư Bồ tát đến, Ngài hiện – tướng lưỡi dài rộng che khắp tất cả chúng – sanh đi đứng hoặc  ngồi trong bốn thiên – hạ hoặc có Bồ tát đương nhập thiền – định, cũng tự xã thiền, ở giữa đại – chúng lễ – bái, đi vòng, cung – kính cúng – dường tôn – trọng khen – ngợi Liên – hoa – tôn Phật. Thiện – nam – tử! Khi Phật đã thị – hiện tướng lưỡi dài, rộng như vậy, làm mọi sự biến hóa kia rồi, Ngài bèn thu – nhiếp lại. Thiện – nam – tử! Liên – hoa – tôn Phật còn dùng ánh – sáng phát – xuất từ mọi lỗ chân lông của thân Ngài, lỗ chân lông nào cũng phát ra 60 ức na – do – tha trăm ngàn ánh –sáng, ánh – sáng vi – diệu chiếu khắp mười phương, mỗi mỗi phương- diện,  thảy thảy đều hơn số thế – giới Phật nhiều như bụi nhỏ. Tại khắp mọi nơi trong các cõi ấy, nơi nào có Bồ tát đã được thọ- ký, đã được tam-muội nhẫn-nhục đà-la-ni, hoặc được thượng-vị nhất-sanh bổ-xứ, các Bồ tát ấy sau khi được thấ ánh-sáng của Phật, vị nào cũng tự bỏ cõi Phật mình, dùng sức thần-thông đến chỗ Phật ngự, lễ-bái, đi vòng, cung-kính cúng-dường, tôn-trọng khen-ngợi. Thiện-nam-tử! Lúc Đức Phật ấy làm mọi phép biến-hóa kia xong, ngài bèn thu-nhiếp lại, rồi vì các Bồ tát và các đại-chúng, Ngài giảng nói chánh-pháp, chuyển bánh xe pháp không hề thối lui, khiến cho vô-lượng vô-biên chúng-sanh được đại-lợi-ích, được đại-khoái-lạc, vì thương-xót thế-gian đương là trời, người, Ngài muốn khiến cho tất-cả đều được đầy-đủ các pháp đại-thừa vô-thượng.

 

***

PHẨM THỨ II

ĐÀ – LA – NI

 

Lúc bấy giờ, Bửu Nhật Quang Minh Bồ tát bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Thế-giới Phật ấy làm sao biết được ngày khác với đêm? Am-thanh nghe được tướng-trạng thế nào? Chư vị Bồ tát làm sao mà được thành-tựu nhất-tâm? Thực hiện Hạnh nào có gì đặc-biệt?

Phật phán với ngài Bửu Nhật Quang Minh Bồ tát rằng: Thiện-nam-tử! Thế­-giới Phật ấy thường có quang-minh của Phật chiếu sáng, có hoa hội-hiệp các chim trên lầu, Như Lai, Bồ tát vào các thiền-định du-hý, tâm họ hoan hỷ được vui giải-thoát: lúc ấy liền biết đó là nửa đêm. Nếu có gió thổi rải hoa trên đất, gió quyện hoa rơi chim muôn hòa điệu thành âm-thanh nghe rất vi-diệu. Hoa rơi như mưa, bốn phương gió dậy, mùi thơm thanh-khiết mềm mại mướt mát, Phật và Bồ tát thảy đều xả thiền, Phật vì đại chúng giảng nói pháp-tạng của chư Bồ tát khiến vượt quá thanh-văn duyên-giác. Vậy là được biết đó tức ban ngày.

Thiện-nam-tử! Chư vị Bồ tát trong cõi Phật ấy thường được nghe tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tăng và tiếng Tịch-diệt, tiếng vô-sở-hữu, tiếng lục-ba-la-mật, tiếng lực-vô-úy, tiếng sáu thần thông, tiếng vô-sở-tác, tiếng không sanh-diệt, tiếng vi diệu tịch tịnh, tiếng nhân-tịch-tịnh, tiếng duyên-tịch-tịnh, tiếng thọ ký đại-từ đại-bi vô-sanh pháp-nhẫn. Toàn những diệu-âm rất là thanh-tịnh của chư Bồ tát, thường chẳng rời xa những tiếng như thế. Thiện-nam-tử! Am thanh nghe được có tướng trạng như vậy.

Thiện-nam-tử! Bồ tát cõi ấy, nếu đã được-sanh hoặc hiện đương-sanh, ai cũng có đủ 32 tướng tốt, thân thường chiếu ánh-sáng xa một do-tuần, cho đến khi thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, chẳng hề bị đọa ba đường ác. Bồ tát cõi ấy tất-cả đều được tâm đại-từ, tâm đại-bi, tâm nhu-nhuyễn ( mềm dẻo), tâm không ưa đục, tâm biết đều-phục, tâm tịch-tịnh (vắng lặng), tâm nhẫn-nhục, tâm thiền-định, tâm thanh-tịnh, tâm không chướng-ngại, tâm không bẩn, tâm không dơ, tâm chơn-thực, tâm vui-pháp, tâm muốn cho chúng-sanh dứt hết phiền-não, tâm như đất, tâm xa rời tất-cả lời lẽ của thế tục, tâm yên vui pháp-thánh, tâm cầu pháp-lành, tâm rời ngã (cái ta), tâm vắng-lặng xa rời sanh-già-bệnh-chết, tâm đốt sạch phiền-não, tâm vắng-lặng cổi bỏ tất cả mọi điều ràng-buộc, tâm không động theo tất cả các pháp năng-động. Thiện-nam-tử! Bồ tát cõi ấy đắc chuyên tâm lực, đắc pháp khởi lực, đắc duyên lực, đắc nguyện lực, đắc vô tranh lực, đắc quán nhất thiết pháp lực, đắc chư thiên căn lực, đắc chư tam muội lực, đắc độ văn lực (trang 10 trong sách), đắc trì giới lực, đắc đại xá lực, đắc nhẫn nhục lực, đắc tinh tấn lực, đắc thiền định lực, đắc trí tuệ lực,  đắc tịch tịnh lực, đắc tư duy lực, đắc chư thông lực, đắc niệm lực, đắc bồ đề lực, đắc hoại nhất thiết ma lực, đắc thần phục nhất thiết ngoại đạo lực, đắc hoại nhất thiết phiền não lực.

Như vậy Bồ tát ở cõi Phật đó, hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, đều là chơn thật. Các Bồ tát ấy đã được cúng-dường vô-lượng trăm ngàn chư Phật Thế Tôn,  ở các cõi Phật đã trồng các căn-lành. Các Bồ tát ấy lấy thiền-vị làm món ăn, cũng có pháp-thực (ăn dứt) cũng không có danh-từ đó, không có việc chẳng lành, cũng không có người nữ, không có khổ, nhận, yêu, ghét, các thứ phiền-não, cho đến cái ta và cái của-ta với thân-tâm khổ-não. Ba đường ác (địa-ngục, ngạ-quỹ, súc-sanh) cũng đều không có các danh-tự ấy, cũng không có chỗ đen tối hôi thúi bất-tịnh gai-gốc dơ ác không có núi đồi gò đống đá cát đá-sỏi, cho đến mặt-trời, mặt-trăng, tinh-tú, ánh-sáng của lửa đốt, không có núi Tu-di, biển lớn, núi Đại-Tiểu Thiết-vi và khoảng u-ám giữa các núi đó. Cũng không có mưa, gió dữ loạn bẩn và tám-nạn-xứ. Tất-nhiên là cũng không có các danh-tự như thế.

Thiện-nam-tử! Thế-giới Phật ấy thường dùng bửu-quang của Phật Bồ tát, để soi chiếu-sáng, ánh-sáng thanh-tịnh vi-diệu bậc nhất đầy khắp nước ấy. Trong nước có chim tên là Thiện-quả, tiếng chim thường phát ra âm vi-diệu: căn (năm căn), lực (năm lực), giác ( bảy), đạo (tám).

Lúc ấy Bửu Nhật Quang Minh Bồ tát bạch lại Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Thế-giới Phật ấy ngang dọc bao nhiêu? Mạng sống ở đời, nói pháp bao lâu? Đêm qua mới thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, sau đó diệt-độ, chánh-pháp trụ-thế được lâu hay mau? Các chúng Bồ tát ở đời  bao lâu? Sanh tại cõi đó,  chư vị Bồ tát có lệch xa với nơi thấy Phật nghe pháp, cúng dường chúng tăng chăng? Thế-giới Liên-hoa, lúc Phật chưa hiện, tên nó là gì? Phật-nhật Thế Tôn, ánh-sáng ngày xưa ở trong cõi đó diệt-độ đến nay qua mấy thời kỳ? Thời kỳ trung-gian kéo dài bao lâu? Liên-hoa tôn-Phật, lúc Ngài thành đạo, vì nhân duyên gì mà ở mười phương, nơi nào có Phật đều nhập sư-tử du-hý tam-muội, thị-hiện các loại biến-hóa thần túc, mà chư Bồ tát có vị được thấy, có vị không thấy?

Lúc đó, Phật phán với Bửu Nhật Quang Minh Bồ tát rằng: Thiện-nam-tử! Như núi Tu-di-vương cao 16 vạn 8 do-tuần, ngang dọc 8 vạn 4 ngàn do-tuần, nếu có người tinh tấn chuyên-cần dùng sức ảo-hóa hay sức thiền-định  đập vỡ nó ra thành bụi nhỏ như hạt cải, thì số bụi ấy không có bật trí-giả nào tính đếm được, trừ Phật Thế Tôn.  Mỗi hạt bụi nhỏ kể như một tứ-thiên-hạ, thì số tứ-thiên-hạ trong thế-giới Liên-hoa đếm bằng hết số bụi kia và số Bồ tát đầy dẫy trong đó cũng giống như chư Bồ tát trong các thế-giới an-lạc ở Tây phương.

Thiện-nam-tử! Liên-hoa tôn-Phật thọ-mạng, nói pháp ở 30 trung kiếp. Sau khi Ngài diệt-độ, chánh pháp trụ thế trọn 10 trung kiếp. Thiện-nam-tử! Bồ tát cõi ấy, đã sanh, đương-sanh, thọ-mạng 40 trung kiếp. Thiện-nam-tử! Thế-giới Phật ấy vốn tên Chiên-đàn, thanh tịnh diệu hảo không như ngày nay. Lúc ấy thế-giới cũng không có Bồ tát thanh tịnh như thế. Thiện-nam-tử! Thế-giới Chiên-đàn, trong quá khứ xưa có Phật ra đời, hiệu Nhật Nguyệt Tôn Như Lai Ứng -cúng Chánh-biến-tri Minh-hạnh-túc Thiện-thệ Thế-gian-giải Vô-thượng-sĩ Điều-ngự-trượng-phu Thiên-nhân-sư Phật Thế Tôn. Phật sống nói pháp 30 trung kiếp. Chính đang lúc Phật sắp sửa diệt-độ, có những Bồ tát vì theo nguyện-lực đến chỗ Phật ngự, cùng các Bồ tát đương ở tại đó khởi-niệm như vầy: Chính giữa đêm nay Đức Nhật Nguyệt Tôn Như Lai sẽ nhập Niết-bàn, Phật nhập-diệt rồi chúng ta phải hộ-trì chánh-pháp trong 10 trung kiếp. Đến khi chánh-pháp không còn tồn-tại, ai trong chúng ta sẽ thành thứ lớp A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề? Lúc ấy có một vị Bồ tát tên là Hư Không Ấn Nhân vì bổn nguyện được Đức Nhật Nguyệt Tôn Như Lai thọ-ký cho rằng: Thiện-nam-tử! Sau khi ta diệt-độ rồi chánh-pháp trụ-thế trọn 10 trung kiếp. Quá 10 trung kiếp, nửa đêm đầu hôm, chánh-pháp diệt hết. Chính vào lúc ấy ông thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề hiệu là Liên Hoa Tôn Như Lai Ứng-cúng Chánh-biến-tri Minh-hạnh-túc Thiện-thệ Thế-gian-giải Vô-thượng-sĩ Điều-ngự-trượng-phu Thiên-nhân-sư Phật Thế Tôn.

Khi đó, chư Đại Bồ tát đến chỗ Nhật Nguyệt Tôn Phật. Đến chỗ Phật xong, dùng sức thiền-định, thực-hiện các phép tự-tại sư-tử du-hý để cúng-dường Nhật Nguyệt Tôn Như Lai. Cúng-dường Phật xong, chư vị đi vòng quanh Phật ba vòng, rồi bạch Phật rằng: ‘‘ Bạch Thế Tôn! chúng con nguyện muốn trong mười trung kiếp ấy nhập-diệt tận-định!”. Thiện-nam-tử! Lúc đó Nhật Nguyệt Tôn Như Lai pháp với ngài Hư Không Ấn Đại Bồ tát rằng:‘‘ Thiện-nam-tử! Hãy nên thọ-trì môn giải rõ tất cả Đà-la-ni nầy. Trong quá khứ, chư Đa-đà a-già-độ A-la-ha tam-miệu tam-phật-đà đã nói với các Bồ tát vì muốn giao nhận chức vị Phật. Cũng như hiện tại chư Phật 10 phương đang nói với các Bồ tát vì muốn giao nhận chức vị Phật. Trong tương lai, chư Phật Thế Tôn cũng sẽ nói với các Bồ tát vì muốn giao nhận chức vị Phật Môn Giải-liễu nhất-thiết đà-la-ni nầy, chương cú như vầy:

Xà lị, xà liên ni, Ma ha xà liên, Hưu xi hưu xi tam bát đề ma ha, tam bát đề, đề đà a tra ê đa già tra, đà la trác ca, A tư-ma ca tư, ê lệ, di lệ đế lệ lưu lưu xi, Ma ha lưu lưu xi, xà di đầu xà di, Xà di mạc để thiên để, Xá đa nề già-đa nỉ A mậu lệ, Mậu la ba, lệ xà ni/ma ha tư nể tỳ la-bà nỉ, Mục đế mục đế ba lệ thâu để, A tỳ để, Ba dạ vô-chất nể, Ba la ô ha la nể, đàn đà tỳ xà tỷ xà ba lưu uất đam nỉ.

Đó là chương cú phá-hoại tất-cả luận-nghị của ngoại-đạo, đem lại chánh-pháp, lại hay ủng-hộ người nói chánh-pháp, khai thị phân-biệt Tứ-niệm-xứ ( bốn chỗ nhớ) giải thoát pháp môn.

Lúc ấy Thế Tôn lại nói chương cú:

Phật đà ba ca xá di, A ma ma nĩ ma ma A thứ chỉ pha để át để nát đế la nể, Lộ ca để mục đế sát để đà lệ bà mạt ni.

Đó là chương-cú khai-thị phân-biệt bốn chủng-thánh giải thoát pháp-môn.

Lúc ấy Thế Tôn lại nói chương cú: Bà sa đề, Bà sa nĩ, Đà lệ, Đà la ba để Cúc để thủ tỳ thủ bà la để, Nỉ để, Tu ma bạt để, Sẳn để, xi để Ca lưu na Uất để xoa di, Tỷ để ưu tỷ Xoa, cam bát nỉ, A la xi, Bà la địa, Khư kỳ/ khư kỳ kiệt di, A mậu lệ, mục la thu đàn ni.

Đó là chương cú khai thị phân-biệt Tứ vô sở úy giải-thoát pháp-môn.

Lúc ấy Thế Tôn lại nói chương cú:

Thư pha la, A già pha la, A niết pha la, Niết la pha la, Tam mục đa, A mục đà, y tỳ trì , Để tỳ trì, Ô đẩu-đô la Đâu nam A hưng tam thừa, Y để đa bà, A-đỏa đa đỏa, Tát bà lộ già, A trà già, Lệ tần đà, A phù tát lệ, Đà đà màn để, tỳ xá già bạt để A pha la ca pha lam.

Đó là chương cú khai-thị phân-biệt pháp-môn Thủ-hộ ba thừa ( Gìn, giữ, ủng-hộ).

Lúc đó Thế Tôn lại nói chương cú:

Môn xà đa, An nỉ ê la, bà ba đa phiếu, Y đàm pha lệ Ni viêm pha lệ, Tam mậu đàn na diên, tỳ phú xá,  ba thí/ tô ma đâu, A nậu ma ngủ A cưu ma-đo, đô đà bạt đế đạt xá bà la tỳ ba đô tha, Tức xá thế đa, A ni ẩm ma để nã ma để, a lộ câu, A để đấu nã, tát để mạt để.

Đó là chương cú mà hiện nay chư Phật đem chỗ mình đã tu-tập để khai-thị phân biệt pháp-môn: Tứ-chánh-cần (bốn đều chánh-đáng phải siêng làm).

Lúc bấy giờ, Thế Tôn lại nói chương cú:

An nĩ ma nĩ ma nĩ ma ma nĩ, Già lệ chí lỵ đế xa lý xa lý đa tỳ, Thiên đế mục đế úc đa lý, Tam lý ni tam lý tam ma tam lý xoa duệ, a xoa duệ, A xà địa Thiên đế, xa mật trí, A la ni, A lộ già bà bà tư lại na bà để, lại ma bà để xà na bà để, Di lưu bà đề xoa duệ ni đà xá ni, Lộ già bà để-ba nĩ đà xá ni.

Đó là chương cú khai-thị phân-biệt Tứ-vô-ngại-biện ( bốn lối biện thuyết không bị ngăn ngại) giải-thoát pháp-môn.

Lúc ấy Thế Tôn lại nói chương cú:

Chước súc a bà bà nĩ đà xá ni, Thiền na lộ già đà đâu ba bà tán ni, Tát bà nhân-đề phù ma để thiên để, Tát bà tát bà, Bà ma tát bà ba tha bà xoa dạ ca lệ, Cụ ca lệ bà xà ni, Lộ già nậu đạt xá na tỷ bà.

Đó là chương cú khai-thị phân-biệt Tứ-như-ý-túc giải-thoát pháp-môn.

Lúc ấy Thế Tôn lại nói chương cú:

A già lệ, Phật đề đà đà ba già lệ, Na ni, Càn nã tư đề cam tần đề, Ni tiết đề Tam bút tri, Ba lệ già tát lệ tô di chiến đề, Chiến đề a già lệ, A già già lệ, A ba lệ, Tần chi bà ly, Nĩ bà ly, Ba già già ly, Ba ba ly, A na dạ, A na dạ, A tỷ tư, Câu câu di ba bà tỳ nĩ già nĩ , Nĩ xà tư, Già già ni, Na do đế.

Đó là chương cú khai-thị phân-biệt tất cả căn, lực ( ngũ căn, ngũ lục) giải-thoát pháp-môn.

Lúc ấy , Thế Tôn lại nói chương cú:

Phú bãi, Túc phú bãi, Độ ma ba, Lệ ha lệ, A bà di uất chi lệ, Chi già lặc sai, A dạ mạt đâu, Đế đế lệ ma ma lệ  thủ già thi thi lệ, Lộ già tả ni xà na dạ xoa kỳ ê đế na già dạ đế sa chiên đề na.

Đó là chương cú khai-thị phân-biệt Thất-bồ-đề-phần là pháp-môn giải-thoát.

Lúc ấy, Thế Tôn lại nói chương cú:

Già ca bà xà lệ, Bà đế già da lệ, Già ca đà lệ, Đà la già ca lệ đà lệ, Mậu lệ ê ê lệ lệ đà ly a lâu bà bạt đề, Hưu hưu, Dạ tha thậm bà ngạ tần bà lệ dạ đà tích ni, Dạ tha ba lan già, Ly đề xa dạ tha bà da ly ly thí tát già ni lệ ha la, Xà lưu già tỳ ly, Tỳ lê ni ly ha la, Vị ly vị già ni lệ ha la nỉ la ni lệ ha la, Tam ma để ni lệ ha la, Bát nhã ni lệ ha la tỷ mục đế ni lệ ha la, Tỷ mục đế xà na đà lệ xá na ni lệ ha la na xoa đế ni lệ ha la, Chiên đà ni, Lệ ha la, Tu lỵ ni, Lệ ha la, Ba đà xá dạ lục đam đa đà a già độ a phù đà la ni la phù đàm tam phật đà đà phật đà, Y ha phù đà, Thư đá phù đà, Ni ha ngã ma mậu lệ, A la pha Đà đà la pha bán trà lệ, Mạn đà lệ thứ đá, Lệ đa lưu ma già già liên ni mậu tổ nã, Tam bán mậu tổ nã, Hằng già băng già ma nậu ni.

Lưu bà na xá ni na xá bàn đàn ni, Sát-sát đế, Sất sất đổ ma do bà ê trừng già ma ba lệ ma-lệ ha thư ni, Bà lệ ma lệ tần đề tỳ ly tỳ ly ưu sa ly, xá la ni, Đà la ni, Bà bà đế, Bà lam na ly dị Tỳ-đẩu ma bà la củ ma phạm ma già lệ na nhân để bà ni để để da la ni ma ê thủ la la ni, Tam ma túc di a lam niệm di, Y ca lặc xoa lỵ sư già ni già la a chi. Chiên đà la tu ly Tát bà tuma a bà. Lam phú na a già trí đam bán trì đa, A dạ na, Kiến thôi diêm bà tư ca già đà lệ a la đà ha ni.

Ma già la tỳ lộ ha ni, Tất đàm mạn đế, Tỳ lộ ca mạn đế.

Đó là môn đà-la-ni của chư Phật Thế Tôn thọ-trì để khai-thị phân-biệt pháp-môn giải-thoát của 10 phương Như lai.

Lúc Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nói pháp-môn giải-liễu nhất-thiết đà-la-ni ấy thì trong tam-thiên đại-thiên thế-giới có 6 loại chấn-động chẳng đột-nhiên biến mất trong chốc lát. Lúc ấy có ánh-sáng lớn vi-diệu chiếu khắp 10 phương, quá hằng-hà-sa thế-giới, trong đó có bao nhiêu núi Tu-di-vương, núi Đại-tiểu Thiết-vi, đều chẳng hiện ra trước mắt, mà chỉ thấy mặt đất các thế-giới bằng phẳng như bàn tay. Các nơi trong thế giới 10 phương, có vô-lượng Bồ tát được thiền-định, tổng-trì, nhẫn-nhục. Chúng Bồ tát ấy, nhờ thần lực của Phật, hốt-nhiên biến mất nơi chỗ ở của mình, mà hiện đến núi Kỳ-xà-quật của Ta-bà thế-giới. Tới chỗ Phật ngự, chư vị đầu mặt đảnh-lễ chân Phật và dùng các loại tự-tại thần túc của các Bồ tát để cúng-dường Phật. Cúng-dường xong mỗi mỗi đều theo thứ lớp ngồi về một bên, để nghe Giải-liểu nhất-thiết đà-la-ni-môn. Không thể tính đếm số-lượng chư thiên Dục-giới, Sắc-giới, đến chỗ Phật ngự, đầu mặt đãnh-lễ chân Phật rồi cũng thứ lớp ngồi về một bên để nghe, nhận‘‘Giải-liểu nhất-thiết đà-la-ni môn”.

Như vậy, đại-chúng tất-cả đều được thấy cõi Liên-hoa tôn-Phật cũng thấy Phật cùng chư Đại Bồ tát tập-hội vây quanh.

Lúc Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nói môn Giải-liểu nhất-thiết đà-la-ni ấy, có 72 hằng hà sa đại Bồ Tát được môn đà-la-ni đó, và liền được thấy chư Phật Thế Tôn của 10 phương thế-giới nhiều không kể xiết, lại cũng được thấy thế-giới tịnh-diệu của thế-giới Phật đó. Các Bồ tát ấy đều thấy việc kia là rất lạ lùng chưa từng có vậy. Chư Bồ tát ấy dùng sức Thiền-định, Sư-tử du-hý, vì được tự-tại, nên làm đủ mọi thứ dụng-cụ để cúng-dường Phật.

Lúc ấy Phật phán với chư Bồ tát rằng:‘‘Thiện-nam-tử! Nếu Bồ tát tu môn Giải-liễu nhất-thiết đà-la-ni này thì liền được tám vạn bốn ngàn môn đà-la-ni, bảy vạn tám ngàn môn tam muội, sáu vạn môn pháp-tụ, liền được đại-từ đại-bi, hiểu 37 pháp trợ đạo, được nhất-thiết-trí, không có chướng ngại. Môn đà-la-ni này nhiếp (thay thế) tất cả phật-pháp. Chư Phật đã giữ trọn đà-la-ni vì chúng sanh mà nói pháp vô-thượng, thị-hiện lâu tại thế-gian chẳng sớm nhập niết-bàn. Thiện-nam-tử! Sự việc mà nay các người đã thấy, phải biết đó là nhờ sức uy-thần của Giải-liễu nhất-thiết đà-la-ni môn, khiến cho đại-địa có 6 loại chấn-động, và có ánh-sáng thanh-tịnh vi-diệu chiếu khắp 10 phương, qua hằng-hà-sa thế-giới chư Phật. Chư Bồ tát của vô-lượng thế-giới được chiếu ánh-sáng, đến tại Hội này nghe  nhận Giải-liễu nhất-thiết đà-la-ni môn, cùng vô-lượng chư thiên Dục-giới và Sắc-giới cũng đến hòa-hợp tụ-hợp ở cõi nầy, lại có các Rồng, Dạ-xoa, A-tu-la, Người và chẳng phải Người dều đến để nghe Giải-liễu nhất-thiết đà-la-ni môn.

Nếu Bồ tát nghe Giải-liễu nhất-thiết đà-la-ni môn, tức Thọ-liễu A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề chẳng ai thối-chuyển nữa. Nếu có người viết sách ( nói về việc này) thì người đó cho đến khi được vô-thượng niết-bàn, hẳn được chẳng rời thấy Phật, nghe Pháp, cúng-dường chúng Tăng. Nếu lại thường đọc, tụng, thì mọi ác-nghiệp đều hết mãi không thừa, chuyển sanh thân khác, ắt vượt sơ-địa, được ở nhị-địa. Đại Bồ tát nếu thường tu hành Giải-liễu nhất-thiết đà-la-ni môn, thì các tội đã phạm như: ngũ-nghịch, trọng-ác, tất được diệt-trừ, lần sanh thứ hai vượt quá sơ-địa được trụ nhị-địa, nếu không ngũ nghịch thì hiện tại hiện-thân giải tỏa bao-nhiêu nghiệp nặng đều hết sạch, đổi thân hẳn được vượt quá sơ-địa được trụ nhị địa. Nếu chẳng có thể đọc tụng, tu hành mà không nghe pháp, gìn giữ thanh tịnh trong sáng, tựa như người dùng lụa hoa dâng lên pháp-sư, thì lúc bấy giờ như hằng hà sa số hiện tại chư Phật ở các cõi thảy khen ngợi ca tụng: Lành thay! Lành thay! Vậy là người ấy đã được thọ ký A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Vì có nhân-duyên cúng-dường như vậy nên Bồ tát đó chẳng bao lâu nữa sẽ được chức vị Phật, một đời thành tựu A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Nếu cúng dường hương đăng chẳng bao lâu nữa sẽ được giới, giới hương, huệ hương, vô thượng hương, vô thượng, nếu cúng-dường hoa, chẳng bao lâu nữa sẽ được trí-hóa vô-thượng, nếu dùng trân bửu cúng-dường pháp-sư, chẳng bao lâu nữa sẽ được 37 pháp-bửu trợ-đạo an-lạc-Phật.

Thiện-nam-tử! Nếu có Bồ tát có thể hiểu rõ đà-la-ni nầy thì hẳn sẽ được lợi ích rất lớn. Vì sao vậy? Vì môn đà-la-ni nầy có thể khai thị phân biệt tận môn tận ngành các pháp bửu-tạng của tất cả Bồ tát viễn đạt, vì được nắm lấy (trì) nếu các Bồ tát được vô-ngại biện-tài, bốn pháp thích-ưng, ý nhị Phật-ngôn.

Thiện-nam-tử! Nhật Nguyệt Tôn Như Lai vì Hư Không Ấn Bồ tát mà nói môn đà-la-ni nầy rồi thì lúc ấy đại-địa cũng bị chấn-động 6 cách, cũng có vô-lượng ánh-sáng vi-diệu chiếu khắp 10 phương vô-lượng vô-biên thế-giới chư Phật, thấy các cõi Phật đất bằng phẳng như bàn tay Bạch-Ngọc.

Lúc ấy trong Hội cũng có vô-lượng đại Bồ tát đều thấy chư Phật Thế Tôn ở 10 phương nhiều không kể xiết, và lúc bấy giờ vô-lượng vô-biên chư Bồ tát ở 10 phương thảy đều biến mất trong thế-giới mình, đột-nhiên hiện đến thế-giới Chiên-đàn, thấy Nhật Nguyệt Tôn Phật chư vị đại Bồ tát lễ-bái, đi vòng quanh Phật, cung-kính cúng-dường tôn-trọng khen-ngợi, ai cũng muốn nghe nhận môn Đà-la-ni khai-thị nầy.

Thiện-nam-tử! Lúc đó Phật phán với chư Bồ tát rằng: Nay ta nghe các ông nói rồi. Nếu là Nhất-sanh-bổ-xứ (Bồ tát) thì trong 10 trung kiếp cái nghe vào diệt-định, còn lại bao nhiêu Bồ tát khác thì trong 10 trung kiếp, nên theo Hư Không Ấn đại Bồ tát mà nhận môn Đà-la-ni nầy là pháp-tạng của Bồ tát. Tùy theo sự nhận giữ pháp ấy mà thấy 10 phương vô-lượng thế-giới có Phật, nhân vì thấy Phật, tâm sanh hoan hỷ, được trồng căn lành. Lúc ấy trong hội có các Bồ tát được đủ các loại tự-tại sư-tử du-hý, dùng đủ mọi thứ dụng-cụ cúng-dường Phật. Cúng-dường Phật xong, chư vị bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Ngài Hư Không Ấn đại Bồ tát nầy qua 10 trung kiếp, thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thì đúng phải lúc được chuyển pháp-luân vô-thượng chăng? Phật bèn phán rằng: Nầy chư Thiện-nam-tử! Như các ông nói, vị Hư Không Ấn đại Bồ tát nầy, qua 10 trung kiếp được thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề,  tức quá đêm nay bèn chuyển pháp-luân. Lúc ấy đại Bồ tát Hư Không Ấn đã thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, tức qua đêm nay chuyển chánh pháp-luân, pháp-luân bất-thối, pháp-môn vô-thượng. Bấy giờ trong hội, vô-lượng vô-biên trăm ngàn ức na-do-tha Bồ tát, trước theo Hư Không Ấn Bồ tát, trong 10 trung kiếp nhận môn Đà-la-ni ấy, nay được bất thối chuyển có vị được Nhất-sanh bổ-xứ, đương được A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thiện-nam-tử! Nếu có Bồ tát chẳng tu-học nhiều môn Đà-la-ni ấy thì trong đời sau vượt qua sơ-địa, lên trụ nhị-địa, chẳng còn thối chuyển nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, quyết định được môn Đà-la-ni ấy, như đã nói vậy. Nhật Nguyệt Tôn Như Lai vì chư Bồ tát, thị hiện các loại biến hóa thần túc, thị hiện thế rồi, vì Hư Không Ấn đại Bồ tát mà thị-hiện Na-la-diên tam-muội, người được định nầy thì bèn được nhận thân kim-cang, lại vì ( Hư Không Ấn đại Bồ tát) thị hiện tất cả quang-minh trang-nghiêm tam-muội. Thiện-nam-tử! Tuy chưa chuyển bánh xe chánh-pháp, nhưng mơ ước nói môn Đà-la-ni ấy cho chư Bồ tát thì lúc bấy giờ nhờ như vậy đã được phần thân Như Lai 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, lại có thể phóng tất cả quang-minh trang-nghiêm tam-muội, chiếu khắp tất cả vô-lượng thế-giới, lại trong quang-minh, được thấy vô-lượng vô-biên chư Phật. Lại vì thị-hiện kim-cang-tràng tam-muội, tuy chưa ngồi đạo tràng dưới cây Bồ-đề, chưa chuyển pháp-luân, nhưng nhờ sức tam-muội, có thể vì chư Bồ tát nói pháp vi-diệu. Lại vì thị hiện luân-mao tam-muội nên nhờ sức tam-muội mà gần chuyển được bánh xe chánh-pháp, lúc chuyển pháp-luân, có vô-lượng vô-biên trăm ngàn ức Na-do-tha Bồ tát đều được chuyển luân-định cả.

Lúc Hư Không Ấn đại Bồ tát nghe nói như vậy rồi, tâm tìm tự biết đang chuyển pháp-luân, bèn vui-vẻ hăng-hái, cùng vô-lượng Bồ tát đồng cúng-dường Phật. Cúng-dường Phật xong, mỗi người tự vào trong các lầu quán (nhà ở của tu sĩ). Rồi trong đêm ấy, Phật ( Đức Nhật Nguyệt Tôn Như Lai) nhập vô-dư niết-bàn và qua đêm ấy, chư Bồ tát cúng-dường Xá-lợi. Cúng-dường xong mỗi người đều vào trong lầu, quán báu, các Bồ tát ở xa ai nấy đều tự trở về cõi Phật của mình. Nhất-sanh bổ-xứ ( Bồ tát) thì nhập-diệt tận-định trong 10 trung kiếp. Còn bao nhiêu Bồ tát nhân vì nghe Hư Không Ấn đại Bồ tát nói diệu-pháp mà trọn 10 trung kiếp được trồng căn-lành. Vậy Hư Không Ấn đại Bồ tát nguyện trong đêm qua thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, tức vào ngày nay chuyển chánh pháp-luân, thị-hiện các loại biến-hóa thần-túc, khiến cho trăm ngàn ức Na-do-tha vô-lượng chúng-sanh chẳng còn thối-chuyển nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Ngày nay khi ta nói môn Đà-la-ni nầy thì cũng có 80 Na-do-tha trăm ngàn Bồ tát được vô-sinh-nhẫn, 72 ức chúng-sanh chẳng thối chuyển nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, 72 Na-do-tha trăm ngàn Bồ tát được môn Giải-liễu Nhất-thiết đà-la-ni ấy, vô-lượng vô-biên Trời, Người phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề bái lễ.

Lúc đó trong hội có Bồ tát tên là Giải Thoát Oán Tăng (ghét) bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát phải thành-tựu bao nhiêu pháp mới có thể tu-tập Giải-liễu nhất-thiết đà-la-ni môn nầy. Phật phàn với Ngài Giải Thoát Oán Tăng Bồ tát rằng: Thiện-nam-tử! Bồ tát thành tựu được bốn pháp, ắt có thể tu môn Đà-la-ni ấy. Những gì là bốn? – Bồ tát trú trong bốn thánh chủng nầy, tức trong ăn, mặc, nằm ngồi, chữa bệnh, đều thường biết đủ, Bồ tát thành-tựu được bốn pháp như vậy ắt có thể tu môn Đà-la-ni ấy. Lại nữa, Thiện-nam-tử! Bồ tát thành-tựu được năm pháp, ắt có thể tu môn Đà-la-ni ấy. Những gì là năm? – Đó là tự trì cấm giới gọi là ‘ yêu giữ giới giải thoát’ thành tựu hạnh uy-nghi, phòng-hộ-giới-pháp, tâm sanh sợ-hãi như giữ hạt kim-cương nhỏ bé nhận giữ học tu tất-cả các giới:

  • Thấy người phá-giới, gắng khiến giữ-giới
  • Thấy người tà-kiến, gắng khiến chánh-kiến
  • Thấy người phá uy-nghi, gắng giữ uy-nghi
  • Thấy người tán tâm, gắng khiến nhất-tâm
  • Thấy người vui mến nhị-thừa, gắng khiến an trú nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

Bồ tát thành-tựu được năm pháp như vậy, ắt có thể tu môn Đà-la-ni ấy.

Lại nữa, Thiện-nam-tử! Bồ tát thành-tựu được 6 pháp, ắt có thể tu môn Đà-la-ni ấy. Những gì là sáu?

  • Tự tu đa-văn, thông-đạt vô-ngại: thấy người ít nghe, gắng khiến nghe nhiều.
  • Tự chẳng keo-kiết: thấy người keo-kiết, gắng khiến an-trú trong pháp chẳng hề keo-kiết.
  • Tự chẳng ganh ghét: thấy người ganh ghét, gắng khiến an-trú trong pháp chẳng ganh ghét
  • Tự chẳng làm cho kẻ khác sợ mình, mà lấy cái không sợ đê cho người: thấy có kẻ nào làm cho người ta sợ-hãi, thì nên ủng-hộ cho người ta, nên khéo lấy lời dẫn-dụ khiến cho họ được an-ổn không sợ.
  • Tâm chẳng nịnh hót, không hề gian trá
  • Thực hành ‘không-tam-muội’

Bồ tát thành-tựu được sáu pháp như vậy, ắt có thể tu môn đà-la-ni ấy.

Tu như vậy, đại Bồ tát đã thành-tựu được Tướng-mạc của pháp, trong 7 năm tổng-lược được tất cả các chương cú Đà-tỳ-lê. Ngày đêm sáu thời, đầu mặt cung-kính một lòng nương-thân, nhớ chỗ, tư-duy, hành ‘ không-tam-muội’, đọc tụng chương cú Đà-tỳ như vậy, tức lúc bắt đầu đã nhớ khắp 10 phương tất-cả thế-giới, vô-lượng chư Phật. Đại Bồ tát ấy, qua 7 năm tu, tức đủ thuận tiện được môn Giải-liễu nhất-thiết đà-la-ni ấy. Bồ tát được môn đà-la-ni rồi liền được có thánh-nhãn thanh-tịnh, được thánh-nhãn ấy thì thấy 10 phương hằng-sa thế-giới, trong mỗi mỗi chỗ, chư Phật Thế Tôn chẳng thủ niết-bàn, cũng thấy thị-hiện vô-lượng các loại biến-hóa thần-túc. Lúc Bồ tát hẳn thấy tất-cả vô-lượng chư Phật chẳng để lại gì. Vì được thấy Phật nên được 8 vạn 4 ngàn môn đà-la-ni, 7 vạn 2 ngàn môn tam-muôi, 6 vạn pháp-môn.

Đại Bồ tát được môn Giải-liễu đà-la-ni ấy, thì trong chúng-sanh, được đại-từ-bi. Lại có đại Bồ tát được pháp môn ấy,  thì bao tội-phạm ngũ-nghịch trọng-ác, lúc đã chuyển thân, tội sạch chẳng sót, sanh lần thứ ba, hết tất cả nghiệp, được trú thập địa. Nếu không ngũ-nghịch thì bao nghiệp khác chỉ trong hiện-thân cũng hết sạch mãi qua một đời nầy được trú thập-địa, chẳng bao lâu sẽ được 37 phẩm trợ đạo và nhất-thiết-trí. Thiện-nam-tử! môn Giải-liễu đà-la-ni này có lợi-ích lớn đối với chư đại Bồ tát, vì nếu thường nhớ Pháp-thân chư Phật, Bồ tát được thấy các loại biến-hóa thần-túc, thấy được biến-hóa rồi tức được vui sướng cái vui vô-lậu, nhận được vui ấy nên được thành-tựu các loại  biến-hóa thần-túc, dùng sức thần túc ắt có thể cúng-dường chư Phật như hằng-sa thế-giới, cúng-dường chư Phật tại nơi Phật ngự thì được nghe diệu Pháp, vì nghe diệu-pháp tức được đà-la-ni tam-muội nhẫn-nhục, nên đủ tiện-lợi để trở về đến các cõi Phật.

Thiện-nam-tử! Môn đà-la-ni nầy có thể làm các việc lợi-ích lớn như vậy: nó làm cho các ác-nghiệp bị tổn-diệt và làm tăng-trưởng mọi thiện căn.

Lúc đó có những Bồ tát bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Chúng con trong quá khứ, nơi Một hằng-sa cõi Phật đã nghe môn Đà-la-ni nầy, nghe rồi liền được. Lại có số Bồ tát thưa rằng: Chúng con nơi Hai hằng-sa cõi Phật đã nghe môn Đà-la-ni nầy, nghe rồi liền được. Lại có số Bồ tát thưa rằng: Chúng con nơi Ba hằng-sa cõi Phật đã nghe môn Đà-la-ni nầy, nghe rồi liền được. Lại có số Bồ tát thưa rằng: Chúng con nơi Bốn hằng-sa cõi Phật đã nghe môn Đà-la-ni nầy, nghe rồi liền được. Lại có số Bồ tát thưa rằng: Chúng con nơi Năm hằng-sa cõi Phật đã nghe môn Đà-la-ni nầy, nghe rồi liền được.

Lại có số Bồ tát thưa rằng: Chúng con nơi Sáu hằng-sa cõi Phật đã nghe môn Đà-la-ni nầy, nghe rồi liền được. Lại có số Bồ tát thưa rằng: Chúng con nơi Bảy hằng-sa cõi Phật đã nghe môn Đà-la-ni nầy, nghe rồi liền được. Lại có số Bồ tát thưa rằng: Chúng con nơi Tám hằng-sa cõi Phật đã nghe môn Đà-la-ni nầy, nghe rồi liền được. Lại có số Bồ tát thưa rằng: Chúng con nơi Chín hằng-sa cõi Phật đã nghe môn Đà-la-ni nầy, nghe rồi liền được.

Lúc bấy giờ, Ngài Di Lặc đại Bồ tát bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Con biết trong thưở xa xưa,  cách đây hơn 10 hằng-sa kiếp, có một đại-kiếp tên là Thiện-phổ-biến. Trong đại-kiếp ấy, cõi Ta-bà nầy đầy thanh-tịnh vi-diệu, tất-cả đều trang-nghiêm. Bấy giờ có Phật xuất hiện nơi đời, hiệu là Ta La Vương Như Lai Ứng-cúng Chánh-biến-tri Minh-hạnh-túc Thiện-thệ Thế-gian-giải Điều-ngự-trượng-phu Thiên-nhân-sư Phật Thế Tôn, có vô-lượng trăm ngàn ức Na-do-tha Tỳ-kheo-tăng. Lại có không biết bao nhiêu là đại Bồ tát cung-kính quây quanh. Lúc ấy Ta La Vương Phật,  vì các đại chúng nói môn Giải-liễu nhất-thiết đà-la-ni nầy. Thưở ấy con ở chỗ Phật ngự, được nghe pháp nầy, nghe rồi tu học, học rồi được mở rộng, tăng thêm đầy đủ. Như vậy trong vô-lượng vô-biên kiếp, có không biết bao nhiêu a-tăng-kỳ Phật. Con lúc bấy giờ, tùy theo thọ mạng, dùng mọi sở-đắc của Bồ tát như sư-tử du-hý, tự-tại tam-muội để cúng-dường vô-lượng chư Phật. Con lúc bấy giờ, ở mỗi cõi Phật, có đủ thuận-tiện trồng lần hồi vô-lượng vô-biên, chẳng biết bao nhiêu a-tăng-kỳ căn lành. Được trồng căn-lành, tức được vô-lượng công đức lớn lao nhóm họp dần lại. Nhờ căn-lành ấy nên vô-lượng chư Phật đã thọ ký cho con. Vì theo bổn nguyện con phải ở lâu trong vòng sanh-tử, vì phải đợi thời, con chẳng thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ’ Bạch Thế Tôn! Nguyện xin Như Lai ngày nay cho con nhận chức-vị Phật, khiến được A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Lúc đó Phật phán với Ngài Di Lặc Bồ tát rằng: ‘ Như vậy! Như vậy! Như ông đã nói, lúc Ta La Vương Phật hiện ra nơi đời, ông đã được môn Giải-liễu nhất-thiết đà-la-ni nầy. Di Lặc, ông trong quá khứ, qua 10 đại kiếp, nếu muốn nguyện thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thì trong thời ấy đã đủ điều kiện để nhanh chóng thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, nhập vô-dư niết-bàn. Di Lặc ông ở lâu trong sanh-tử, vì bổn-nguyện, ông chưa thành, vì đợi thời. Di Lặc nay ta vì ông, trao chức-vị Phật cho ông. Lúc ấy Thế Tôn quán-sát đại-chúng cùng các Bồ tát, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Trời, Rồng, Dạ-xoa, A-tu-la, La-sát, Càn-thát-bà, Người và Phi-nhơn. Quán-sát xong, Phật nói chương cú ẤN QUYẾT:

‘Đái đá phù di, Đàn-đà phù di, Đàm ma đà phù di, Già đế phù di, Mật đế phù di, Bát nhã phù di, Tỳ xá la xà phù di, Bát đế tam tỳ đa phù di, A nậu sai bà phù di,  A ba sai phù di, Tam ma da bác sai ma bác sai phù di, Xà đế xoa duệ phù di, Tam xoa xà tỳ xoa xà, Ba la xòa, Tỳ xá già đạt xá bà đế, Tỳ xá đà đế la na, la già già, Tam xoa xá bà đa, Tỳ ma đế du ba ê la la già ma. A tra xoa la, Bà xá tăng già ma, Y đế châu la thất đế di. Văn đà la, Đà ha la bạt bát nhã phù đa, Ha-đà già di đa bà đồ sa bàn đa. Y la da. Ni la da, A hô tát tra, A xoa đà xoa. A tha. Bà đế. Già lâu bà đế, Đế ê ma đề bà. A ca na ma đế, Bà ca na ma đế tam di đế tỳ sa bà đế. Y đà bà la. Y đà bà la, ha la đa la. Câu lưu sa, đâu lâu sa lại ma la lưu tha đa hưu tha, Tát bà tha, Tát bà tha già, ni lưu tha. Đề ha đà đa. Ê pha la, Bà hầu pha la, Tát bà pha la, thế tra bà đề’.

Khi Phật nói chương cú Tạp-thập-nhị nhân-duyên giải-thoát nầy, có 60 na-do-tha chư Thiên thấy bốn thánh đế. Lúc ấy, Thế Tôn lại nói chương cú ấn quyết:

‘Đái pha lam, A già pha lam, La la pha lam, A la pha lam, Ni la ho la, Bà bà đa-phiếu, Y đàm pha lam, Ni diêm pha lam, Nam mô-đà giam, Tỳ phù nga, Bát nhã già già, A nậu tỳ-địa già ca, Xà ni già ca’.

Khi Phật nói chương-cú giải-thoát nầy, có một ức chư Thiên phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề đều được chẳng thối chuyển.

Lúc ấy Thế Tôn lại nói chương-cú ấn thể:

‘Ba đà, Tô ma đô, A nậu ma đô, A câu ma đô, Chí đà bà câu, Ma đá tha. Đà xá la, Tỳ bá bạt tha, Y ha thế thiết đa. To nĩ ma, Tô để xí ma đế (lợi huệ), A lộ câu (quang minh), A đà đấu- nô (đại mặc nhiên) ’.

Khi Phật nói chướng-cú giải-thoát nầy, có 6 vạn 4 ngàn Rồng phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề đều được chẳng thối-chuyển.

Lúc ấy Thế Tôn lại nói chương cú ấn thể:

‘ A xoa tu bạt xoa, Tu bà sa ba man đà na, A la trú bà già la trù, Ca la trà xoa, Tất đàm-ma đế. Tam ma đa; Đa a. xoa bà lệ, Ê tra ca lộ ma ha bà lệ, Ô xà đà lộ, Đà la ni, Ê già la xoa, Câu đà xoa, Câu bà xoa, Bế lộ bố, Tỷ lưu ba, Mục khư, Thế đế hại đá; Thế đế bà lệ. A tu lộ tỷ na, Tu lộ ba ma đề ’.

Khi Phật nói chướng-cú giải-thoát nầy, có 12 ức Dạ-xoa phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề đều được chẳng thối-chuyển.

Lúc ấy Thế Tôn lại nói chương cú ấn thể:

‘ A thê. Ty ; Lê ly, Ni đế thê, San đế thê, Già đế nệ, Na ca di, A lam di, Sa lam di, A đà di, ma đà di, Ma đế di, San ni ha, Thủ lệ; Đà. A ni; A Phất xá da; Tát đà, Tát đề bà, Tát na da, Tát dạ xoa, Tát a tu la, đè bà na già, Ni lục đế, lệ bà la, Ni lục đế la tỳ. Mật đế bát nhã-bát lỵ bạt đa, mạt đé. Ba lỵ la tỳ, già đế đề, Đế bà lỵ bà bà la. Già đế đề đế la tỳ. Phất bà xi tỳ xà nĩ tỳ tát già lỵ bạn đa, A tỳ tha na bạn đa, Thủ la bạn đà. đáo la tỳ lê da tỳ đà. Tỳ đa tỳ bạn đề, Tỳ sa bà nĩ, Mạt già văn đà. Tỳ xá bát lỵ kiếm ma, Nĩ xoa-ba la hô, Ô ha la lộ đề la ba đô, A tu la văn đà na già xoa văn đà, Dạ xoa văn đà, La sát văn đà, Bế đề, bế đề di. Đa ty, Đa đa ty, o nay na mi, Bà già đề, A la ni a tỳ xá đa đề xá thủ đà ni, Ba xi thâu đề, Kỳ bà thâu đề ni, Ba xi ba lỵ yết ma, Đế ma đế da-đế phu đế, già na ba đế, bà la na phật đế xà da, Già-da thâu nhã đà già ca, Ty dạ’.

Khi Phật nói chướng-cú giải-thoát đó rồi, có 5 vạn 6 ngàn A-tu-la phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề đều được chẳng thối-chuyển.

Lúc ấy Thế Tôn phán với Ngài Vô Sở Úy Bình Đẳng Địa đại Bồ tát rằng: Thiện-nam-tử! Chư Phật Thế Tôn ra đời rất khó, diễn bố-pháp như vậy lại càng khó gấp bội. Pháp ấy mới là chỗ huân-tụ của Giới, Định, Tuệ, Giải-thoát, Giải-thoát tri-kiến. Thiện-nam-tử! Chương-cú như vậy mới có thể khiến cho Bồ tát thành-tựu uy-đức. Thiện-nam-tử! Bốn hạnh của Như Lai, khi hành đạo Bồ tát lấy bố-thí, Trì-giới, Nhẫn-nhục, Tinh-tấn, Thiền-định, Trí-tuệ, thay thế các chương-cú ấy, cung kính cúng-dường vô-biên trăm ngàn vạn ức chư Phật Thế Tôn nơi các cõi Phật. Hoặc là Bố-thí, hoặc tu Phạm-hạnh, giữ giới thanh-tịnh, hoặc gắng tinh-tấn, hoặc tu nhẫn-nhục, hoặc nhập tam-muội, hoặc tu trí-tuệ, các cách tu tập thảy đều là nghiệp-lành, thanh-tịnh, nhờ đó ngày nay Ta được vô-thượng trí. Thiện-nam-tử! Ta xưa, trong vô-lượng a-tăng-kỳ ức na-do-tha kiếp, lúc tu đạo Bồ tát, thân thường xa rời vọng ngữ, lưỡng-thiệt, ác-khẩu, ỷ ngữ ( nói láo, nói đâm thọc, nói lời ác, nói thêu dệt) nhờ đó ngày nay ta được tướng lưỡi (dài rộng). Thiện-nam-tử! Do nhân duyên ấy, lời nói của chư Phật Thế Tôn là chơn thật, không có hư-dối. Lúc ấy Thế Tôn thị hiện các loại biến hóa thần túc. Biến hóa xong, Ngài nhập vào Biến nhất-thiết công-đức tam-muội. Nhập tam-muội rồi, Như Lai hiện tường lưỡi dài rộng che khuất mặt nước, từ tướng lưỡi ấy phóng ra 60 ức ánh-sáng, ánh-sáng vi-diệu ấy chiếu khắp Tam-thiên đại-thiên thế-giới, các loài Địa-ngục, Ngạ-quỹ, Súc-sanh, Trời, Người đều mong được ánh sáng ấy: Chúng-sanh ở Địa-ngục, thân bị cháy hừng, nhờ ánh-sáng ấy mà trong khoảnh khắc được vui mát-mẻ, các chúng-sanh ấy thường thấy trước mắt có các hóa Phật đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, trang-nghiêm hiện thân. Vì thấy được Phật nên lúc bấy giờ các chúng-sanh ấy đều được khoái-lạc, vui-vẻ, ai ai cũng nghĩ: ‘ Mong ơn người này khiến ta được vui’ nên lòng hoan-hỷ chấp tay cung-kính hướng về hóa Phật. Lúc đó, Phật dạy: Chúng-sanh các ngươi ngày nay nên xưng: Nam mô Phật! Nam mô Pháp! Nam mô Tăng. Nhờ có duyên đó, thường được khoái lạc nên chúng sanh ấy, liền quỳ xuống chấp tay nhận lời Phật dạy mà nói lên rằng: Nam mô Phật! Nam mô Pháp! Nam mô Tăng! Vì nhân duyên ấy được có căn-lành nên chúng sanh kia, khi mạng sống dứt được sanh lên Trời, hoặc sanh làm người. Nếu có chúng sanh ở Địa-ngục lạnh lẽo, thì lúc bấy giờ họ thấy có gió mềm-mại dịu thổi vào thân, rồi được sanh lên cõi Trời hay Người, cũng như chúng-sanh ở cõi Ngạ-quỹ phải chịu đói khát, họ mong được thấy ánh-sáng của Phật trừ khổ đói khát để được khoái-lạc. Ai ai cũng thấy trước mắt mỗi người có một hóa Phật 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, trang-nghiêm hiện-thân. Vì thấy được Phật, đều được khoái-lạc, nên ai cũng nghĩ : ‘Mong ơn người nầy khiến ta được vui’, lòng họ hoan-hỷ, chấp tay cung-kính hướng về hóa Phật. Lúc ấy, Thế Tôn khiến chúng-sanh kia được thấy nhân-duyên tội nghiệp của bao đời trước, họ tự hối hận, rồi tự trách mình, nhờ căn-lành ấy mà lúc mạng chung được sanh lên Trời hay được làm Người. Chúng-sanh súc-sanh cũng được như vậy.

Lúc đó, Thế Tôn vì các Trời, Người, thị-hiện cho thấy nhân-duyên đời trước, nên có vô-lượng vô-biên chúng sanh, đến chỗ Phật ngự, đầu mặt kính lễ rồi bước thối lui, ngồi về một bên để nghe diệu-pháp.

Lúc ấy có không biết bao nhiêu là Trời, Người phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, vô-số đại Bồ tát được Đà-la-ni tam-muội nhẫn-nhục, đồng đãnh lễ Thọ-Trì ĐÀ-LA-NI-PHẨM.

(Kinh Bi Hoa, Hết Quyển Thứ Nhất)

 

 

QUYỂN THỨ HAI

Bắc- Lương Thiên- Trúc Tam Tạng Đàm Vô Sấm dịch ra Hoa Văn.

 

 

 

PHẨM III

ĐẠI THÍ

 

Lúc ấy, trong Hội có đại Bồ tát tên là Tịch-ý, sau khi ngắm trông các loại thần-hóa của chư Như Lai, liền bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Do nguyên nhân gì thế-giới chư Phật thanh-tịnh vi-diệu, thảy thảy trang-nghiêm, xa lìa ngũ-trọc, chẳng chút dơ-ác, trong đó chỉ thuần có chư đại Bồ tát thành-tựu vô-lượng các loại công đức, hưởng mọi khoái-lạc, cho đến trong nước chẳng có tên Thanh-văn, Bích Chi Phật, huống là sự thật đương có Nhị-thừa. Nay Đức Thế Tôn, vì nhân gì duyên gì ở cõi dơ-ác bất-tịnh xấu-trược, mạng-trược, kiếp-trược, kiến-trược, chúng-sinh-trược, phiền não trược, ở trong năm trược, đời ác như thế thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, tại giữa Tứ-chúng nói pháp Tam-thừa, vì do duyên gì mà lại chẳng giữ thế-giới thanh-tịnh, mà chẳng xa lìa đời ác ngũ-trược? Phật dạy Ngài Tịch Ý Bồ tát rằng: Thiện-nam-tử! Do vì bổn nguyện mà đại Bồ tát giữ nước Tịnh-diệu, cũng do bổn nguyện mà giữ cõi Bất-tịnh. Vì sao vậy? Thiện-nam-tử! Vì đại Bồ tát thành-tựu đại-bi nên giữ các cõi tệ-ác bất-tịnh. Bởi thế, nay ta cũng vì bổn nguyện mà ở cõi này dơ-ác bất-tịnh, thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thiện-nam-tử! Ông nên lắng nghe, khéo ghi nhớ, khéo nhận, khéo giữ lời ta nói đây. Chư vị Bồ tát, ai nấy lắng nghe lời Phật chỉ dạy. Phật phán với Ngài Tịch Ý Bồ tát rằng: Thiện-nam-tử! Trong thưở xa xưa, quá hằng-hà-sa a-tăng-ỳ kiếp, có thế-giới Phật tên San-đề-lam, thưở ấy đại-kiếp tên là Thiện-trì. Trong kiếp ấy có chuyển-luân thánh-vương tên là Vô-tránh-niệm, nơi bốn thiên-hạ có một đại-thần tên là Bửu-hải, thuộc vòng Phạm –trí khéo biết xem tướng. Thời ấy Bửu-hải sanh được một con, có 32 tướng tốt, anh lạc đeo thân, 80 vẻ đẹp thứ lớp trang-nghiêm, mỗi một tướng tốt thường sáng một tầm nhờ trăm phước tạo, thân hình đầy đủ như cây Câu-lô: ai được xem thấy đều ngắm không chán, lúc mới sanh ra trăm ngàn chư Thiên đã đến cúng-dường, vì nhân duyên đó đặt hiệu ‘Bửu Tạng’, đến sau khôn lớn, cắt tóc xuất-gia, thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, vẫn hiệu Bửu Tạng Như Lai Ứng-cúng Chánh-biến-tri Minh-hạnh-túc Thiện-thệ Thế-gian-giải Vô-thượng-sĩ Điều-ngự-trượng-phu Thiên-nhân-sư Phật Thế Tôn. Phật chuyển pháp-luân khiến trăm ngàn vô-lượng ức na-do-tha chúng-sanh được sanh làm người, hoặc lên cõi trời, hay được giải thoát. Đem lại lợi-ích cho Trời, Người xong, ngài cùng trăm ngàn ức na-do-tha đại-chúng thanh-văn cung-kính vây quanh, thứ lớp du-hành qua các thành-ấp, vào các tụ-lạc, dần đến một thành tên An-điều-la, tức chỗ của Thánh-vương đang trị. Cách thành chẳng xa có một rừng sáng tên là Diêm-phù. Bấy giờ Như Lai cùng trăm ngàn vô-lượng ức na-do-tha đại-chúng thanh-văn dừng lại ở nơi rừng ấy. Chuyển-luân thánh-vương nghe Phật Bửu Tạng cùng trăm ngàn vạn ức na-do-tha đại chúng thanh-văn thứ lớp du-hành đến rừng Diêm-phù, vua bèn nghĩ rằng:Ta nay nên đến tại chỗ Phật ngự lễ-bái đi-vòng cung-kính cúng-dường tôn-trọng khen-ngợi. Nghĩ như vậy rồi, Thánh-vương bèn dùng thần-lực của mình cùng vô-lượng đại-chúng sau trước vây quanh ra khỏi thành An-điều-la, hướng về rừng Diêm-phù. Đến ngoài biên rừng, vua phải xuống xe như Pháp đã định,  đi bộ đến chỗ Đức Phật đang ngồi, cúi đầu lại Phật, đi quanh ba vòng, rồi lui ngồi một bên. Thiện-nam-tử! Lúc ấy Bửu Tạng đa-dà a-già-độ a-la-ha tam-miệu tam-Phật-đà, liền vì Thánh-vương nói lên chánh-pháp, dùng đủ mọi phương tiện chỉ dạy những điều lợi-lạc. Nói xong pháp, Đức Phật ngồi lặng lẽ. Bấy giờ chuyển luân Thánh-vương, từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ xuống chấp tay bạch Phật rằng: Nguyện xin Như Lai cùng chư Thánh-chúng trong vòng ba tháng nhận cho con được cúng-dường mọi thứ quần áo, ăn uống, đồ nằm, thuốc thang. Thiện-nam-tử! Lúc ấy Như Lai mặc-nhiên hứa được. Đức vua biết Phật đã bằng lòng, ngài bèn đãnh-lễ, đi vòng quanh ba vòng, vui-vẻ rút lui. Chuyển-luân Thánh-vương về báo cho các Tiểu-vương, đại-thần, nhơn-thần, nhơn-dân và quyến thuộc mình biết rằng: Chư vị biết chăng? Nay ta đã thỉnh mời Bửu Tạng Như Lai và đệ-tử ngài trọn trong ba tháng, cho ta hiến-dâng mọi vật cần thiết cầu cuộc sống an-lành. Để cung-phụng Phật và chư Thánh-chúng, ta sẽ cúng-dường những vật quý trọng của ta sẵn có, kể cả trẻ nhỏ, những kẻ tùy tòng, ta đều xả buông, không gì tiếc lẫn. Tất cả các ngươi cũng nên buông xả mọi vật quý trọng, người ở, trẻ hầu, để cùng cúng-dường Phật và Thánh-chúng. Mọi người nghe vậy, đều nhận lời dạy, hoan-hỷ vui-mừng làm theo.

Bấy giờ quan chủ-bửu ở rừng Diêm-phù dùng toàn vàng ròng để lót mặt đất, trên đát lại xây lầu bằng bảy báu, các cửa bốn bên cũng bằng bảy báu, trên các cây bảy báu đều treo áo báu, anh-lạc trân-trâu, lọng đẹp vật quý, mỗi mỗi trang-nghiêm. Lại có hương thơm hoa quả hảo-diệu để trang-sức cây, các thứ hoa đẹp, những gấm lụa hoa, được làm bối cảnh dùng để trưng bày, cờ phướng khắp nơi. Bánh xe vàng báu (Vua Chuyển-luân Thánh-vương có đủ bảy báu: Xe vàng báu, Voi trắng báu, Ngựa cam báu, Thần Châu báu, Ngọc nữ báu, Cư-sĩ báu, Chủ binh báu và có 1000 người con hùng dũng đủ sức dẹp địch, không cần dùng binh mà thiên-hạ tự thái-bình; trong trang 162 kinh trường A-hàm) của Chuyển-luân Thánh-vương treo ở hư-không, trước cửa lầu quán cách đất bảy thước, còn voi trắng báu đặt sau Như Lai giữ cây bảy báu, trên có trân-châu, anh-lạc, lụa hoa, dùng để trang-sức. Lại dưới lọng-báu, ở trước Như Lai, sai ngọc-nữ báu mài Ngưu-đầu Chiên-đàn với hắc trần-thủy để rảy dâng Phật. Ma-ni bửu-châu và xe vàng báu, đặt ở trước Phật, phát ra ánh-sáng vi-diệu, chiếu khắp cả rừng Diêm-phù, ngày đêm chẳng khác. Bửu Tạng Như Lai thân thường quanh-minh thanh-tịnh vi-diệu chiếu-sáng cùng khắp Tam-thiên đại-thiên thế-giới. Ngưu-đầu Chiên-đàn được dùng làm giường cho mỗi vị thanh-văn, bên cạnh mỗi giường lại có ghế nhỏ cũng làm bằng gỗ Ngưu-đầu Chiên-đàn. Sau mỗi tọa-cụ có voi trắng báu giữ, cây bảy báu cũng được trang-sức như cây chỗ Phật. Trước mỗi tọa-cụ có ngọc-nữ báu mài ngưu-đầu Chiên-đàn với các hắc-trầm-thủy để rảy cúng-dường. Trước mỗi tọa-cụ của các thanh-văn đều có an-trí ma-ni bửu-châu. Trong vườn ấy có đủ các loại kỹ-nhạc. Bốn bên ngoài vường có bốn đội binh-báu đi vòng chung quanh.

Thiện-nam-tử! Vị Chuyển-luân Thánh-vương ấy, vào buổi sáng sớm đii ra khỏi thành hướng về chỗ Phật. Vừa đến biên rừng, theo pháp đã định, vua phải xuống xe, đi bộ đến chỗ Phật. Đến nới Phật ngự, cúi đầu lạy Phật, đi quanh ba vòng, tự lấy nước rửa, tự tay rót mời, dâng Phật và Thánh-chúng những món đồ ăn hảo-hạng. Khi đã ăn uống, dọn bát súc miệng đâu đó xong rồi, vua Chuyển-luân-vương bèn cầm quạt báu để quạt Như Lai và các thanh-văn. Nghìn người con cùng 8 vạn 4 ngàn các vị Tiểu-vương thảy đều cúng-dường mỗi mỗi thanh-văn như Chuyên-luân-vương cúng dường Thế Tôn. Kế sau bữa ăn có trăm ngàn vô-lượng ức na-do-tha chúng-sanh vào rừng Diêm-phù, đến chỗ Phật ngự để nghe chánh-pháp.

Lúc ấy giữa hư-không có trăm ngàn vô-lượng ức na-do-tha chư thiên, rải các thứ hoa trời, hòa kỹ-nhạc trời để cúng-dường Phật. Cũng trong lúc ấy, ở giữa hư-không có những áo trời, anh-lạc, lọng-báu chuyển-động lững-lơ. Lại có vốn vạn Dạ-xoa mặc áo xanh trong rừng Chiên-đàn, dùng ngưu-đầu Chiên-đàn đốt lửa nấu chín đồ ăn cho đại-chúng theo Phật. Bấy giờ Chuyển-luân Thánh-vương, trong đêm, ở trước Phật và đại-chúng, đốt trăm ngàn vô-lượng ức na-do-tha đèn: Thiện-nam-tử! Trên mũ vua đốt một đèn, hai vai vác hai đèn, hai tay cầm bốn đèn, mỗi đầu gối mang một đèn, hai sống chân cũng có hai đèn, vua cúng-dường Phật suốt đêm như vậy. Nhờ thần lực của Phật, thân tâm của vua chẳng thấy mệt mỏi và lại vui sướng như các tỳ-kheo nhập đệ-tam-thiền. Vua Chuyển-luân-vương cúng-dường như vậy suốt ba tháng, nghìn còn của vua và 8 vạn 4 ngàn các vị Tiểu-vương cùng trăm ngàn vô-lượng ức na-do-tha đại-chúng cũng đều dâng hiến những món ăn ngon cho các vị thanh-văn. Các ngọc-nữ báu cũng dùng hương hoa cúng-dường thanh-văn trong suốt ba tháng, y như Thánh-vương cúng dường Đức Phật, chẳng có sai khác. Còn bao chúng-sanh cúng-dường thanh-văn cũng như ngọc-nữ cúng-dường chẳng khác. Thiện-nam-tử! Ba tháng vừa qua, Chuyển-luân-vương bèn dùng quan Chủ kho báu, hiến-dâng Như Lai: Những vàng Diêm-phù, chuỗi ngọc đầu rồng, tám vạn bốn ngàn bánh xe bằng vàng báu, voi trắng ngựa cam, ma-ni bửu-châu, hỏa-châu diệu-hảo, chủ-tạng thần-báu, chủ-bốn-binh-báu, áo cây hoa-báu và các lọng-báu của các Tiểu-vương nơi thành ấp nhỏ thành Điều-la, và các Thánh-vương những áo thượng-diệu, hoa ngọc cài tóc, những xe bảy báu, các loại giường báu, những đồ trang-sức đầu mắt, lưới báu, khóa vàng Diêm-phù, chuỗi ngọc trân-bửu, giày dép mềm mại, nệm chiếu ấm êm, ghế giường vi-diệu, đồ dùng bảy báu, chiên trống nhạc-cụ, chuông-lạc yên xe, cờ hiệu bảo-tràng, đèn đuốc lọ báu, chim thú bằng ngọc, quạt, giấy, đồ vặt và các loại thuốc tám vạn bốn ngàn các vật như vậy thảy đều được đem cúng-dường Như Lai cùng các thánh-chúng. Cúng-dường vừa xong, vua thưa thỉnh Phật: ‘Bạch Đức Thế Tôn! Nước con lắm chuyện chẳng được đúng cách, nay con hối lỗi, xin nguyện Như Lai ở lại lâu dài trong vường, rừng nầy để con thường được tới lui lễ-bái cung-kính đi vòng tôn-trọng cúng-dường thành-tâm khen-ngợi. Các con của con hiện ngồi trước Phật, mỗi mỗi đều muốn thỉnh Phật và tăng, trọn trong ba tháng, cho chúng cung phụng mỗi chỗ cần dùng, xin trên chấp nhận’. Lúc ấy Như Lai lặng thinh hứa được khi Chuyển-luân-vương biết Phật nhận lời các con cầu thỉnh, vua liền lạy Phật cùng các tỳ-kheo đi quanh ba vòng rồi vui vẻ rút lui. Thiện-nam-tử! Người con thứ nhất của vua Chuyển-luân-vương tên là Bất-huyến, trọn trong ba tháng cúng-dường Như Lai và các thánh-tăng, giống y như vua trước đã làm vậy. Trong thời gian ấy Chuyển-luân Thánh-vương, ngày ngày thường đến chỗ Phật ngự, chiêm ngưỡng tôn-nhan và các tỳ-kheo để nghe diệu pháp. Thiện-nam-tử! Bây giờ có quan đại thần Phạm Chí Bửu Hải đi khắp các nơi trong cõi Diêm-phù-đề vào mọi nhà đàn-ông, đàn-bà, trẻ nam-nữ, hỏi xin những vật cần dùng. Bây giờ Phạm Chí là người thí-chủ quan trọng bậc nhất. Ông nói: ‘Nếu nay các người bằng lòng quy-y tam bảo phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề thì ta mới nhận các vật người cho’. Tất-cả chúng-sanh trong Diêm-phù-đề không có người nào là chẳng theo lời Phạm Chí khuyên dạy quy-y tam bảo và phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Khi đã khiến được mọi người thọ-giới, ông mới nhận lãnh các vật họ biếu. Thế là Phạm Chí đã làm cho trăm ngàn ức vô-lượng chúng-sanh trụ ba cõi phước phát-tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

Thái tử Bất-huyến cúng-dường Như Lai và các Thánh-tăng trọn trong ba tháng buông xả kính-dâng tám vạn bốn ngàn vàng rồng ngọc tốt, chỉ thiếu xe vàng, voi trắng ngựa cam, ngọc-nữ, thần-châu, chủ-binh, ma-ni, bửu châu là món bảy báu của vua Thánh-vương còn bao nhiêu thứ: vàng, xe voi ngựa hỏa-châu, diệu-hảo, đồng-nam, đồng-nữ, cây, áo bảy báu, các loại hoa, lọng, y-phục, chuỗi ngọc, giường, võng, giày dép, nệm, chiếu, ghế, đèn chuông trống, nhạc-cụ, cờ-xí, tràng-phang, chim thú bằng ngọc, quạt, lọ, đồ vật, tám vạn bốn ngàn dụng cụ như tế đều đem hiến-dâng Phật và Thánh-chúng, cúng-dường vừa xong, Thái tử bạch Phật: ‘Lạy Đức Thế Tôn! Cho con hối lỗi những chỗ ngày nay con thấy thiếu xót!’ Kế đó, đệ nhị vương-tử tên là Mi-ha, cũng trọn ba tháng, cúng-dường Như Lai và các Thánh-chúng, y như Thái tử Bất Huyến đã làm. Và cũng như thế, các vị vương-tử có tên sau đây thảy đều phụng Phật và các Thánh-tăng.

Vương-tử thứ ba tên là Vương-chúng,

Vương-tử thứ tư tên là Năng-đà-la,

Vương-tử thứ năm tên là Vô-sở-úy,

Vương-tử thứ sáu tên là Hư- Thông

Vương-tử thứ bảy tên là Thiện-tý,

Vương-tử thứ tám tên là Dẫn-đồ,

Vương-tử thứ chín tên là Mật-tô,

Vương-tử thứ mười tên là Nhu-tâm,

Vương-tử thứ 11 tên là Măng-dà-nô,

Vương-tử thứ 12 tên là Ma-xư-mãn,

Vương-tử thứ 13 tên là Ma-nô-đề,

Vương-tử thứ 14 tên là Ma-tha-lộc-mãn,

Vương-tử thứ 15 tên là Ma-xà-nô,

Vương-tử thứ 16 tên là Vô-cấu,

Vương-tử thứ 17 tên là A-xà-mãn,

Vương-tử thứ 18 tên là Vô-khuyết,

Vương-tử thứ 19 tên là Nghĩa-vân,

Vương-tử thứ 20 tên là Nhân-đà-la,

Vương-tử thứ 21 tên là Ni-bà-lư,

Vương-tử thứ 22 tên là Ni-già-thù,

Vương-tử thứ 23 tên là Nguyệt-niệm,

Vương-tử thứ 24 tên là Nhật-niệm,

Vương-tử thứ 25 tên là Vương-niệm,

Vương-tử thứ 26 tên là Kim-cang-niệm,

Vương-tử thứ 27 tên là Nhẫn-nhục-niệm,

Vương-tử thứ 28 tên là Trú-niệm,

Vương-tử thứ 29 tên là Tốc-niệm,

Vương-tử thứ 30 tên là Bửu-niệm,

Vương-tử thứ 31 tên là La-hầu,

Vương-tử thứ 32 tên là La-hầu-lực,

Vương-tử thứ 33 tên là La-hầu-chất-đa-la,

Vương-tử thứ 34 tên là La-ma-chất-đa-la,

Vương-tử thứ 35 tên là Quốc-tài,

Vương-tử thứ 36 tên là Dục-chuyển,

Vương-tử thứ 37 tên là Lan-đà-mãn,

Vương-tử thứ 38 tên là La-sát-lô-tô,

Vương-tử thứ 39 tên là La-na-thâu,

Vương-tử thứ 40 tên là Viêm-ma,

Vương-tử thứ 41 tên là Dạ-bà-mãn,

Vương-tử thứ 42 tên là Dạ-xà-lư,

Vương-tử thứ 43 tên là Dạ-ma-khu,

Vương-tử thứ 44 tên là Dạ-tùy-châu,

Vương-tử thứ 45 tên là Dạ-pha-nô,

Vương-tử thứ 46 tên là Dạ-bà-nô,

Vương-tử thứ 47 tên là Nam-ma-châu,

Vương-tử thứ 48 tên là A-lam-già-nô, ….

Như vậy 1000 người con của Thánh-vương mỗi một trong ba tháng, thảy thảy đều cúng-dường Phật và thánh-tăng tất cả những gì mà chư vị cần trong việc ăn uống, nằm mặc, thuốc men, giống như Thái tử thứ nhất đã từng dâng hiến tám vạn bốn ngàn các món đã nói.

Nhân việc phụng-thí, mọi người phát-tâm hoặc nguyện làm vua cõi Trời Đạo-lợi, hoặc cầu Phạm-vương, hoặc cầu Ma-vương, cầu làm Chuyển-luân Thánh-vương hay được giàu có, hoặc làm thanh-văn, … cả nghìn con vua, chẳng có một người cầu được Duyên-giác huống là Đại-thừa.

Chuyển-luân Thánh-vương, nhân việc phụng-thí trở lại nguyện cầu Chuyển-luân-vương-vị. Thế là Thánh-vương cùng nghìn con vua nối tiếp cúng-dường suốt trong 250 năm trọn, ai nấy đều cũng xin Phật, và Thánh-tăng cho họ sám-hối  về những chỗ bất cập.

Thiện-nam-tử! Lúc bấy giờ Phạm Chí Bửu Hải tìm đến chỗ Phật thưa thỉnh với Phật rằng: Nguyện xin Như Lai và các Thánh-tăng trọn trong 7 năm cho tôi được phép cúng dường y-phục, các thứ ăn uống, đồ nằm, thuốc men. Lúc ấy Như Lai lặng thinh hứa nhận cho Phạm Chí cúng-dường. Thiện-nam-tử! Thời ấy Phạm Chí cúng-dường Như Lai và Tỳ-kheo tăng mọi vật cần dùng, y như Thánh-vương đã từng làm vậy. Thiện-nam-tử! Sau đó Phạm Chí Bửu Hải khởi niệm như vầy: ‘ Nay tôi đã khiến trăm ngàn ức na-do-tha chúng-sanh phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề rồi. Tôi không biêt Chuyển-luân Thánh-vương đã nguyện những gì! Nguyện làm vua trong cõi Trời, Người, làm Thanh-văn, Duyên-giác, hay cầu A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề? Trong thời vị lai, nếu tôi tất thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, độ thời mạt thế, giác-ngộ người sau, khiến lìa sanh, già, bệnh, chết, ưu sầu khổ não thảy đều lìa được, người muốn diệt-độ, khiến diệt-độ được, nếu được như vậy thì trong đêm nay, đương có Chư-thiên, Na, Phạm, các Rồng, Dạ-xoa, chư Phật Thế Tôn, Thanh-văn, Sa-môn và Bà-la-môn, xin hiện trong mộng cho tôi được biết chỗ của Thánh-vương thành tâm nguyện cầu: Làm vua cõi Người, hay vua trên Trời, cầu làm Thanh-văn hay Bích-chi Phật, được A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề chăng?’

Thiện-nam-tử! Đêm ấy quả nhiên Phạm Chí Bửu Hải thấy trong giấc ngủ có nhiều ánh-sáng, nhân ánh sáng ấy thấy được 10 phương như hằng-hà-sa chư Phật Thế Tôn trong các thế-giới ở khắp mọi nơi, các Đức Thế Tôn ở mọi nơi xa ấy đều lấy hoa sen diệu-hảo ban cho Phạm Chí, hoa nào cũng đẹp, thân bằng bạc tốt, là bằng vàng rồng, tua bằng lưu-ly, nhưng bằng mã-não, trong đài hoa thấy hình mặt trời tròn, trên hình mặt trời có lọng bảy báu, mỗi mặt trời đều phát xuất ra 60 ức ánh-sáng, tất cả ánh-sáng đều nhập vào trong miệng Phạm Chí. Ông tự thấy thân đầy nghìn do-tuần, tịnh sạch chẳng dơ, như gương trong sáng, trong bụng thấy có 60 ức na-do-tha trăm nghìn Bồ tát, đều ngồi kiết già trên các hoa sen đang nhập Chánh-định, lại thấy tia sáng của các mặt trời quay quanh thân ông, trong các hoa sen phát ra kỹ-nhạc hay hơn nhạc Trời. Thiện-nam-tử! Lúc ấy Phạm Chí lại thấy Thánh-vương thân đầy máu me, dong ruổi bốn phương mặt tay như heo, ăn các loại trùng, ăn xong lại ngồi dưới cây lan nọ, lại có vô số chúng-sanh kéo đến ăn hết thân vua, chỉ chừa hài cốt, vua bỏ thân mình kế chịu thọ sanh, rồi diễn trở lại. Tiếp đến ông thấy các con của vua, hoặc mang mặt heo, hay mặt voi núi, hoặc làm trâu nước, hay làm Sư tử, hoặc chồn, hoặc sói, beo, hay làm khỉ lớn,…..tất cả thảy đều có máu dơ nơi thân thảy thảy đều ăn vô-lượng sanh-chúng, ăn xong ngồi xuống dưới cây lan kia, để thân bị chia cho vô-lượng chúng, vừa bỏ mạng sống lại đi thọ-sanh, cứ mãi loanh quanh, phải chịu như vậy, rồi ông lại thấy con vua có dùng hoa Tu-mạn-na đeo chuỗi ngọc, ngồi xe nhỏ xấu trâu nước kéo đi đường chính chẳng theo, hướng nam cố chạy, kế tới ông thấy: Bốn vị Thiên-vương, Thích đề-hoàn-nhân, Đại Phạm-thiên-vương cùng đến chỗ ông nói với ông rằng: ‘Bốn phía nhà ngươi nay có hoa sen, nên lấy một hoa cho vua Thánh-vương, cho các con vua mỗi người một đóa, còn lại tất cả cho các tiểu-vương, cho các con ngươi và người trong nước’. Phạm Chí nghe vậy bèn lấy hoa sen cấp cho mỗi người như lời đã dạy. Bổng ông thức dậy, ngồi nhớ chuyện mơ: ‘Việc thấy sờ sờ suy ra biết chắc Chuyển-luân-vương ắt đã nguyện thấp hèn, bởi hẳn còn tham vui trong sanh-tử. Nay ta đã biết các con của vua, tuy có nguyện cầu, nhưng còn thấp kém, dù có người dùng hoa Tu-mạn-na đeo như chuỗi ngọc vì cầu thanh-văn, ngồi xe nhỏ xấu, trâu nước kéo đi, đường chính chẳng theo, hướng nam bôn tẩu. Còn ta tại sao trong mộng đêm qua thấy nhiều ánh-sáng, và thấy 10 phương vô-lượng thế-giới, chư Phật Thế Tôn ở khắp mọi nơi? Có phải vì ta trước tiên đã dạy vô-lượng chúng-sanh trong Diêm-phù-đề khiến họ an-trú trong ba cõi phước nên trong mộng được thấy lắm quang-minh, lại thấy 10 phương vô-lượng thế-giới, chư Phật Thế Tôn ở khắp mọi nơi? Có phải vì ta đã dạy tất cả chúng-sanh trong Diêm-phù-đề phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thỉnh Phật Bửu Tạng và Tỳ-kheo tăng trọn đủ 7 năm cho ta cung phụng, cho nên trong mộng thấy Phật 10 phương cấp cho hoa sen? Có phải vì ta đã phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề cho nên trong mộng thấy Phật 10 phương cho mình lọng báu?  Như ta đã thấy trong đài hoa sen có hình mặt trời, vô-lượng ánh-sáng nhập vào miệng ta, lại thấy thân mình lớn nghìn do-tuần, có lọng bảy-báu trang-sức mặt trời, lại thấy trong bụng, có 60 ức trăm ngàn Bồ tát đều ngồi kiết già, trên các hoa sen, đang nhập Chánh-định, . . . rồi Phạm-thiên-vương đến dạy bảo ta cấp phát hoa sen. . . mộng sự như vậy, ta sao hiểu được? Chỉ có Như Lai mới hiểu tất cả! Nay ta phải đến chỗ Phật ngự để hỏi rõ ràng, do nhân duyên gì thấy việc như vậy?’

Thiện-nam-tử! Liền sáng hôm đó Phạm Chí Bửu Hải đến ngay chỗ Phật, lo việc ăn uống, lấy nước tắm rửa, tự tay rót mời những món hảo hạng, ăn xong dọn rửa,  cẩn thận cất đặt các thứ chén bát, rồi về một bên ngồi nơi giường thấp để nghe diệu-pháp. Lúc ây Thánh-vương cùng 1000 con vua, vô-lượng vô-biên trăm nghìn đại-chúng, ra khỏi thành Điều-la cung-kính đi vòng, hướng về vườn Diêm-phù, đến ngoài biên vườn, theo phép xuống xe đi bộ đến chỗ Phật ngự, cúi đầu lại Phật và Tỳ-kheo-tăng, rồi lần lượt đến ngồi phía trước Phật để nghe nói Pháp.

Khi đó Phạm Chí hướng về Đức Phật trình-bày đầy đủ các điều ông trông thấy trong mộng đêm qua. Phật dạy Phạm Chí: ‘Trong mộng ông thấy có ánh-sáng lớn, 10 phương vô-lượng như hằng-hà-sa các cõi thế-giới, đâu đâu cũng có chư Phật Thế Tôn cho ông hoa sen, mà trong đài hoa có hình mặt trời, ánh-sáng tụ vào trong miệng của ông, việc ấy do trước tiên ông đã trong 250 năm qua dạy cho vô-lượng chúng-sanh trong Diêm-phù-đề khiến họ được an-trụ nơi ba phước-xứ (ba cõi phước), lại khiến vô-lượng chúng-sanh phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, rồi nay ông lại làm việc đại thí cúng-dường Như Lai và Tỳ-kheo-tăng. Bởi vậy cho nên chư Phật 10 phương đã thọ ký cho ông thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Mười phương chư hằng-hà-sa, chư Phật Thế Tôn hiện đang nói pháp cho ông hoa sen thân bạc lá vàng, lưu ly làm tua, mã-não làm nhụy, mà trong đài hoa có hình mặt trời, các sự như vậy đều là tướng mạo của việc thọ-ký. Phạm Chí! Trong mộng ông thấy chư Phật 10 phương như hằng-hà-sa ở khắp các cõi hiện đang nói pháp, các Đức Thế Tôn đã cấp cho ông những lọng bảy báu, trên lọng trang-sức đến Trời Phạm-thiên, thế là mai sau vào lúc nửa đêm,  ông thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, tức trong đêm ấy ông được vang-danh đến khắp 10 phương vô-lượng thế-giới như cát sông Hằng, cho trên đến Phạm-thiên, đỉnh đầu chẳng thấy, không ai vượt khỏi: Đó là tướng mạo thành đạo của ông. Trong mộng ông thấy thân ông to lớn, lại thấy ánh-sáng của các mặt trời xoay quanh thân ông: Thế là mai sau, trước khi thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, ông đã có thể giáo-hóa vô-lượng chúng-sanh trong cõi Diêm-phù-đề, khiến phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cho nên khi ông thành đạo thì đồng thời trong khắp 10 phương, nơi các thế-giới nhiều như số bụi nhỏ, những vị thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, đều nói lời này: ‘Ta trong dĩ-vãng đã nhờ ngài Phạm Chí Bửu Hải khuyến-hóa phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thế Tôn Mỗ-giáp đích-thị là chơn-thiện trí-thức của xa xưa’. Thế rồi các Đức Phật ấy mỗi mỗi tự phân phát chư đại Bồ tát đến cúng dường ông. Các Bồ tât ấy ở cõi Phật mình trước đã đạt được tự tại sư-tử du-hý biến-hóa thần-túc, nay lại đem dùng để cúng-dường ông, cúng-dường xong rồi, nghe ông nói pháp liền được Đà-la-ni nhẫn-nhục tam-muội, nghe nhận pháp xong, các Bồ tát đó trở về bổn độ trình lại với Phật ở thế-giới mình những điều đã thấy trong nước của ông. Phạm Chí! Các đều ông thấy trong mộng như thế đều là tướng mạo thành-đạo của ông.

Phạm Chí! Ông lại mộng thấy trong bụng của ông có vô-lượng ức chư đại Bồ tát đều ngồi kiết già trên các hoa sen, đang nhập Chánh-định: thế là mai sau khi đã thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề rồi, ông lại khuyên dạy vô-lượng ức trăm nghìn chúng-sanh khiến chẳng thối-chuyển nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Sau khi ông nhập niết bàn vô-thượng, trong đời vị-lai, nơi 10 phương cõi có vô-lượng Phật Pháp-vương Thế Tôn cũng sẽ xưng dương tên ông mà nói như vầy: ‘Trong quá khứ qua bao đại kiếp bằng số bụi nhỏ,  có Phật Mỗ-giáp là Phật Thế Tôn đã khuyên dạy chúng ta an trú nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, khiến chẳng thối-chuyển, bởi vậy ngày nay chúng ta mới thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, làm bậc Chánh-pháp-vương. Phạm Chí! Điều mộng như thế đề là tướng mạo thành-đạo của ông.’

Phạm Chí! Trong mộng ông thấy hình người mặt heo . . . đến mặt khỉ lớn, máu làm dơ thân, ăn các loại trùng, ngồi dưới cây lan, rồi bị chúng-sanh ăn lại thân mình, chỉ còn xương nhỏ, khi bỏ hài cốt đa số thọ-thân ấy người ngu si, trú ba cõi-phước, tức làm ba việc bố-thí, điều-phục, khéo giữ miệng, thân… Những người như thế được làm thiên-ma, chịu khổ lui, mất, nếu được làm người phải chịu sanh, già, bệnh, chết, sầu, lo, khổ-não: khổ phải chia lìa, khổ vì oán hội, khổ cầu chẳng được . . . sanh làm ngạ-quỹ, chịu khổ đói khát, sanh vào súc-sanh (vô minh hắc ám), khổ bị chặt đầu, sanh trong địa-ngục, chịu đủ loại khổ. Muốn được thoát khổ chẳng lìa khổ được! Bởi vậy, an-trú nơi ba cõi phước nguyện làm Thiên-vương, Chuyển-luân Thánh-vương, hoặc muốn chủ lãnh một tứ thiên-hạ, ấy người ngu dại, ăn hại tất cả chúng-sanh. Các chúng-sanh nầy, sau rồi trở lại ăn hại người ngu, cứ thế vần xoay, khiến phải sanh-tử, chẳng có thế lường được! Phạm Chí! Điều mộng như trên, đó là tướng-mạo phải chịu sanh-tử lâu dài Ngũ-Trược Ác-Thế vậy.

Phạm Chí! Trong mộng ông thấy có những người dùng hoa Tu-nạn-na kết làm chuỗi ngọc, ngồi xe nhỏ xấu trâu nước kéo đi, đường chính chẳng theo, hướng nam cố chạy. Phạm Chí! Đó là an-trụ trong ba phước sự. Khéo tự điều-phục khiến được lặng-yên (tịch-tịnh), ấy hướng thanh-văn hiện-hành tướng-mạo.

Thiện-nam-tử! Bấy giờ Phạm Chí Bửu Hải thưa với Chuyển-luân Thánh-vương rằng: ‘Đại vương nên biết: Thân người khó được nay vua dã được, thành-tựu chẳng khó. Chư Phật Thế Tôn ra đời rất khó hơn hoa Ưu-đàm. Điều khiến lòng tham cùng phát thiện-nguyện lại càng rất khó.’

Tâu Đại vương! Nếu nay nguyện làm Trời, Người, đó là gốc khổ. Nếu muốn làm chủ một tứ thiên-hạ, đến 2, 3, 4 cũng là gốc khổ, sanh-tử xoay-vần.

Tâu Đại vương! Làm chủ trời, người đều là vô-thường, không có tướng quyết-định, giống như gió mạnh, người vậy tham đắm, vui trong ngũ-dục, lòng chẳng chán đủ, như đứa hài-nhi thấy mặt trăng trong nước. Nếu có nguyện cầu trong cõi trời, người, được thong dong vui-vẻ, những người như thế phần nhiều bị đọa vào trong địa-ngục, chịu khổ quá nhiều. Nếu sanh làm người, phải khổ vì yêu mà chịu chia lìa, đã oán ghét nhau lại phải chịu chung sống, nếu sanh lên trời, phải khổ lui, mất, lại biết bao-nhiêu phải khổ thọ thai, các loại ăn nhau chịu khổ mất mạng, ngu dại như trẻ con lòng chẳng biết chán. Tại sao như vậy? Tại bỏ ý tốt, tại chẳng nguyện-lành, tại không tinh-tấn, tại không được nơi cần được, tại không hiểu chỗ nên hiểu, tại không chứng đều nên chứng, ngu dại như trẻ con chẳng có ý-thức phân-biệt. Chỉ có tâm bồ-đề mới lìa các khổ, chẳng để lại gì khiến phải sanh chán. Người đời sanh-tử, chịu khổ quá nhiều, lại đành thêm vui khiến nên các khổ ngày càng tăng-trưởng! Tâu Đại vương! Ngài nên suy nghĩ, có bao nhiêu khổ như vậy trong vòng sanh-tử. Tâu Đại vương! Nay Đại vương đã cúng-dường Phật, đã trồng căn-lành, vậy nơi Tam-bảo nên sanh lòng tin sâu sắc. Đại vương nên biết: Trước đã cúng-dường Phật Thế Tôn, đó là nguyên nhân khiến nên đời sau được giàu có lớn, nhận theo, giúp giữ giới cấm, đó là nguyên nhân đời sau sanh làm Trời, Người, ngày nay nghe pháp, đó là nguyên nhân đời sau được có trí-tuệ. Tâu Đại vương! Nay đã thành-tựu những việc như thế, thì nên phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

Lúc ấy Thánh-vương bèn đáp lại rằng: ‘Phạm Chí! Nay ta chẳng dùng bồ-đề như vậy. Nay tâm của ta yên vui sanh-tử, vì nhân duyên đó bố-thí, trì-giới, nghe, nhận diệu pháp. Phạm Chí! Bồ đề vô-thượng sâu quá khó được!’ Bấy giờ Phạm Chí lại thưa vua rằng: Tâu Đại vương! Đạo này thanh-tịnh, phải nên nhất-tâm nguyện cầu đầy đủ, đạo nầy chẳng dơ, vì tâm thanh-tịnh, đạo nầy ngay thẳng, vì không dua nịnh, cong vậy, đạo nầy trong trắng, ít có, vì lìa phiền não, đạo nầy rộng lớn, vì không chướng ngại, đạo nầy nhận chịu, khoan-dung, vì suy-tư nhiều, đạo nầy chẳng sợ, vì chẳng làm ác, đạo nầy giàu lớn, vì thực hiện đàn ba-la-mật (bố-thí rốt-ráo), đạo nầy thanh-tịnh, vì thực-hiện thi-la-ba-la-mật (trì-giới rốt-ráo), đạo nầy vô-ngã, vì thực-hiện sằn-đề ba-la-mật (nhẫn-nhục rốt-ráo), đạo nầy chẳng trụ, vì thực-hiện Tỳ-lê-đa ba-la-mật (tinh-tấn rốt-ráo), đạo nầy chẳng loạn, vì thực-hiện thiền-ba-la-mật (thiền-định rốt ráo), đạo nầy khéo chọn, vì thực-hiện Bát-nhã ba-la-mật, đạo nầy chính là chỗ đến của trí tuệ chơn thật, vì thực-hiện đại-từ, đạo nầy chẳng thối lui, vì thực hiện đại-bi, đạo nầy hoan-hỷ, vì thực hiện đại-hỷ, đạo nầy bền vững vì thực-hiện đại-xả, đạo này không có châm chọc, vì thường xa lìa ham muốn oán giận bực tức, vọng tưởng, đạo nầy yên ổn, vì tâm không chướng ngại, đạo nầy không cướp hại, vì phân-biệt sắc, thanh, hương, vị , xúc, đạo nầy trừ ma, vì khéo phân-biệt âm, nhập, giới, đạo nầy xa lìa ma, vì đoạn trừ các kiết –sử (gàng buộc sai khiến), đạo nầy diệu-thắng, vì xa lìa các mỗi lo nghĩ của thanh-văn duyên-giác, đạo nầy tràn đầy khắp cả, vì là chỗ tất cả chư Phật nhận giữ, đạo nầy rất quý báu, vì là tất cả trí tuệ, đạo nầy sáng suốt thanh-tịnh, vì trí-tuệ trong-sáng không bị chướng-ngại, đạo nầy khéo nói, vì nó là chỗ của thiện-tri-thức hộ-trì, đạo nầy bình đẳng vì dứt yêu, ghét, đạo nầy không có bụi dơ, vì lìa oán giận dơ dáy phẫn-nộ, đạo nầy là cõi lành, vì nó xa lìa mọi điều chẳng lành. Tâu Đại vương! Đạo nầy như thế có thể đến chỗ an-lạc, cho đến Niết-bàn. Bởi vậy, nên phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Bấy giờ, Chuyển-luân Thánh-vương trả lời quan đại thần rằng: Phạm Chí! Nay Như Lai hiện ra nơi đời, thọ tám vạn tuổi, mạng sống có hạn, chẳng có thể dứt hết các ác nghiệp cho tất cả chúng-sanh, khiến trồng căn-lành được. Trồng căn-lành rồi mới an-trí quả-thánh: hoặc được đà-la-ni nhẫn-nhục tam-muội, hoặc được căn-lành thắng-diệu của Bồ tát thì chư Phật thọ-ký cho được A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề; hoặc được ít căn-lành thì sanh trong cõi Trời, Người, hưởng thọ các điều khoái-lạc. Các chúng-sanh như vậy, mỗi mỗi tự mình nhận lãnh quả-báo lành hay chẳng lành. Phạm Chí! Trong tất cả chúng-sanh, cho đến một người, nếu không có căn-lành, thì Như Lai chẳng có thể nói pháp dứt khổ được: Thế Tôn Như Lai, tuy làm phước-điền, nhưng nếu không có căn-lành thì chẳng có thể khiến đoạn-trừ các pháp khổ-não được. Phạm Chí! Ta nay phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, hành đạo Bồ tát, tu tập đại-thừa, nhập vào Pháp-môn chẳng khá nghĩ bàn, giáo hóa chúng-sanh, làm các Phật sự, cuối cùng chẳng nguyện phát tâm Bồ-đề nơi đời ngũ-trược, quốc-độ dơ, ác. Ta nay hành-đạo Bồ tát, nguyện thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thuở thế-giới chúng-sanh không có các điều khổ não: Nếu ta được cõi Phật như thế, và chỉ như thế thôi thì mới nên thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.’

Thiện-nam-tử! Lúc ấy, Đức Bửu Tạng Đa-đà a-già-độ a-la-ha tam-miệu tam-Phật-đà liền nhập Tam-muội, Tam-muội ấy tên là : ‘Kiến chủng-chủng trang-nghiêm’. Nhập Tam-muội rồi làm phép biến-hóa thần-túc, phóng ra ánh-sáng lớn. Nhờ sức Tam-muội nên thế-giới ở 10 phương mỗi mỗi phương-diện đều hiện ra hàng ngàn cõi Phật. Như số bụi nhỏ. Thế-giới chư Phật có đủ các loại trang-nghiêm: hoặc có thế-giới Phật đã nhập Niết-bàn lâu rồi; hoặc có thế-giới Phật mới bắt đầu nhập Niết-bàn; hoặc có thế-giới trong đó Bồ tát mới vào đạo-tràng ngồi dưới cây Bồ-đề, đang hàng-phục ma-oán; hoặc có thế-giới Phật mới thành đạo, bèn chuyển-pháp-luân, hoặc có thế-giới đầy dẩy khắp nơi toàn là những đại Bồ tát, không có danh-tự Thanh-văn Duyên-giác, hoặc có thế-giới Phật nói thừa Thanh-văn, Bích-chi Phật, hoặc có thế-giới không Phật, Bồ tát, Thanh-văn, Duyên-giác; hoặc có thế-giới ngũ-trược tệ-ác, hoặc có thế-giới thanh-tịnh vi-diệu, không có mọi thứ ác trược, hoặc có thế-giới thấp hèn, đắm nhiễm, bất-tịnh, hoặc có thế-giới trang-nghiêm, thanh-tịnh, tốt đẹp, hoặc có thế-giới thọ-mạng vô-lượng, hoặc có thế-giới thọ-mạng ngắn-ngặt, hoặc có thế-giới đang bị nạn lửa lớn, hoặc có thế-giới đang bị nạn nước lớn, hoặc có thế-giới đang bị nạn gió lớn, hoặc có thế-giới kiếp thành mới bắt đầu hoặc có thế-giới kiếp thành mới xong, . . . như vậy, có vô-lượng thế-giới quang-minh vi-diệu: tất cả đều được chiếu-sáng rõ ràng. Khi đó, đại chúng tất cả đều thấy vô-lượng thế-giới thanh-tịnh của chư Phật với mọi cách trang-nghiêm như vậy.

Bây giờ Phạm Chí Bửu Hải thưa với Chuyển-luân-vương rằng: ‘Tâu Đại vương! Nay đã được thấy thế giới chư Phật mỗi mỗi trang-nghiêm như thế. Vậy Đại vương nên phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Muốn cầu Phật độ nào, tùy ý Đại vương lựa chọn’. Thiện-nam-tử! Lúc ấy, Chuyển-luân-vương hướng về Phật, chấp tay bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Chư vị Bồ tát vì nghiệp-duyên gì mà giữ thế-giới thanh-tịnh? Vì nghiệp-duyên gì lại giữ thế-giới bất-tịnh? Vì nghiệp-duyên gì mà thọ-mệnh vô-lượng; vì nghiệp-duyên gì mà thọ-mệnh lại ngắn ngặt? Phật dạy Thánh-vương rằng: Đại vương nên biết: Chư vị Bồ tát, do vì nguyện-lực mà giữ quốc độ thanh-tịnh, lìa ác ngũ-trược. Lại có Bồ tát, do vì nguyện-lực, cầu ác ngũ-trược.’ Bấy giờ, Thánh-vương bạch trước Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Nay con trở về, ở chỗ an-nhàn, thanh-tịnh, trong thành, chuyên-tâm, suy-tư, để phát thệ-nguyện. Như chỗ con thấy về tướng mạo của các Phật độ, thì con nguyện-cầu thế-giới thanh-tịnh trang-nghiêm, lìa ác ngũ-trược’. Phật dạy Thánh vương: ‘Bây giờ, ông nên làm vậy!’

Thiện-nam-tử! Lúc ấy Chuyển-luân-vương cúi đầu lạy Phật và Tỳ-kheo-tăng, đi quanh bên phải ba vòng rồi thối lui mà đi. Vua vào trong thành về chỗ mình ở, chon nơi khuất vắng ở trong cung-điện, rồi ngồi ngay ngắn chuyên tâm suy-tư, tu-tập các thứ trang-nghiêm trong thế-giới Phật của mình.

Thiện-nam-tử! Bấy giờ, Phạm Chí Bửu Hải nói với Thái tử Bất-huyến rằng: Thiện-nam-tử! Nay ông cũng nên phát tâm cầu A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Việc của ông làm trụ ở ba cõi phước tức là các việc bố-thí, điều-phục, khéo giữ miệng, thân cùng các việc làm nghiệp lành thanh-tịnh, ông nên hòa-hợp hướng về A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Lúc ấy Thái tử đáp rằng: ‘Nay tôi phải trước hết nên trở về nơi cung-điện, ở chỗ khuất vắng, để ngồi ngay ngắn suy-tư, nếu tôi quyết định phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, đương nhiên tôi sẽ trở lại chỗ Phật: phải ở trước Phật nhất-định phát-tâm, nguyện giữ Phật độ tịnh-diệu toàn-vẹn’. Nói xong, Thái tử cúi đầu lạy Phật và Tỳ-kheo-tăng, đi quanh bên phải ba vòng, rồi liền lui về. Về cung-điện mình, ở nơi khuất vắng, Thái tử ngồi ngay ngắn, chuyên-tâm suy-tư, tu-tập các thứ trang-nghiêm trong thế-giới Phật của mình.

Thiện-nam-tử! Bấy giờ, Phạm Chí Bửu Hải nói với Vương tử thứ hai rằng: Thiện-nam-tử! Nay ông cũng nên phát tâm cầu A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

Như vậy, 1000 người con của vua đều được giáo-hóa, khiến cho phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thời ấy, Phạm Chí lại cũng giáo-hóa 8 vạn 4 ngàn các vị tiểu-vương, và 9 vạn 2 ngàn ức chúng-sanh, khiến họ phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề cả. Hết thảy đại-chúng đều nói như vầy: ‘Nay chúng ta nên về chỗ của mình, chọn nơi thanh-tịnh, để ngồi ngay-ngắn, chuyên tâm suy-tư, tu-tập các thứ trang-nghiêm trong thế-giới Phật của mình’.

Như thế đại-chúng nhất tâm tịch-tịnh trong bảy năm liền, ai nấy ở nhà quyết ngồi ngay thẳng suy-tư tu-tập để tự trang-nghiêm cõi Phật của mình.

Thiện-nam-tử! Sau đó, Phạm Chí bổng khởi niệm rằng: Ta nay giáo-hóa vô-lượng trăm ngàn ức na-do-tha chúng-sanh khiến họ phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Ta đã thỉnh Phật cùng đại chúng tăng, trong bảy năm liền cho ta cung-phụng. Nếu trong tương lai, ta tất sẽ thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thành-tựu sở-nguyện, thì nay ta nên khuyến dụ Trời, Rồng, Quỹ, Thần, A-tu-la, Càn-thác-bà, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Dạ-xoa, La-sát, và Câu bằn trà, khiến họ cúng dường đại-chúng, như ta. Thiện-nam-tử! Lúc ấy Phạm Chí liền nhớ đến Tỳ-sa-môn Thiên-vương. Thiện-nam-tử! Ngay khi đó, thiên-vương liền biết tâm-niệm của Phạm Chí, bèn cùng trăm nghìn ức vô-lượng Dạ-xoa cung kính vây quanh, đến chỗ Phạm Chí, vào lúc đương đêm, tới trước mặt ông mà nói như vầy: ‘Phạm Chí! Ông muốn dạy bảo điều gì?’ Phạm Chí hỏi: ‘Ông là ai đó?’. Tỳ-sa-môn nói: ‘Ông ít gặp, ít nghe Tỳ-sa-môn chăng? Chính là thân tôi đây. Ông muốn bảo điều gì? Lúc ấy Phạm Chí nói: Lành thay Đại vương! Tôi đang cúng-dường Phật và đại-chúng. Ông có thể giúp tôi cùng làm việc cúng-dường đó chăng? Tỳ-sa-môn thiên-vương nói: Ông bảo điều gì tôi vẫn tôn trọng. Tùy ý ông cần. Phạm Chí lại nói: Đại vương! Nếu có thể theo ý tôi, thì xin khiến các Dạ-xoa phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Cũng nên bày tỏ cho chư vị đó biết rằng: Muốn được phước đức, muốn được A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, hãy qua biển lớn, ngày ngày đến giữ ngưu-đầu Chiên-đàn, và lấy trầm-thủy cùng các loại hương, hoa, giữ đem đến đó, cũng nhận như tôi, ngày ngày cúng-dường Phật và chúng-tăng’. Nghe lời ấy xong, Thiên-vương trở về bốn xứ, đánh trống tập hợp Dạ-xoa, La-sát, nói to lên rằng: chư vị biết chăng? Cõi Diêm-phù-đề của Chuyển-luân-vương tên ‘Vô-tránh-niệm’, có ông Phạm Chí tên là Bửu Hải tức quan đại thần của Chuyển-luân-vương, đã thỉnh Phật, tăng, để lo cung phụng trong suốt bảy năm. Quý vị nên sanh lòng chung vui theo trong phước-đức ấy. Khi đã vui theo, tức có căn-lành, nhờ đó phát tâm hồi hướng A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Lúc ấy có trăm nghìn vô-lượng ức na-do-tha  Dạ-xoa chấp tay nói rằng: Phạm Chí Bửu Hải trong bảy năm liền cúng-dường Như Lai và Tỳ-kheo-tăng sống vui yên-ổn, thì có phước-báo, được trồng căn lành, chúng tôi thảy đều sanh-tâm tùy-hỷ, nhờ có căn-lành sanh-tâm tùy-hỷ, xin khiến hết thảy chúng tôi được thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Bấy giờ, Thiên-vương lại nói như vầy: ‘Quý vị lắng nghe! Muốn được phước đức, và có căn-lành hãy nên ngày ngày vượt qua biển lớn, vì ông Phạm Chí đến giữ ngưu-đầu Chiên-đàn và lấy trầm thủy nấu chín cơm ăn dâng Phật cùng Tỳ-kheo-tăng’. Lúc ấy có 9 vạn 2 ngàn Dạ-xoa cùng nói một lúc: ‘Thiên vương! Nay chúng tôi đây suốt bảy năm liền, thường chịu giữ-gìn, ngưu-đầu, Chiên-đàn,  và lấy trầm thủy cho ông Phạm Chí nấu chín cơm ăn dâng Phật cùng Tỳ-kheo-tăng’. Lại có bốn vạn 6 ngàn Dạ-xoa cũng đồng thanh nói: ‘Chúng tôi nhận lấy những vi-diệu hương cho ông Phạm Chí cúng-dường Như Lai và Tỳ-kheo-tăng’. Lại có 5 vạn 2 ngàn Dạ-xoa cũng đồng thanh nói: ‘Chúng tôi nhận lấy các loại diệu-hoa cho ông Phạm Chí cúng-dường Như Lai và Tỳ-kheo-tăng’. Lại có 2 vạn Dạ-xoa cũng đồng thanh nói: ‘Chúng tôi nhận lấy gạo ngon đủ vị cho ông Phạm Chí điều hòa uống ăn để cúng-dường Phật và Tỳ-kheo-tăng’. Lúc ấy lại có 7 vạn Dạ-xoa cũng đồng thanh nói: ‘Chúng tôi nhận đến lo việc uống ăn cúng-dường Như Lai và Tỳ-kheo-tăng’.

Thiện-nam-tử! Lúc ấy Phạm Chí lại nghĩ như vầy: Giờ nên khuyến dụ Tỳ lâu lặc xoa Thiên-vương, Tỳ-lâu-la-xoa Thiên-vương, Đề-đầu lại-tra Thiên-vương. Ông vừa nghĩ xong thì ba Thiên-vương đã biết ý-niệm liền đến chỗ ông,  . . . cho đến khi trở về bốn xứ. Tỳ-lâu-lặc-xoa cùng trăm ngàn ức na-do-tha câu-biện-trà, Tỳ-lâu-la-xoa Thiên-vương cùng trăm ngàn vô-lượng ức na-do-tha các Rồng, Đề-đầu-lại-tra cùng trăm ngàn vô-lượng ức na-do-tha chư Càn-thác-bà cho đến phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, đều cũng như vậy. Thiện-nam-tử! Bấy giờ Phạm Chí lại nhớ đến bốn đại Thiên-vương trong thiên-hạ thứ hai. Bốn vị Thiên-vương ấy, nhờ có Phật lực, đến chỗ Phạm Chí đồng nói như vầy : ‘Phạm Chí! Nay ông muốn bảo điều gì? Phạm Chí đáp: Nay tôi muốn khuyên các ông cùng quý-quyến thuộc phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Bốn vị Thiên-vương nói: Xin theo lời chỉ bảo’. Tức thì chư vị trở về chỗ mình, cùng các quyến-thuộc đồng thời phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Như vậy cho đến trăm ức Tỳ-sa-môn-vương, trong Tam-thiên Đại-thiên Thế-giới đều phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, trăm ức Tỳ-lâu-lặc-xoa Thiên-vương, trăm ức Tỳ-lâu-la-xoa, trăm ức Đề-đầu-lại-tra, mỗi mỗi tự cùng quyến thuộc của mình phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề cũng đều như vậy cả.

Thiện-nam-tử! Bấy giờ Phạm Chí lại nghĩ như vầy: Nếu trong tương lai, tất cả thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thành-tựu sở-nguyện, được lợi cho mình thì nên khiến cho tất cả chư Thiên đều làm cho được phần phước ấy, đều khuyên làm cho phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề được cả. Nếu trong thời vị-lai ta nhờ căn-lành ấy tất thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề thì Đạo-lợi Thiên-vương nên đến hội-kiến với ta, Dạ ma Thiên-vương, Đâu Suất Thiên-vương, Hóa Lạc Thiên-vương, Tha Hóa Tự-tại Thiên-vương cũng nên đến hội kiến với ta. Thiện-nam-tử! Khi Phạm Chí nghĩ như vậy rồi thì Đạo-lợi Thiên-vương, Dạ-ma Thiên-vương, Đâu Suất Thiên-vương, Hóa Lạc Thiên-vương, Tha Hóa Tự-tại Thiên-vương thảy đều đến đó hội kiến với Phạm Chí và nói: ‘Phạm Chí! Nay ông muốn bảo điều gì? Phạm Chí đáp: Chư vị là ai vậy? Năm vị Thiên-vương đều xưng tên họ, đồng nói: Phạm Chí! Ông muốn bảo gì? Chẳng nên sai-sử tại đại-hội nầy sao? Phạm Chí đáp: Chư Thiên-vương nên biết: Trên trời quý-vị có những lầu gác điện-đài quý đẹp, có các cây báu, cây hương, cây hoa, cây quả, cây lỏa, áo trời, tòa trời, đệm chiếu, mền mướt, vật báu thượng-diệu, cùng các chuỗi ngọc, cờ trời, lọng trời, cờ hiệu bằng lụa thảy thảy trang-nghiêm. Quý vị còn có các loại kỹ-nhạc, … Quý vị nên dùng các vật như vậy để trang-hoàng nơi vườn Diêm-phù để cúng dường Phật và Tỳ-kheo-tăng. Lúc ấy năm vị Thiên-vương đều nói: Xin theo lời chỉ bảo’. Rồi các vị Thiên-vương ai về chỗ nấy. Đạo-lợi Thiên-vương nói với Tỳ-lâu-lặc Thiên-tử, Dạ ma Thiên-vương nói với A-trà-mãn Thiên-tử, Đâu Suất Thiên-vương nói với Lộ-ê Thiên-tử, Hóa Lạc Thiên-vương nói với Câu-ni-la Thiên-tử, Tha Hóa Tự-tại Thiên-vương nói với Nan-đà Thiên-tử, năm vị đều nói như vầy: ‘Nay các con nên xuống cõi Diêm-phù-đề, lấy các món sở hữu của ta mà trang-hoàng vườn Diêm-phù : Treo các chuỗi ngọc, bày các tòa báu . . . như các thứ trang-nghiêm của chư Thiên, vì Như Lai mà xây lầu cao báu, như lầu báu của Đao-lợi Thiên-vương đang sử dụng’. Các vị Thiên-tử nghe dạy như vậy, bèn xuống tới cõi Diêm-phù-đề, vào lúc ban đêm, trang-hoàng vườn Diêm-phù-đề, với các cây báu, cho đến cờ hiệu, lại vì Như Lai xây lầu bảy báu, như các lầu báu cõi trời Đạo-lợi. Năm vị con Trời dùng các bảo vật trang-hoàng vườn Diêm-phù-đề rồi, bèn trở về Trời, thưa các vua cha rằng: ‘Đại vương nên biết: Chúng con đã đến trang-sức vườn nọ với các báu vật như vua đã dạy, lại vì Như Lai xây lầu bảy báu như các lầu báu cõi Trời Đao-lợi, chẳng chút sai khác’. Thiện-nam-tử! Lúc ấy, Đạo-lợi Thiên-vương, Dạ-ma Thiên-vương, Đâu Suất Thiên-vương, Hóa Lạc Thiên-vương, Tha Hóa Tự-tại Thiên-vương, bèn cùng nhau đến cõi Diêm-phù-đề, tới chỗ Phạm Chí mà tường trình rằng: ‘Tôi đã vì Phật và các Thánh tăng trang-hoàng vườn nầy. Ông bảo thêm gì xin hãy cứ nói, Phạm Chí nói rằng: Tất cả quý vị tại cảnh-giới mình có sức tự-tại tụ-tập chư Thiên. Xin nhớ lời tôi, nói với chư Thiên rằng Diêm-phù-đề có ông Phạm Chí, tên là Bửu Hải, trong bảy năm liền thỉnh Phật Thế Tôn và vô-lượng Tăng để lo cúng-dường. Nay quý vị nên theo phước-đức ấy sanh lòng tùy-hỷ, sanh lòng tùy-hỷ rồi, phát tâm hồi hướng A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Bởi vậy nên đến chỗ Phật ngự, nhìn Phật Thế Tôn và Tỳ-kheo-tăng, cúng-dường những món cần dùng và nghe diệu-pháp’. Lúc năm vị Thiên-vương từ chỗ Phạm Chí, nghe lời ấy rồi, mỗi mỗi đều về chỗ ở của mình. Bấy giờ Đao-lợi Thiên-vương và Thích Đề Hoàn-nhân, bèn họp chư thiên mà nói như vầy: ‘Quý vị nên biết: cõi Diêm-phù-đề có Chuyển-luân Thánh-vương tên là Vô-tránh-niệm. Đại thần của vua có ông Phạm Chí tên là Bửu Hải, đã cung thỉnh Phật và vô-lượng Tăng, trọn trong bảy năm chăm lo cung-dưỡng. Tôi cũng vì Phật và Tỳ-kheo-tăng trước đây đã dùng mọi thứ vật báu đem đến trang-hoàn vườn Diêm-phù-đề. Quý vị cũng nên vì nhân-duyên căn-lành ấy mà sanh tâm tùy-hỷ, sanh tùy-hỷ rồi, phát tâm hồi hướng A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cũng khiến Phạm Chí được như sở nguyện’. Thiện-nam-tử! Lúc đó, trăm ngàn vô-lượng ức na-do-tha con vua Trời Đao-lợi cung-kính chấp tay thưa rằng: Ngày nay chúng con nơi căn-lành ấy sanh tâm tùy-hỷ, nhân chỗ tùy-hỷ đó, xin khiến cho tất cả chúng con được thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Dạ-ma Thiên-vương, Đâu Suất Thiên-vương, Hóa Lạc Thiên-vương, Tha Hóa Tự-tại Thiên-vương, đều họp chư Thiên mà nói như vầy: ‘Quý vị nên biết: cõi Diêm-phù-đề có Chuyển-luân Thánh-vương tên là Vô-tránh-niệm. Đại thần của vua có ông Phạm Chí tên là Bửu Hải, đã cung thỉnh Phật và vô-lượng Tăng, trọn trong bảy năm chăm lo cung-dưỡng. Tôi cũng vì Phật và Tỳ-kheo-tăng trước đây đã dùng mọi thứ vật báu đem đến trang-hoàn vườn Diêm-phù-đề. Quý vị cũng nên vì nhân-duyên căn-lành ấy mà sanh tâm tùy-hỷ, sanh tùy-hỷ rồi, phát tâm hồi hướng A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cũng khiến Phạm Chí được như sở nguyện’. Thiện-nam-tử! Lúc ấy, bốn vị Thiên-vương, vị nào cũng có trăm ngàn vô-lượng ức na-do-tha Thiên-tử cung-kính chấp-tay thưa rằng: ‘Ngày nay chúng con nơi căn-lành ấy sanh tâm tùy-hỷ, nhân chỗ tùy-hỷ đó, xin khiến cho tất cả chúng con được thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề’. Bấy giờ năm vị Thiên-vương, vị nào cũng nói: ‘Giờ đây, quý vị tất cả nên đến cõi Diêm-phù-đề thấy Bửu Tạng Phật và Tỳ-kheo-tăng lễ-bái, đi quanh, cung-kính cúng-dường, tôn-trọng khen-ngợi. Thiện-nam-tử! Năm vị Thiên-vương liền đó trong đêm, cùng các Thiên-tử, Thiên-nữ, Đồng-nam, Đồng-nữ và các quyến-thuộc trăm ngàn ức na-do-tha chúng sau trước vây quanh, đến chỗ Phật ngự, lạy dưới chân Phật, cùng Tỳ-kheo-tăng, nghe Phật nói pháp cho đến sáng sớm, rồi lên hư không, dùng các hoa trời: hoa ưu-bát-la, hoa bát-đầu-ma, hoa câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lợi, hoa tu-mạn-na, hoa bà-thi-sư, hoa a-đề-mục-đa-già-chiêm bà-già, hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha-mạn-đà-la, rải xuống như mưa để khen đại hội, và dùng nhạc trời cùng đánh trống trời để cúng-dường Phật. Thiện-nam-tử! Lúc ấy, Phạm Chí Bửu Hải lại nghĩ như vầy: Nếu ta tương lai tất thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thành-tựu sở-nguyện được lợi-ích mình, thì lại cũng nên giáo-hóa các A-tu-la khiến cho hết thảy sẽ đều phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề’. Thiện-nam-tử! Lúc ông Phạm Chí suy-nghĩ vậy rồi thì có năm vị vua A-tu-la đến chỗ Phạm Chí, cho đến trăm ngàn vô-lượng ức na-do-tha các A-tu-la nam-tử, nữ-nhơn, đồng-nam, đồng-nữ, như Phạm Chí dạy, phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề đến chỗ Phật ngự, nghe nhận diệu-pháp. Thiện-nam-tử! Lúc đó Phạm Chí lại nghĩ như vầy: ‘Nếu trong tương lai ta ắt thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thành-tựu sở-nguyện được lợi-ích mình thì ta lại nên giáo-hóa Thiên-ma Ba-tuần khiến phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề’. Thiện-nam-tử! Lúc đó Thiên-ma Ba-tuần biết tâm-niệm của Phạm Chí, bèn cùng trăm nghìn vô-lượng ức na-do-tha đàn-ông, đàn-bà, trẻ-con nam nữ, đến chỗ Phạm Chí, vâng lời dạy bảo phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, . . . cho đến nghe pháp phát tâm đều đặng ĐẠI-TRÍ.

 

Kinh Bi-Hoa hết quyển thứ hai

 

*           *

*

 

QUYỂN THỨ BA

Bắc- Lương Thiên- Trúc Tam Tạng Đàm Vô Sấm dịch ra Hoa Văn.

 

 

PHẨM III

ĐẠI THÍ. CHI HAI

 

Phật lại phán với Ngài Tịch Ý rằng: Thiện-nam-tử! Lúc ấy Phạm Chí lại nghĩ như vầy: Nếu trong tương lai ta ắt thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thành-tựu sở-nguyện được lợi-ích mình thì ta lại nên giáo-hóa tiếp Đại-phạm Thiên-vương phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Đại-phạm Thiên-vương tức thì biết rõ tâm-niệm Phạm Chí, bèn đến chỗ Phạm Chí nói rằng: ‘Ông muốn bảo gì? Phạm Chí hỏi: Ông là ai vậy? Phạm-vương đáp: Tôi là Đại-phạm Thiên-vương, Phạm Chí liền nói: Lành thay! Thiên-vương! Khá trở về Trời tập họp chư Thiên nói như tôi nói : cõi Diêm-phù-đề có Đại Phạm Chí tên là Bửu Hải, trong vòng bảy năm, thỉnh Phật Thế Tôn cùng vô-lượng Tăng,  chăm lo cung-dưỡng. Nay quý vị nơi phước-đức ấy nên sanh tùy-hỷ, sanh tùy-hỷ rồi, phát tâm hồi hướng A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề’. Khi Đại-phạm Thiên-vương nghe lời dạy ấy, bèn trở về Trời tập-họp chư Phạm, rồi nói như vầy: Quy vị nên biết: cõi Diêm-phù-đề có Chuyển-luân Thánh-vương tên là Vô-tránh-niệm. Đại thần của vua có ông Phạm Chí tên là Bửu Hải, thỉnh Phật Thế Tôn cùng vô-lượng Tăng, trọn trong bảy năm, chăm lo cung-dưỡng. Quý vị ở đây theo căn-lành ấy, nên sanh tùy-hỷ, sanh tùy-hỷ rồi, phát tâm hồi hướng A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, khiến nên Bửu Hải được như sở nguyện’. Thiện-nam-tử! Lúc ấy, trăm nghìn vô-lượng ức na-do-tha chư Phạm Thiên-tử cung-kính chấp tay cùng nói như vầy: Hôm nay chúng tôi nơi căn-lành ấy sanh tâm tùy-hỷ. Nhờ tâm tùy-hỷ khiến cho chúng tôi tất cả đều thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Phạm-vương lại nói thêm rằng: ‘Quý vị nên đến cõi Diêm-phù-đề thấy Bửu Tạng Phật và Tỳ-kheo-tăng lễ-bái, đi quanh, cung-kính cúng-dường, tôn-trọng khen-ngợi’.Thiện-nam-tử! Lúc ấy, Đại Phạm Thiên-vương bèn cùng trăm nghìn vô-lượng ức na-do-tha chư Phạm Thiên-tử sau trước vây quanh, đến chỗ Phật ngự, lạy dưới chân Phật cùng Tỳ-kheo-tăng, nghe nhận diệu-pháp.Thiện-nam-tử! Bấy giờ Phạm Chí lại nghĩ như vầy: Cũng nên giáo-hóa đệ-nhị thiên-hạ Đạo-lợi Thiên-vương, Dạ ma Thiên-vương, Đâu Suất Thiên-vương, Tha Lạc Thiên-vương, Tha Hóa Tự-tại Thiên-vương. Nhờ có Phật-lực, các vị đều đến chỗ Phạm Chí ở và đều nói lên rằng: ‘Ông muốn bảo điều gì? Phạm Chí hỏi lại: Chư vị là ai? Năm vị Thiên-vương đều xưng tên họ. Phạm Chí liền bảo: ‘Tất cả quý vị nên trở về Trời nhớ nói lời tôi, rằng Diêm-phù-đề có Chuyển-luân-vương tên là Vô-tránh-niệm. Đại thần của vua có Đại Phạm Chí tên là Bửu Hải, trong trọn bảy năm cúng-dường Như Lai và Tỳ-kheo-tăng. Quý vị hôm nay theo thiện-căn ấy, nên sanh tùy-hỷ, sanh tùy-hỷ rồi, phát tâm hồi hướng A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề’. Đạo-lợi Thiên-vương cho đến Tha Hóa Tự-tại Thiên-vương, nghe lời ấy rồi, liền về chỗ mình tập-họp chư Thiên và nói như vầy: ‘Quý vị nên biết: cõi Diêm-phù-đề có Chuyển-luân-vương tên là Vô-tránh-niệm. Đại thần của vua có Đại Phạm Chí tên là Bửu Hải, trong trọn bảy năm cúng-dường Như Lai và Tỳ-kheo-tăng. Quý vị hãy nên nhờ nhân-duyêncăn-lành đó, sanh-tâm tùy-hỷ, sanh tùy-hỷ rồi, phát tâm hồi hướng A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề’. Thiện-nam-tử! Lúc đó Thiên-chúng, cung-kính chấp tay, cùng nói như vầy: ‘Hôm nay chúng tôi, nơi căn-lành ấy, sanh tâm tùy-hỷ. Nhờ tâm tùy-hỷ, ắt khiến chúng tôi tất cả đều thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề’. Các vị Thiên-vương lại nói thêm rằng: ‘Hôm nay nên đến chỗ Phật ngự, thấy Phật Thế Tôn và Tỳ-kheo-tăng, lễ-bái, đi quanh, cung-kính cúng-dường, tôn-trọng khen-ngợi’. Thiện-nam-tử! Bấy giờ Đạo-lợi Thiên-vương ….cho đến Tha Hóa Tự-tại Thiên-vương, hết thảy đều cùng trăm ngàn vô-lượng ức na-do-tha Thiên-tử, Thiên-nữ, đồng-nam, đồng-nữ và các quyến-thuộc, sau trước vây quanh, đến chỗ Phật ngự, lạy dưới chân Phật cùng Tỳ-kheo-tăng, nghe nhận diệu-pháp, đệ-nhị thiên-hạ, năm A-tu-la vương, Thiên-ma Ba-tuần, Đại Phạm Thiên-vương cũng lại như vậy. Đệ-tam, đệ-tứ, đệ-ngũ, cho đến ba ngàn Đại-thiên thế-giới chư Phật, trăm ức Đạo-lợi-thiên, Trăm ức Dạ-ma-thiên, trăm ức Đâu-suất-thiên, trăm ức Năm A-tu-la-vương, trăm ức Ma Ba-tuần, trăm ức Đại Phạm Thiên-vương và vô-lượng ức trăm ngàn na-do-tha quyến-thuộc, đều phát tâmA-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Nhờ thần lực Phật, tất cả đều đến tứ thiên-hạ, nơi Phật đang ngự, cúi đầu lạy Phật và Tỳ-kheo-tăng, nghe nhận diệu-pháp. Lúc ấy đại-chúng đầy khắp không gian, Tam-thiên Đại-thiên Thế-giới không còn chỗ trống. Thiện-nam-tử! Bấy giờ Phạm Chí Bửu Hải lại nghĩ như vầy: ‘Nay ta đã giáo-hóa được trăm ức Tỳ-sa-môn Thiên-vương, cho đến trăm ức Đại Phạm Thiên-vương, như ta đã có thệ nguyện, nay được tự-tại rồi! Kế lại nghĩ tiếp : Nếu trong tương lai, tôi ắt được thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, được lợi mình thành tựu sở nguyện, nguyện Phật Thế Tôn vì các đại chúng thị-hiện các loại biến-hóa thần-túc, nguyện nhờ Phật lực khiến trong Tam-thiên Đại-thiên Thế-giới có bao nhiêu súc-sanh, ngạ-quỹ, địa-ngục, cho đến người đời, thảy thảy đều lìa tất cả khổ não, nhận toàn niềm vui, lại trước mỗi người hiện một hóa Phật, khuyên bảo tất cả đều nên phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề’. Thiện-nam-tử! Lúc đó Bửu Tạng Như Lai biết rõ tâm-niệm Phạm Chí Bửu Hải, tức thì liền nhập Vô-nhiệt tam-muội. Lúc Phật Thế Tôn nhập tam-muội rồi liền thị hiện các loại biến-hóa thần-túc như vầy: Mỗi mỗi lỗ chân lông phóng ra vô-lượng vô-biên ánh-sang, ánh-sáng vi-diệu chiếu khắp Tam-thiên Đại-thiên Thế-giới xuống tới Địa-ngục: chúng-sanh giá lạnh gặp sáng được ấm, chúng-sanh nóng bức, gặp sáng mát ngay, chúng-sanh đói khát, gặp sáng được no, thấy vui thâm-diệu, trước mỗi chúng-sanh có một hóa Phật 32 tướng tốt, chuỗi ngọc đeo thân, 80 vẻ đẹp, trang-nghiêm đầy đủ, các chúng-sanh kia, khi được khoái-lạc liền tự nghĩ rằng: ‘Nhờ duyên cớ gì mà nay chúng ta được lìa khổ-não, nhận bao nhiêu diệu-lạc?’. Lúc thấy hóa Phật 32 tướng tốt, chuỗi ngọc đeo thân, 80 vẻ đẹp thứ lớp trang-nghiêm, hiện trước mặt mình, mỗi mỗi đều nói: ‘Rất mong ơn Phật thành-tựu đại-bi, khiến con được lìa tất cả khổ não, nhận bao nhiêu diệu-lạc’. Lúc đó chúng-sanh dùng tâm hoan-hỷ chiêm-ngưỡng tôn-nhan, thời các hóa Phật bảo chúng-sanh rằng: ‘Tất cả nên xưng: Nam mô Phật phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Từ đó về sau chẳng thọ thêm khổ, thường được khoái-lạc vi-diệu bậc nhất. Các chúng-sanh đó đều nói như vầy: ‘Nam mô Thế Tôn’, phát tâmA-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, nhờ căn-lành đó, dứt tất cả ác, rồi lúc mạng-chung chuyển-sanh làm người. Chúng-sanh nóng bức nhờ chịu ánh-sáng, liền được mát mẻ, lìa khổ đói khát, nhận các diệu-lạc, cho đến được sanh vào cõi nhân-gian. Như cõi địa-ngục, tất cả súc-sanh, ngạ-quỹ, nhân gian, thảy đều như vậy. Anh sáng chiếu khắp các thế giới rồi, chiếu quanh thân Phật liên tiếp ba vòng rồi vào đỉnh đầu. Bấy giờ liền có vô-lượng vô-biên Trời, Người, Dạ-xoa, A-tu-la, Càn-thác-bà, các Rồng, La-sát, được chẳng thối-chuyển nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Lại có không biết bao nhiêu chúng-sanh được Đà-la-mi nhẫn-nhục Tam-muội. Lúc đó, tại cõi Diêm-phù, vô-lượng chư Thiên, vì Phật Thế Tôn và Tỳ-kheo-tăng, tự lấy các vật hiện có trên trời, đem đến trang-hoàng nơi vườn Diêm-phù ngoài thành An-điều-la, như cảnh Trời trang-nghiêm chẳng có sai khác. Nhân-dân cõi đó thảy đều nghĩ rằng: ‘Ngày nay chúng ta nên đến đó xem để thấy Như Lai và Tỳ-kheo-tăng, nhân đó nghe pháp’. Thiện-nam-tử! Từ đó ngày ngày thường có trăm nghìn vô-lượng ức na-do-tha đàn ông, đàn-bà, đồng-nam, đồng-nữ đến chỗ Phật ngự, lạy dưới chân Phật và Tỳ-kheo-tăng, đi quanh ba vòng, cung-kính cúng-dường, tôn-trọng khen-ngợi. Lại cùng muốn thấy cả vườn Diêm-phù, ngoài cửa vườn ấy có đủ hai vạn thành bằng bảy báu, trước mỗi cửa thành lại có trưng bày 500 giường báu, 500 Phạm Chí hiện ngồi trên giường. Khi có chúng-sanh muốn vào trong vườn, các Phạm Chí ấy nhân đó khuyến hóa khiến họ quyết định quy-y tam-bảo, phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, sau đó mới mời họ vào trong vườn thấy Đức Thế Tôn và Tỳ-kheo-tăng, lễ-lạy đi quanh cung-kính cúng-dường, tôn-trọng khen-ngợi. Thiện-nam-tử! Thời ấy Phạm Chí, trong bảy năm liền, giáo-hóa chư Thiên chẳng biết là bao, khiến họ nhất định trú nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, khiến không biết bao nhiêu là Rồng, A-tu-la, Càn-thát-bà, La-sát, Câu-bàn-trà, Tỳ-xá-già, Ngạ-quỹ, Súc-sanh, Địa-ngục, Người, nhất định trú nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đe. Thiện-nam-tử! Bảy năm qua rồi, Phạm Chí bèn dùng 8 vạn 4 ngàn bánh xe bằng vàng, chỉ trừ xe trời, 8 vạn 4 ngàn voi trắng, trang-sức bảy báu, chỉ trừ voi báu, cho đến 8 vạn 4 ngàn các thứ âm-nhạc, các vật như vậy, để dân hiến Phật và các Tỳ-kheo-tăng.

Thuở ấy, Chuyển-luân Thánh-vương, trong bảy năm liền tâm muốn không-muốn, không muốn sân-nhuế, không muốn ngu si, không muốn kêu-mạn, không muốn quốc-độ, không muốn con cái, không muốn ngọc-nữ, không muốn ăn uống, không muốn y-phục, không muốn hương-hoa, không muốn xe cộ, không muốn ngủ nghỉ, không muốn vui-tưởng, không muốn có ta (ngã), không muốn có người khác, bảy năm như vậy, cho đến không có tâm theo một muốn nào cả, ngồi luôn chẳng nằm, chẳng tưởng ngày đêm, chẳng tường quá mệt, cũng không có tưởng thanh, hương, vị, xúc, mà nơi trong đó, thường thấy 10 phương, mỗi mỗi phương diện, như vạn Phật-độ bằng số bụi nhỏ, các thế-giới Phật thanh-tịnh trang-nghiêm, chẳng thấy Tu-di và các núi nhỏ, đại-tiểu Thiết-vi, các nơi u-ám giữa khoảng hai núi, mặt trời, mặt trăng, tinh-tú, cung-điện của từng Trời, các vật thường thấy (chẳng thấy gì cả), chỉ thấy Phật độ thanh-tịnh trang-nghiêm. Thấy như vậy rồi, tùy nguyện mà giữ. Trong bảy năm qua, Chuyển-luân Thánh-vương thấy các cõi Phật thanh-tịnh trang-nghiêm, nhận được vui sướng, nguyện giữ Phật độ thanh-tịnh thượng-diệu Chuyển-luân Thánh-vương, Thái tử Bất-huyến, nghìn người con vua, cho đến 8 vạn 4 ngàn các vị vua nhỏ, 9 vạn 2 ngàn ức chúng-sanh thảy. Trong bảy năm liền tâm muốn không-muốn… cho đến không có tưởng-hương, vị, xúc, ở chỗ thanh-tịnh, nhập-định suy-tư, tất cả đều được thấy nơi 10 phương, mỗi mỗi phương-diện như vạn Phật-độ bằng số bụi nhỏ, các cảnh trang-nghiêm của các cõi Phật, chẳng thấy Tu-di và các núi nhỏ, đại-tiểu thiết-vi, các nơi u-ám giữa khoảng hai núi, mặt trời mặt trăng, tinh-tú, cung-điện của các từng trời, các vật thường thấy  chỉ thấy Phật-độ thanh-tịnh, trang-nghiêm. Tất cả đại-chúng, theo chỗ mình thấy tùy đó mà giữ Phật lực ưa chọn Viên-minh.

Trong bảy năm liền, ai nấy được tu đủ các pháp-môn, có người nguyện giữ Phật-độ thanh-tịnh, có người nguyện giữ Phật-độ bất-tịnh. Thiện-nam-tử! Đến khi Phạm Chí đã qua bảy năm đã dùng bảy báu phụng-hiến Đức Phật và chư Tăng rồi, ông bèn chấp tay hướng Phật bạch rằng: Bạch Thế Tôn! Tôi đã khuyến-hóa Chuyển-luân Thánh-vương phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, trở về chỗ mình, ngồi tịnh suy tư, cho đến chẳng nghe một người khiến-nhập. Tôi đã khuyên-dạy nghìn con của vua phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, và các vương-tử đều về chỗ mình ngồi tịnh suy-tư, cho đến chẳng nghe một người khiến-nhập. Tám vạn bốn ngàn các vị tiểu-vương, chín vạn hai ngàn ức chúng-sanh thảy cùng đều phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, chọn nơi thanh-tịnh, đoạn-tọa suy-tư, cho đến chẳng nghe một người khiến-nhập. Bạch Thế Tôn! Nay nên khiến cho mọi người cùng vua, từ tam-muội dậy, đến chỗ Phật ngự, cho tôi được thấy họ được giáo-hóa khiến nên phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, được Phật thọ-ký, giữ quốc độ nào, danh-hiệu làm sao?

Thiện-nam-tử! Bửu Tạng Như Lai khi đó liền nhập tam-muội vương-tam-muội. Nhập tam-muội rồi, từ miệng Phật phóng ra đủ loại ánh-sáng xanh vàng đỏ trắng tím, như Chuyển-luân-vương đang ở trong định, trước mặt mỗi người có Hóa Phạm-vương, nói lên như vầy: các người hôm nay nên từ định dậy, đến chỗ Phật ngự, thấy Phật Thế Tôn và Tỳ-kheo-tăng, lễ-lạy đi quanh, cung-kính, cúng-dường, tôn-trọng khen-ngợi. Quý vị nên biết Phạm Chí Bửu Hải, trãi qua bảy năm đã xong pháp hội. Nay Phật Thế Tôn lại sẽ du hành qua các quốc-độ. Chuyển-luân Thánh-vương cùng mọi người nghe vậy, bèn từ định dậy, và ngay khi ấy trong cõi hư-không chư Thiên trỗi nhạc. Thánh-vương ngự giá với nghìn người con, tám vạn bốn ngàn các vị tiểu-vương, chín vạn hai ngàn ức-dân sau trước thảy đều ra khỏi thành An-điều-la, hướng về vườn Diêm-phù, khi đến biên vườn, ai nấy xuống xe, đi bộ đến Phật, đầu mặt lạy Phật và Tỳ-kheo-tăng, lui ngồi một phía. Thiện-nam-tử! Lúc ấy Phạm Chí tâu Thánh-vương rằng: Chí xin Đại-vương giữ vật báu này, hợp với Đại-vương là trong ba tháng trước đây, ngày đã cúng-dường nơi Phật và Tỳ-kheo-tăng, 8 vạn 4 ngàn các thứ trân-bửu thành An-điều-la, với phước-đức ấy nay nên hồi hướng A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Nghìn người con vua, 8 vạn 4 ngàn các vị tiểu-vương, 9 vạn 2 ngàn ức-dân cả thảy, đều đã được dạy, khiến họ hồi-hướng A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Phạm Chí lại nói: ‘ Đại vương nên biết bố-thí như vậy, chẳng nên được làm Đao-lợi Thiên-vương, Đại Phạm Thiên-vương. Tại sao như vậy? Tại vì phước-báo như vua hiện nay, bao nhiêu của quý, thảy đều vô-thường không có tướng nhất định, như luồng gió mạnh. Bởi vậy nên dùng bao nhiêu quả báu của việc bố-thí, khiến tâm tự tại, chóng thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, độ thoát vô-lượng vô-biên chúng-sanh, khiến nhập niết-bàn‘.

 

PHẨM IV

THỌ KÝ CHƯ VỊ BỒ TÁT

CHI I

 

Lúc ấy, Bửu Tạng Như Lai lại nghĩ như vầy:“Như thế vô-lượng chúng-sanh chẳng còn thối-chuyển nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Ta nên thọ-ký cho họ, vì họ thị-hiện đủ các cõi Phật”. Nghĩ xong, Thế Tôn liền nhập tam-muội: Đó là Vương-tam-muội, chẳng mất tâm bồ-đề’ do sức tam-muội Phật phóng ánh-sáng chiếu khắp vô-lượng vô-biên thế-giới, khiến Chuyển-luân-vương cùng vô-lượng chúng, tất cả đều thấy vô-biên thế-giới chư Phật. Bấy giờ mười phương vô-lượng vô-biên đủ các thế-giới, nơi nào cũng có những đại Bồ tát nhận ánh-sáng Phật, nhờ thần lực Phật thảy đều mỗi mỗi đều đến tại chỗ Phật ngự, dùng mọi sở đắc biến-hóa thần-túc, cúng-dường Thế Tôn và Tỳ-kheo-tăng, đầu mặt lạy dưới chân Phật, đi quanh bên phải ba vòng, ngồi ở trước Phật, muốn nghe Như Lai vì chư Bồ tát thọ-ký thành Phật. Thiện-nam- tử! Lúc ấy Phạm Chí Bửu Hải lại tâu vua rằng: ‘ Thánh-vuơng! Đại-vương! Nay khá trước tiên phát lời thệ nguyện giữ tịnh-diệu Phật-độ’. Thiện-nam-tử! Lúc Chuyển-luân-vương nghe lời ấy rồi, vua liền đứng dậy chấp tay quỳ xuống, hướng Phật bạch rằng : Bạch Thế Tôn! Nay con thành thật muốn được bồ-đề. Trước đây con đã trong vòng ba tháng, dùng những vật cần cúng-dường Thế Tôn và Tỳ-kheo-tăng, nay xin hồi hướng căn-lành ấy về A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Con chẳng nguyện giữ Phật-độ bất tịnh. Bạch Thế Tôn! Trong bảy năm tròn, con đã ngồi tịnh suy-tư các loại Phật độ trang-nghiêm. Bạch Thế Tôn nay con phát nguyện khiến sau được thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề thì trong nước con không có Địa-ngục, Ngạ-quỹ, Súc-sanh, tất cả chúng-sanh, sau khi mệnh chung, chẳng khiến bị đọa vào ba đường ác. Cõi chúng-sanh ở thảy đều màu vàng, trời, người, chẳng khác đều được lục-thông, được túc-mệnh-thông, cho đến được biết trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp, đời sống về trước phải có thiên nhãn-tịnh thấy suốt trăm nghìn ức na-do-tha thế-giới 10 phương, cũng thấy hiện tại ở khắp mọi mọi nơi chư Phật đang nói những pháp vi-diệu, có thiên nhĩ-tịnh nghe được tiếng Phật hiện đang nói pháp ở khắp trăm nghìn ức na-do-tha thế giới  thế-giới mười phương, có tha-tâm trí, biết rõ tâm-niệm của chúng-sanh nơi vô-lượng vô-biên ức na-do-tha thế giới mười phương được như-ý-thông, trong cõi một niệm, hiện khắp trăm nghìn ức na-do-tha thế-giới chư Phật, đi về vẹn đủ khiến cho chúng-sanh biết thực không Ta và cái của Ta (ngã và sở ngã), chẳng còn thối-chuyển nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề. Nguyện cõi nước con không có người nữ và danh từ ấy, tất cả chúng-sanh đều do hóa-sanh, thọ-mệnh-vô-lượng, trừ người có nguyện, tất cả danh-tự chỉ điều chẳng lành thảy đều không có, thế-giới thanh-tịnh không có hôi nhớp, thường có mùi thơm vi-diệu cõi trời tràn đầy khắp nơi. Tất cả chúng-sanh thảy đều thành-tựu 32 tướng tốt, tự có chuỗi ngọc, các vị Bồ tát thảy đều nhất-sanh, trừ người có nguyện. Nguyện cõi nước con có bao chúng-sanh thảy đều có thể trong khoảng bữa ăn, nhờ có Phật lực, hiện đến vô-lượng vô-biên thế-giới, thấy Phật hiện tại, lễ-lạy đi quanh, dùng những sở-đắc, biến-hóa thần-túc cúng-dường nơi Phật, tức trong khoảng ngắn về đến bổn-độ có thể giảng nói pháp-tạng của Phật, thân được sức mạnh như: Na-la-diên. Mọi sự trang-nghiêm trong cõi nước con, cho đến được thiên-nhãn đều chẳng thể nói. Tất cả chúng-sanh đều được Tứ-biện, mỗi mỗi Bồ tát có chỗ ngồi dưới cây, kỹ-nhạc đầy khắp một vạn do-tuần. Thế-giới thường có ánh sáng tịnh-diệu, khiến trong đó hiện mọi thứ trang-nghiêm của vô-lượng cõi Phật ở các phương khác. Bao nhiêu chúng-sanh cho đến khi thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, chẳng làm đều bất-tịnh, khiến cho tất cả Trời, Người, cùng các phi-nhơn thảy đều cung-kính cúng-dường tôn-trọng, cho đến lúc thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, bao giờ cũng được sáu căn thanh-tịnh, tức trong đời sống được vui vô-lậu (không nhiễm) và trong khoái-lạc, tự-nhiên thành-tựu hết thảy căn-lành, nên lúc sanh thời, mặc áo cà-sa mới, bèn được Tam-muội tên “Thiện Phân-biệt”, nhờ sức Tam-muội hiện đến vô-lượng thế-giới chư Phật, thấy Phật hiện tại, lễ-bái đi quanh, cung-kính cúng-dường tôn-trọng khen-ngợi nơi Tam-muội ấy cho đến khi thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, chẳng hề lui mất. Bao nhiêu Bồ tát được như sở nguyện, thảy tự trang-nghiêm quốc-độ tịnh-diệu, nơi cây bảy báu ắt đều xa thấy tất cả chúng-sanh trong các cõi Phật. Lại lúc sanh-thời được‘ Biến chí Tam-muội’, nhờ sức Tam-muội đó thường thấy vô-lượng vô-biên 10 phương chư Phật hiện tại trong các thế-giới, cho đến lúc thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, chẳng hề lui mất. Nguyện khiến nước con, bao nhiêu chúng-sanh thảy có cung-điện, y-phục, chuỗi ngọc, các thứ trang-nghiêm, giống như đệ-lục HóaTự-tại Thiên thế-giới, cõi nước chẳng có núi đồi gò đống, Đại Tiểu Thiết-vi, Tu Di Biển-lớn, chẳng có che lấp cùng các chướng ngại, các tiếng phiền-não, tiếng ba đường ác, với tên tám nạn, chẳng có danh-từ: chịu khổ, hay là: chẳng khổ, chẳng vui. Bạch Thế Tôn! Sở nguyện của con hôm nay như vầy, muốn được Phật-độ nghiêm-tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn! Con trong tương lai dựng nên lâu đài hành-đạo Bồ tát, cốt được thành-tựu cõi Phật thanh-tịnh như con đã nói. Bạch Thế Tôn! Con trong tương lai, làm việc hy-hữu như thế rồi sau mới thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề. Bạch Thế Tôn! Đến lúc con thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, thì cây bồ-đề ngang dọc ngay ngắn một vạn do-tuần. Ở dưới cây ấy, lúc ngồi đạo-tràng, trong khoảnh một niệm thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề. Thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề rồi, ánh-sáng chiếu đến vô-lượng vô-biên trăm nghì ức na-do-tha thế-giới chư Phật, khiến thọ-mạng con vô-lượng vô-biên trăm nghìn ức na-do-tha kiếp, không ai biết được, trừ nhất-thiết trí. Bạch Thế Tôn! Thế-giới của con không có Thanh-văn, thừa Bích chi Phật, thừa bao nhiêu đại-chúng đều là Bồ tát vô-lượng vô-biên không thể tính đếm, trừ nhất-thiết trí. Nguyện khi con thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề rồi, chư Phật mười phương xưng dương khen-ngợi danh-hiệu của con. Nguyện khi con thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề rồi, trong vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ thế-giới Phật, có bao nhiêu chúng-sanh nghe đến tên con, đều tu gốc lành, muốn sanh nước con. Nguyện sau khi chết họ đều được sanh (theo ý họ muốn) chỉ trừ những kẻ phạm tội ngũ-nghịch, chê bai Thánh-nhơn, Phá hoại chánh-pháp. Nguyện khi con thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề rồi, trong vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ thế-giới chư Phật, có bao nhiêu chúng-sanh nếu đã phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, tu các căn-lành, muốn sanh nước con, thì lúc lâm-chung họ được thấy con đường cùng đại-chúng tập họp vây quanh, họ thấy được con tức trong tâm họ liền sanh hoan-hỷ, vì lúc thấy con, lìa bao chướng-ngại tức bèn xả-thân, sanh về nước con. Nguyện khi con thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề rồi, chư Đại Bồ tát, chỗ chưa nghe pháp, muốn nghe pháp con, thì như sở-nguyện, khiến thảy được nghe. Nguyện khi con thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề rồi, tại khắp mọi nơi vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ thế-giới, các vị Bồ tát nghe đến tên con, liền được chẳng thối-chuyển nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, được nhẫn bậc nhất, có nguyện bậc hai, bậc ba, muốn được đà-la-ni cùng các Tam-muội, thì như sở-nguyện, tất-định được vậy, mãi đến khi thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, chẳng có lui mất. Sau khi con diệt-độ rồi, quá vô-số kiếp, trong vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ thế-giới, có những Bồ tát nghe đến tên con, tâm được tịnh-tín hoan-hỷ bậc nhất, ắt lễ lạy con, khen “ chưa từng có“. Như Đức Phật ấy, lúc là Bồ tát đã làm Phật-sự dài lâu mới thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề. Các Bồ tát đó được “ Tối đệ-nhất tín-tâm hoan-hỷ“ nên tất-định được sơ-nhẫn bậc nhất, có nguyện bậc nhì bậc ba, muốn được đà-la-ni môn cùng các tam-muôi, thì như sở-nguyện, thảy đều được vậy, cho đến lúc thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, chẳng có lui mất. Khi con đã thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề rồi, trong vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ thế-giới, có bao nhiêu người nữ, nghe đến tên con, liền được tín-tâm hoan-hỷ bậc nhất, phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, cho đến khi thành Phật, họ chẳng còn phải nhận làm thân nữ-nhơn. Nguyện sau khi con diệt-độ rồi, tuy trải qua vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ kiếp, có vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ cõi Phật, nhưng những người nữ trong các cõi đó nghe đến tên con tức được tín tâm hoan-hỷ bậc nhất, phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, cho đến khi thành Phật, họ chẳng còn phải nhận làm thân nữ-nhơn. Bạch Thế Tôn! Sở-nguyện của con: cõi Phật như thế, chúng-sanh như thế! Bạch Thế Tôn! Nếu được thế-giới thanh-tịnh, chúng-sanh như vậy, sau đó mới thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề.

Thiện-nam-tử! Lúc ấy Bửu Tạng Như Lai nói với Thánh-vương rằng: “Lành thay! Lành thay! Đại-vương! Nay nguyện rất sâu, đã giữ tịnh-độ, trong đó chúng-sanh tâm cũng tịnh vậy. Đại-vương! Nhìn về phương tây, quá trăm ngàn vạn ức cõi Phật có thế-giới tên là `Tôn Thiện Vô Cấu`, trong cõi ấy có Phật hiệu là `Tôn Âm Vương Như Lai`, Ứng-cúng Chánh-biến-tri Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ Thế-gian-giải Vô-thượng-sĩ Điều-ngự-trượng-phu Thiên-nhân-sư Phật Thế Tôn, hiện-tại, vì các Bồ tát, đang nói chánh-pháp. Cõi ấy chẳng có thanh-văn, tên Bích-chi Phật, cũng không có nói đến pháp Tiểu-thừa, chỉ nói thuần-nhất Đại-thừa, thanh-tịnh, chẳng tạp-nhập trong đó chúng-sanh, thảy đều hóa-sanh, cũng không nữ-nhơn và danh-tự ấy. Thế-giới Phật ấy có những công-đức trang-nghiêm thanh-tịnh, đều như sở-nguyện của Đại-vương. Vô-lượng thế-giới chư Phật thảy thảy trang-nghiêm, chẳng có sai khác, tất đã nhiếp-thủ (nuôi giữ) điều-phục (dẫn chịu) vô-lượng vô-biên chúng-sanh. Nay đổi hiệu cho Đại-vương là `Vô-lượng Thanh-tịnh`. Lúc ấy Thế Tôn bèn phán với ngài `Vô-lượng Thanh-tịnh` rằng: Tôn Âm Vương Phật, qua một trung kiếp thì nhập Niết-bàn, Phật Niết-bàn rồi, Chánh-pháp trụ-thế trọn 10 trung kiếp, chánh-pháp diệt rồi, qua 60 trung kiếp, cõi ấy đổi tên Di Lâu Quang Minh. Lúc đó Như Lai xuất hiện nơi đời hiệu là Bất Khả Tư Nghì  Công Đức Vương Như Lai, Ứng-cúng Chánh-biến-tri Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ Thế-gian-giải Vô-thượng-sĩ Điều-ngự-trượng-phu Thiên-nhân-sư Phật Thế Tôn. Phật đó giống như Tôn Âm Vương Như Lai. Cõi ấy trang-nghiêm như Tôn-thiện Vô-cấu, chẳng có sai khác. Thọ mện của Phật là 60 trung kiếp. Phật diệt-độ rồi, Chánh-pháp trụ thế 60 trung kiếp. Chánh-pháp diệt rồi, qua nghìn trung kiếp thì thế-giới có tên Tôn Thiện Vô Cấu. Lại có Phật ra đời hiệu Bửu Quang Minh Như Lai, Ứng-cúng Chánh-biến-tri Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ Thế-gian-giải Vô-thượng-sĩ Điều-ngự-trượng-phu Thiên-nhân-sư Phật Thế Tôn, thế-giới có gì, thọ-mệnh bao nhiêu, Chánh-pháp trụ thế . . . thảy đều giống như Bất Khả Tư Nghì Công Đức Vương Phật, chẳng có chi khác. Chánh-pháp diệt rồi thì thế-giới ấy đổi tên Thiện-kiên, lại có Phật ra đời hiệu là Bửu Tôn Âm Vương Như Lai Như Lai, Ứng-cúng Chánh-biến-tri Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ Thế-gian-giải Vô-thượng-sĩ Điều-ngự-trượng-phu Thiên-nhân-sư Phật Thế Tôn. Thế-giới trang-nghiêm như trước chẳng khác. Phật thọ 35 trung kiếp. Sau khi Phật diệt độ, Chánh-pháp trụ-thế trọn trong 7 trung kiếp. Chánh-pháp diệt rồi, lại có vô-lượng vô-biên chư Phật thứ lớp ra đời, thế-giới có gì, thọ-mệnh, Chánh-pháp thảy đều như vậy. Nay ta đều thấy các Phật như thế, từ lúc thành đạo, đến khi diệt-độ, thế-giới đó vẫn thường-trú chẳng khác, chẳng có thành bại. Đại-vương! Các Phật như thế đều đã diệt-độ. Lại nữa, quá một hằng-sa a-tăng-kỳ kiếp, qua hai hằng-sa a-tăng-kỳ kiếp thì thế-giới ấy đổi tên An-lạc. Đại-vương lúc ấy được thành Phật hiệu là Vô Lượng Thọ Như Lai Như Lai, Ứng-cúng Chánh-biến-tri Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ Thế-gian-giải Vô-thượng-sĩ Điều-ngự-trượng-phu Thiên-nhân-sư Phật Thế Tôn. Khi Chuyển-luân-vương nghe lời ấy rồi, vua liền bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Như vậy những người đương thành Phật đó hiện ở xứ nào? Phật dạy: Đại-vương! Nay các Bồ tát, ở tại hội nầy, số đó vô-lượng không thể tính đếm: Họ từ các thế-giới chư Phật mười phương về đây tập họp, để cúng-dường Ta, nghe nhận diệu-pháp. Các Bồ tát ấy, từ trong quá-khứ đã được chư Phật thọ ký A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Lại từ bây giờ chư Phật mười phương hiện đương thọ-ký A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cho nên họ thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề  trước. Đại-vương! Các Bồ tát ấy đã họp, cúng-dường vô-lượng vô-biên trăm nghìn vạn ức na-do-tha Phật, trồng các căn-lành, tu-tập trí-tuệ. Đại-vương! Vì duyên-cớ ấy nên các Bồ tát trước Đại-vương đây thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề . lúc ấy Thánh-vương lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn như Phạm Chí Bửu Hải đây đã có khuyên con cùng các quyến-thuộc phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề . Vậy trong tương lai, Phạm Chí đó sẽ trải qua bao lâu mới thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề? Phật dạy: Đại-vương ông Phạm Chí đây, vì đã thành-tựu đại-bi, nên trong tương-lai, lúc Sư-tử hống, ông sẽ tự biết. Bấy giờ Thánh-vương lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu sở-nguyện của con sẽ được thành-tựu như Phật đã dạy, thì nay lúc con đầu mặt lạy Phật, xin khiến sao cho mười phương thế-giới hằng-hà-sa chấn động sáu cách, trong đó chư Phật cũng đương vì con thọ-ký A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề“. Thiện-nam-tử! Khi Vô Lượng Tịnh Vương nói như vậy rồi, kế đến trước Phật, đầu mặt lạy sát đất thì ngay lúc đó các thế-giới Phật ở khắp mười phương như hằng-hà-sa chuyển-động sáu cách, trong đó chư Phật thọ-ký cho vua, đều nói như vầy: `Cõi San-đề-lam, trong kiếp Thiện-trì, người thọ 8 vạn tuổi, có Phật ra đời hiệu là Bửu Tạng, có Chuyển-luân-vương tên là Vô Lượng Tịnh, chủ bốn thiên-hạ, ba tháng cúng-dường Bửu Tạng Như Lai và Tỳ-kheo-tăng, nhờ căn-lành ấy, qua một hằng-sa a-tăng-kỳ kiếp, lúc mới bước vào đệ nhị hằng-sa a-tăng-kỳ kiếp, vua sẽ thành Phật, hiệu Vô-lượng-thọ`, thế-giới của Phật tên là An-lạc, thân thường sáng chiếu ngang dọc giáp vòng đến khắp 10 phương, thảy như hằng-sa thế-giới chư Phật. Lúc đó, Bửu Tạng Như Lai bèn vì Đại-vương nói kệ như vầy:

Thế-giới mười phương

Cùng các núi rừng

Như các sông Hằng

Đại-địa chấn-động

Nay vua khá biết

Đã được thọ-ký

Làm thầy Trời, Người

Điều-ngự thắng-pháp.

Thiện-nam-tử! Lúc Chuyển-luân-vương nghe kệ đó rồi, tâm-sanh hoan-hỷ, đứng dậy chắp tay lạy dưới chân Phật, bước lui không xa, lại ngồi nghe pháp. Thiện-nam-tử! Lúc ấy Phạm Chí Bửu Hải lại thưa với đệ nhất Thái Tử rằng: `Thiện-nam-tử! Hãy giữ vật báu hợp với trí sáng là trong ba tháng ngài đã cúng-dường Phật và chúng tăng các loại trân-bửu. Với phước-đức ấy hòa hiệp nhóm họp, nay nên hồi-hướng A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Phạm Chí lại nói: Thiện-nam-tử! Việc bố-thí ấy, chẳng nên đem cầu Đao-lợi Thiên-vương, Đại-phạm Thiên-vương. Tại sao vậy? Nay của-cải ta, mọi vật phước báu đều là vô-thường, không có tướng nhất định, như luồng gió mạnh. Bởi vậy nên dùng bao nhiêu quả báo của việc bố-thí khiến tâm tự-tại, chóng thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, độ thoát vô-lượng vô-biên chúng-sanh, khiến nhập Niết-bàn`. Lúc Thái tử nghe lời ấy rồi bèn đáp lại rằng: Nay tôi quan-sát nơi cõi Địa-ngục thấy rõ chúng-sanh quá nhiều khổ não, trong cõi Trời, Người lại có tâm dơ, bởi có tâm dơ cho nên phần đông đọa ba đường ác. Thái tử lại nghĩ: Các chúng-sanh ấy bở đã gần-gũi các ác trí-thức nên bỏ Chánh-pháp bị đọa ám-xứ, mất hết căn-lành, chấp nhiễm tà-kiến, che lấp bổn tâm đi trong tà-đạo. Bạch Thế Tôn! Nay con lớn tiếng cáo với chúng-sanh, bao nhiêu căn-lành của con đã có, xin hồi-hướng trả về A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Nguyện trong khi con làm đạo Bồ tát, nếu các chúng-sanh chịu các khổ-não, như bị sợ hãi… lui mất chánh-pháp, đọa chỗ tối tăm, lo buồn, cô-quạnh, không người cứu-giúp, chẳng chỗ nương nhờ, nếu nhớ đến con, đọc danh-hiệu con, nếu họ làm cho thiên-nhĩ con nghe, thiên-nhãn con thấy, mà chúng-sanh ấy chẳng được cứu khỏi nỗi khổ-não riêng thì con quyết chẳng thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! hiện nay con đang vì các chúng-sanh phát-nguyện cao tột! Bạch Thế Tôn! Ngày nay,  nếu con sẽ đạt mục-đích của mình, nguyện xin khiến cho Chuyển-luân Thánh-vương qua một hằng-sa a-tăng-kỳ kiếp, lúc mới bước vào đệ-nịn hằng-sa a-tăng-kỳ kiếp, thuở thế-giới Phật tên là An Lạc, Đại-vương thành Phật hiệu Vô Lượng Thọ, thế-giới trang-nghiêm, chúng-sanh thanh-tịnh, làm chánh-pháp-vương là Phật Thế Tôn, trong vô-lượng kiếp, làm Phật sự rồi, công việc đã xong, nhập vô-dư Niết-bàn, mãi cho đén lúc Chánh-pháp đang thịnh thì con thuở ấy tu đạo Bồ tát, tức trong lúc đó làm mọi Phật sự. Đến lúc Chánh-pháp mất vài đêm đầu thì đêm hôm sau con thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Lại bạch Phật rằng: Xin nguyện Thế Tôn vì con thọ-ký. Nay con nhất-tâm cung-thỉnh chư Phật hiện ở mười phương như hằng-hà-sa, nguyện xin tất cả vì con thọ-ký. Phật dạy: Thiện-nam-tử! Ông xét Trời, Người cùng ba đường ác, hết thảy chúng-sanh, sanh tâm đại bi, vì muốn dứt cho các chúng-sanh, vì muốn dứt hết các thứ phiền-não, vì muốn chúng-sanh trú nơi an-lạc. Thiện-nam-tử! Bởi thế nên nay gọi ông là `Quán Thế Âm`. Thiện-nam-tử! Trong thời gian ông hành đạo Bồ tát, đã có trăm nghìn vô-lượng ức na-do-tha chúng sanh được lìa khổ-não, trong thời gian làm đạo Bồ tát, ông đã có thể làm Phật sự lớn. Thiện-nam-tử! Khi Vô Lượng Thọ Phật nhập Niết-bàn rồi, đến phần sau của đệ-nhị hằng-sa a-tăng-kỳ kiếp, trong nửa đêm đầu, chánh-pháp mất hết, đến nửa đêm sau, nước ông đổi tên là `Nhất-thiết trân-bửu sở-thành-tựu thế-giới` vô-lượng vô-biên các cảnh trang-nghiêm trong cõi nước đó, thế-giới An Lạc chẳng sánh kịp được. Thiện-nam-tử! Trong đêm sau ấy, ông được trang-nghiêm dưới cây Bồ-đề, ngồi tòa kim-cang, trong khoảnh một niệm thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, hiệu là `Biến-xuất nhất-thiết quang-minh công-đức sơn-vương Như Lai Ứng-cúng Chánh-biến-tri Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ Thế-gian-giải Vô-thượng-sĩ Điều-ngự-trượng-phu Thiên-nhân-sư Phật Thế Tôn. Thọ mện Phật ấy là 96 ức na-do-tha trăm ngàn kiếp. Phật Niết-bàn rồi Chánh-pháp trụ như thế 65 ức kiếp`.

Bấy giờ, Ngài Quán Thế Âm bạch trước Phật rằng: Nếu sở nguyện con sau được thành-tựu, thì nay lúc con đầu mặt kính lạy Phật, xin khiến cho chư Phật hiện tại trong các thế-giới ở 10 phương, như số các sông Hằng, thảy thảy cũng lại thọ-ký cho con, cũng khiến cho trong hằng-hà-sa số thế-giới 10 phương, đại địa, núi sông, chấn động sáu cách, các thứ âm nhạc thảy đều trỗi lên, tất cả chúng-sanh tâm được ly-dục. Thiện-nam-tử! Kế đó, lúc Quán Thế Âm Bồ tát đầu mặt sát đất, lạy dưới chân Đức Bửu Tạng Như Lai, thì thế-giới 10 phương như cát sông Hằng, chấn-động sáu cách, tất cả núi rừng thảy đều vang ra vô-lượng âm-nhạc, chúng sanh nghe nhạc liền được ly-dục. Chư Phật các xõi thảy đều thọ-ký cho ngài bằng những lời nầy: `Cõi San-đề-lam, trong kiếp Thiện-trì, người thọ 8 vạn tuổi, thuở ấy có Phật ra đời, hiệu là Bửu Tạng, có Chuyển-luân-vương tên Vô Lượng Tịnh, chủ bốn Thiên-hạ, Thái tử con vua là Quán Thế Âm, ba tháng cúng-dường Bửu Tạng Như Lai và Tỳ-kheo-tăng, nhờ căn-lành ấy, vào giữa phần sau đệ-nhị hằng-sa a-tăng-kỳ kiếp, sẽ được làm Phật hiệu `Biến-xuất nhất-thiết quang-minh công-đức sơn-vương Như Lai` thế-giới tên là ` Nhất-thiết trân-bửu sở-thành-tựu`. Lúc ấy, Bửu Tạng Như Lai, vì Quán Thế Âm, nói kệ như vầy:

Công-đức đại bi

Nay nên trọn lấy

Đất-động sáu cách

Cùng các cõi Phật

Chư Phật mười phương

Đã thọ-ky ông

Mai sau thành Phật

Vậy nên hoan-hỷ`

Thiện-nam-tử! Lúc Thái tử Quán Thế Âm nghe kệ ấy rồi, tâm sanh hoan-hỷ, bèn đứng dậy chấp tay lạy trước chân Phật, lui bước chẳng xa, lại ngồi nghe pháp. Thiện-nam-tử! Khi đó Phạm Chí Bửu Hải lại thưa cùng đệ-nhị vương-tử Ni-ma rằng: Thiện-nam-tử! Nay ngài đã làm bao nhiêu phước-đức cho nghiệp thanh-tịnh, nên vì tất cả chúng-sanh được nhất-thiết-trí mà hồi hướng vè nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề. Thiện-nam-tử! Khi đó, vương-tử ngồi ở trước Phật chấp tay bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Như con trước trong vòng ba tháng, cúng-dường Như Lai và Tỳ-kheo-tăng, cũng đã chứa nhóm thân, khẩu, ý-nghiệp, thành hạnh thanh-tịnh, với phước-đức ấy, nay con đem hết hồi hướng về nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, chẳng nguyện thế-giới dơ ác, bất-tịnh mà xin khiến cho cõi nước của con và cây Bồ-đề được trang-nghiêm đủ các như thế-giới của ngài Quán Thế Âm, với cây Bồ-đề báu, và thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề cũng vậy. Lại nguyện rằng: Khi Đức Phật Biến-xuất công-đức quang-minh mới thành đạo thì con là người xin chuyển-pháp-luân trước nhất, tùy theo pháp Phật trải qua các thời trong khoảng trung-gian con hành-đạo Bồ tát, thấy Phật Niết-bàn, rồi Chánh-pháp diệt, sau đó con mới thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề. Lúc con thành Phật, làm các Phật-sự, thế-giới có gì, trang-nghiêm cách sao, sau nhập Niết-bàn, Chánh-pháp trụ thế, mọi việc như vậy, thảy giống Phật đó, chẳng có sai khác. Lúc ấy Phật phán với vương-tử thứ hai rằng: `Nay ông phát nguyện giữ thế giới lớn, tất trong tương-lai, ông sẽ phải được giữ thế-giới lớn như ông đã nguyện. Thiện-nam-tử! Ông trong tương lai trong thế-giới rất lớn như thế đã thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề , hiệu là Thiện-trú Trân-bửu Sơn-vương Như Lai Ứng-cúng Chánh-biến-tri Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ Thế-gian-giải Vô-thượng-sĩ Điều-ngự-trượng-phu Thiên-nhân-sư Phật Thế Tôn. Thiện-nam-tử! Vì ông nguyện giữ Đại thế-giới nên tên của ông là Đắc Đại Thế Chí. Lúc ấy Đắc Đại Thế Chí bạch trước Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu sở-nguyện con thành-tựu đạt được mục đích giải-thoát, thì xin khiến cho, khi con lạy Phật, thế-giới chư Phật ở 10 phương như cát sông Hằng phải chấn-động sáu cách, trời mưa hoa Tu-mạn-na trong lúc chư Phật hiện-tại đều thọ-ký cho con.` Thiện-nam-tử! Khi Đắc Đại Thế Chí cúi đầu sát đất lạy ở trước Phật thì thế-giới 10 phương như cát sông Hằng chấn-động sáu cách, trời mưa hoa Tu-mạn-na, trong lúc chư Phật Thế Tôn hiện tại thảy đều thọ-ký cho ông. Bấy giờ Bửu Tạng Như Lai vì Đắc Đại Thế Chí nói kệ như vầy:

Công-đức vững mạnh

Nay khá trọn đấy

Bất-động sáu cách

Mưa Tu-mạn-hoa

Chư Phật 10 phương

Đã thọ-ký ông

Tương lai sẽ thành

Bậc Thầy Trời Người.

Thiện-nam-tử! Lúc Đắc Đại Thế Chí nghe kệ ấy rồi, tâm sanh hoan-hỷ, bèn đứng dậy chấp ta lạy trước chân Phật, bước lui chẳng xa, lại ngồi nghe pháp. Thiện-nam-tử! Khi đó Phạm Chí Bửu Hải lại thưa cùng vương-tử thứ ba là Vương-chúng rằng: Thiện-nam-tử! Nay ngài đã nhóm bao nhiêu phước-đức cho nghiệp thanh-tịnh, nên vì tất cả chúng-sanh được nhất-thiết-trí mà hồi hướng vè nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề. Thiện-nam-tử! Khi đó, vương-tử thứ ba ngồi ở trước Phật vòng tay bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Như con trước đây trong vòng ba tháng, cúng-dường Như Lai và Tỳ-kheo-tăng, cùng có bao nhiêu thân, khẩu, ý-nghiệp, các hạnh thanh-tịnh, với phước-đức ấy, nay con đem hết hồi hướng về nơi A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề. Nay con phát nguyện chẳng có thể thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề ở nơi thế giới bất-tịnh, lại cũng chẳng nguyện mau thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề. Trong thời gian con hành đạo Bồ tát, xin nguyện khiên cho con giáo-hóa được tất cả chúng-sanh trong vô-lượng vô-biên thế-giới chư Phật ở 10 phương phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, yên-trú nơi sáu ba-la-mật. Nguyện khiến trước con hết thảy 10 phương, mỗi mỗi phương diện, như hằng-sa cõi Phật bằng số bụi nhỏ, các thế-giới Phật, thành Phật nói pháp, khiến con lúc ấy nhờ thiên-nhãn-tịnh được thấy khắp cả. Nguyện trong thời gian hành-đạo Bồ tát, con thực-hiện được vô-lượng Phật sự, con trong đời sau, hành-đạo Bồ tát không có hạn-lượng. Những chúng-sanh nào được con giáo-hóa thì tâm thanh-tịnh giống như Phạm-thiên, chúng-sanh như vậy sanh trong nước con, rồi họ mới thành A-nậu đa-la tam-miệu tam­-bồ-đề, cõi Phật trang-nghiêm, nhờ thanh-tịnh ấy. Nguyện khiến Tam-thiên Đại-thiên Thế-giới, Phật độ 10 phương như hằng-hà-sa, làm một cõi Phật vòng quanh thế-giới có tường báu lớn, bảy báu xen vào, tường ấy cao lớn đến cõi Vô-sắc, mặt đát làm bằng trân cam-lưu-ly, không có các thứ bụi đất, cát, đá, các loại gai gốc dơ, ác, không có ác xúc, cũng không người nữ và danh-tự ấy, tất cả chúng-sanh thảy đều hóa-sanh, chẳng ăn cắn xe, chỉ lấy `Pháp hỷ Tam-muội`, làm món ăn thường, không có thanh-văn, Bích-chi Phật thừa,  chỉ thuần Bồ tát, lìa tham, sân si, đều tu phạm-hạnh, đầy dẫy cả nước, đang khi mới sanh râu tóc tự rụng, mặc ba pháp-y, tức lúc sanh rồi, vừa muốn được ăn đã có báu vật ở trong tay phải, tự nhiên mà có trăm vị thượng-diệu đầy đủ trong bát. Bấy giờ chư vị Bồ tát bèn nghĩ như vầy: Chúng ta chẳng nên ăn cắn như vậy. Nay ta nên giữ cho đến 10 phương, cúng-dường chư Phật và chúng thanh-văn, cùng người nghèo khó. Có bao nhiêu ngạ-quỹ chịu khổ đói khát, thân bị lửa đốt: Hãy nên đến nơi, cấp cho họ đủ, còn riêng chúng ta tự nên tu-hành pháp-hỷ Tam-muội. Tam muội đó tên là `Bất Khả Tư Nghì Hạnh`. Được Tam-muội rồi liền được thần-lực vô-ngại, đến nơi vô-lượng vô-biên thế-giới, chỗ Phật hiện ở, cúng-dường chư Phật và Tỳ-kheo-tăng, cấp cho người nghèo, dưới đến ngạ-quỹ. Bố-thí như vậy rồi, nhân đó nói pháp. Trong khoảng bữa ăn, đi về trọn vẹn. Lúc về bổn độ dùng các trân-bửu, y-phục, đồ dùng, cúng dường chư Phật. Dưới đến hàng ngạ-quỹ giới cũng lại như vậy. Sau đó chư vị mới tự thọ-dụng. Nguyện khiến nước con không có tám nạn khổ-não, các việc chẳng lành, cũng không có việc thọ-giới, phá-giới, sám-hối và các danh-tự ấy. Nguyện cõi nước con thường có vô-lượn các thứ trân-bảo dùng làm vật tróm, cây, áo, trân bảo ở 10 phương cõi đều chưa từng có, chưa từng thấy nghe cho đến ức năm  nói tên của chúng cũng không hết được. Nguyện cõi nước con, các vị Bồ tát muốn thấy sắc vàng, tùy ý được thấy, muốn thấy sắc bạc, cũng tùy ý thấy, đang lúc thấy bạc, chẳng mất tướng vàng, đang lúc thấy vàng, chẳng mất tướng bạc, pha-lê, lưu-ly, xa-cừ, mã-não và trân-châu đỏ, các loại trân-bửu, tùy ý được thấy, lại cũng như vậy. Muốn thấy A-kiệt-lưu-hương, Đa-già-lưu-hương, Đa-ma-la bạt Chiên-đàn, trầm-thủy, cùng Chiên-đàn đỏ, ngưu-đầu Chiên-đàn, muốn thấy rặc-ròng Chiên-đàn, tùy ý được thấy. Muốn thấy trầm-thủy, cũng tùy ý thấy. Đang thấy trầm-thủy, chẳng mất Chiên-đàn, đang thấy Chiên-đàn chẳng mất trầm-thủy. Các thứ còn lại cũng được như thế. Bao nhiêu sở-nguyện thảy đều thành-tựu. Nguyện thế-giới con không có mặt trời, mặt trăng, các vị Bồ tát đều có ánh-sáng lớn, tự-nhiên phát ra, như ý sở cầu, cho đến có thể chiếu-sáng trăm ngàn vạn ức na-do-tha cõi, bởi có ánh-sáng, chẳng có đêm ngày, các hoa nở bày tức biết là ngày, các hoa hiệp lại liền biết ban đêm. Thế-giới điều hòa thích hợp, chẳng có nóng lạnh, cùng già-bệnh-chết. Nếu có Bồ tát nhất-sanh bổ xứ sẽ thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ở cõi khác, thì cũng thân ấy bỗng hiện ở nơi cõi Trời Đâu-suất để được làm Phật lúc đã mệnh-chung. Nếu con được thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề rồi, chẳng nhập Niết-bàn ở trong nước mình, mà nhập Niết-bàn tại cõi hư-không. Chư vị Bồ tát muốn được điều ấy, tự-nhiên có vậy. Bốn bên cõi nước, thường có trăm nghìn ức na-do-tha âm-nhạc tự-nhiên. Trong âm-nhạc đó chẳng phát ra tiếng gợi lòng tưởng muốn, mà thường phát ra sáu ba-la-mật, tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tỳ-kheo-tăng, tiếng Bồ tát tạng, ý nghĩa rất sâu, khiến chư Bồ Tát tùy các âm-thanh mà được tự hiểu. Bạch Thế Tôn! Trong thời gian con hành-đạo Bồ tát, như con đã thấy, trăm nghìn ức na-do-tha a-tăng-kỳ thế-giới chư Phật, các loại trang-nghiêm, các loại chuỗi ngọc, các loại tướng-mạo, các loại trú-xứ, các loại sở-nguyện, xin khiến nước con đều được thành-tựu mọi việc như vậy, thảy đều trang-nghiêm, chỉ trừ thanh-văn và Bích-chi Phật. Lại cũng chẳng có cảnh đời ngũ-trược với ba đường ác, chẳng có Tu-di, Đại Tiểu Thiết-vi, đất, cát, đá, sỏi, chỉ có cây báu hơn cây cõi Trời,  thêm vào chẳng dư, chỉ có hoa Trời, như hoa Mạn-đà-la, Đại-mạn đà-la, không có dơ thối, chỉ có diệu-hương đầy khắp cả nước. Chư vị Bồ tát đều là nhất-sanh, chẳng có một người sanh về nơi đâu chỉ trừ phương khác để rồi thành Phật, là Đâu-suất thiên, mệnh-chung thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Bạch Thế Tôn! Thời gian con hành-đạo Bồ tát chẳng có hạn lượng, cốt sao cho thành quả-báu vi-diệu là Phật độ thanh-tịnh, cõi nước đầy dẫy Bồ tát nhất-sanh, các Bồ tát đó, chẳng có người nào không do con dạy từ lúc phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, an trú nơi sáu-ba-la-mật. Như vậy chư Bồ tát ấy đều là do con bắt đầu dạy phát tâm, an-trú nơi sáu ba-la-mật. Cõi San-đề-lam nầy, nếu nhập vào nước con thì tất cả khổ-não thảy đều dừng nghỉ. Bạch Thế Tôn! Thời gian con hành-đạo Bồ tát, cốt yếu là sao cho được thành tựu bối cảnh như vậy, là việc ít có, sau đó trong đời vị-lai, con mới thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Nguyện cây Bồ-đề, tên là `Tuyến-trạch kiến-thiện trân-bửu`, ngang dọc ngay ngắn một vạn `Tứ-Thiên-hạ`, hơi thơm chiếu sáng đến khắp 10 Tam-thiên Đại-thiên Thế-giới, dưới cây Bồ-đề, có tòa kim-cang làm bằng các loại trân-bửu, ngang dọc ngay ngắn năm `Tứ-Thiên-hạ`: Tòa ấy tên là`Thiện-trạch tịch-diệt trí-hương đẳng-cận`, cao một vạn bốn ngàn do-tuần, con ngồi kiết-già nơi tòa báu ấy, trong khoảng một niệm thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cho đến khi nhập Niết-bàn, thường ngồi đạo-tràng trên tòa kim-cang dưới cây Bồ-đề, chẳng giải chẳng hoại. Lại hay hóa làm vô-lượng chư Phật và chúng Bồ tát, xem xét hết thảy thế-giới chư Phật, giáo-hóa chúng-sanh, mỗi mỗi hóa Phật, trong khoảng bữa ăn, khiến vô-lượng vô-biên chúng-sanh hẳn đều phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, khi phát tâm rồi tức chẳng thối-chuyển A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Như vậy hóa Phật và chúng Bồ tát thường làm những việc hy-hữu như thế. Con thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, nguyện cho chúng-sanh trong khắp các cõi đều thấy thân con, nếu có chúng-sanh, mắt thấy thân con 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, hẳn khiến quyết định A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cho đến Niết-bàn chẳng rời thấy Phật. Nguyện khiến nước con, có bao chúng-sanh đều đủ sáu tình, chẳng có thiếu, ít; nếu chư Bồ tát ai muốn thấy con thì tùy chỗ ở, đi lại, nằm ngồi, thảy đều được thấy: chư Bồ tát đó lúc phát-tâm rồi, tức thì thấy con ngồi nơi đạo-tràng dưới cây Bồ-đề. Trong lúc thấy con, ánh-sáng rọi đến chỗ có nghi-ngờ, vướng-mắc nghi trệ nơi các pháp-tướng, mà con chưa nói, khiến họ liền được đoạn-trừ nghi-hoặc, cũng được hiểu sâu nghĩa của pháp-tướng. Nguyện con tương-lai thọ-mệnh vô-lượng, chẳng thể tính đếm, trừ nhất-thiết-trí. Thọ-mệnh của các Bồ tát cũng được như vậy. Trong khoảng một niệm con thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, tức trong một niệm có vô-lượng Bồ tát râu tóc đều rụng, mặc ba pháp-y, cho đến Niêt-bàn, trong khoảng trung-gian, chẳng có người nào dưỡng râu tóc lại và mặc thường-phục: Tất cả đều mặc y-phục sa-môn.

Bấy giờ, Phật phán với vương-tử thứ ba rằng: Thiện-nam-tử! Lành thay! Lành thay! Ông là bậc đại-trượng-phu thuần-thiện đó. Phải sáng-suốt, khéo hiểu, mới có thể phát-nguyện lớn, rất khó như vậy. Ông làm công-đức rất sâu, rất sâu, khó thể nghĩ bàn, đó là việc làm của trí-tuệ vi-diệu. Này thiện-nam-tử! Ông tự phát-nguyện tôn-quý, trọng-yếu, như thế là vì chúng-sanh, giữ quốc-độ tuyệt-diệu. Bởi vậy nay đặt hiệu ông là `Văn Thù Sư Lợi`. Trong thời vị-lại, qua hai hằng-sa vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ kiếp thì ở phương nam có thế-giới Phật tên là `Thanh-tịnh vô-cấu Bửu-trí`. Cõi San-đề-lam nầy cũng nhập vào đó. Trong thế-giới ấy có đủ mọi cách trang-nghiêm. Ông ở cõi ấy sẽ thành A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, hiệu là `Phổ Hiền Như Lai Ứng-cúng Chánh-biến-tri Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ Thế-gian-giải Vô-thượng-sĩ Điều-ngự-trượng-phu Thiên-nhân-sư Phật Thế Tôn. Các chúng Bồ tát thảy đều thanh-tịnh. Sở-nguyện của ông thành-tựu đầy đủ được như đã nói. Thiện-nam-tử! Trong thời-gian ông hành-đạo Bồ tát, nơi vô-lượng ức chỗ các Như Lai trồng mọi căn-lành, bởi vậy tất cả chúng-sanh lấy ông làm thuốc, tâm ông thanh-tịnh hay phá phiền-não, tăng-trưởng căn-lành. Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi ở trước Phật bạch rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu sở-nguyện con thành-tựu đạt được mục-đích giải-thoát, xin nguyện 10 phương vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ thế-giới chấn-động sáu cách, trong đó chư Phật hiện tại nói pháp, thọ-ký cho con nguyện tất cả chúng-sanh đều được vui sướng, tỷ như Bồ tát nhập đệ-nhị-thiền, vui chơi tự-tại, trời mưa hoa Mạn-đà-la đầy khắp thế-giới, trong hoa thường vang ra tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tỳ-kheo-tăng, sáu ba-la-mật, mười lực, vô-úy, các tiếng như thế, nguyện khi con kính lạy Đức Bửu Tạng Phật thì liền hiện ra các tướng-trạng đó. Nói như vậy xong ông bèn lạy Phật, đầu mặt sát đất, thì ngay khi ấy, ở khắp mười phương vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ thế-giới chấn-động sáu cách ở nơi hư-không, mưa hoa Mạn-đà-la, tất cả chúng-sanh đều được vui-sướng tỷ như Bồ tát vào đệ-nhị-thiền, vui chơi tự-tại, còn các Bồ tát lúc đó chỉ nghe tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tỳ-kheo-tăng, sáu ba-la-mật, mười lực, vô-úy, các tiếng như thế. Đồng thời phương khác, chư vị Bồ tát thấy việc như vậy, lại chưa từng có, đều bạch với Phật tại cõi mình rằng: Vì nhân-duyên gì, ứng điềm tốt ấy? Chư Phật đều phán với chư Bồ tát rằng: Chư Phật mười phương thảy thảy đều vì Văn Thù Sư Lợi thọ-ký A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cho nên mới ứng điềm tốt như vậy`. Bấy giờ, Bửu Tạng Như Lai, vì Văn Thù Sư Lợi mà nói kệ rằng:

Thắng ý rộng lớn

Nay khá trọn đấy

Chư Phật mười phương

Đã thọ-ký ông

Trong đời vị-lai

Thành-đạo tôn-thắng

Đại-địa thế-giới

Chấn-động sáu cách

Chúng-sanh đầy đủ

Nhận được vui sướng

Thiện-nam-tử! Lúc Ngài Văn Thù Sư Lợi nghe kệ đó rồi, tâm-sanh hoan-hỷ, bèn đứng dậy chấp tay lạy dưới chân Phật, bước lui không xa, lại ngồi nghe pháp.

 

Kinh Bi-Hoa hết quyển thứ ba

 

*           *

*

 

 

 

QUYỂN THỨ TƯ

Bắc- Lương Thiên- Trúc Tam Tạng Đàm Vô Sấm dịch ra Hoa Văn.

 

PHẨM IV

THỌ KÝ CHƯ VỊ BỒ TÁT

CHI II

 

 

Thiện-nam-tử! Lúc đó Phạm Chí Bửu Hải thưa với vương tử thứ tư là Năng-già-la, cho đến lúc vương tử pht nguyện cũng lại như đ kể. Bấy giờ, Phật phn với Năng-già-la rằng: Lnh thay! Lnh thay! Thiện nam tử! trong thời gian hành đạo Bồ tt, ơng dng kim-cang-tuệ ph ni phiền no cho vơ lượng vơ bin chng sanh, lm Phật sự lớn, sau đó mới thnh A-nậu đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thiện nam tử! Bởi vậy hiệu ơng l `Kim-cang trí-tuệ quang-minh công-đức`. Rồi Phật phn với Bồ tt Kim-cang trí-tuệ quang-minh công-đức rằng: Thiện nam tử! Ông trong tương lai, qua một hằng sa a tăng kỳ kiếp, sang hai hằng sa a tăng kỳ kiếp ở tại phương Đông, qua nhiều thế giới hơn số bụi nhỏ trong 10 hằng sa  thế giới, cĩ thế giới tn l Bất-huyn. Thiện nam tử! trong thế giới ấy, ơng sẽ được lm Phật hiệu l Phổ Hiền Như Lai, Ứng Cng, Chnh Biến Tri, Minh Hạnh Tc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tơn. Thế giới Phật ấy cĩ mọi trang nghiêm như ông đ nguyện, tất cả đều đầy đủ. Thiện nam tử! lc Bửu Tạng Như Lai thọ ký cho Bồ tt Kim-cang trí-tuệ quang-minh công-đức thì trong hư không có vô lượng vô biên trăm nghìn ức na-do-tha chư Thiên khen ngợi `Lành thay! Lành thay! Làm mưa ngưu đầu Chiên đàn, a già lưu hương, đa già lưu hương, đa ma la bạt cng với mạt-hương để cúng dường, lúc đó Bồ tt Kim-cang trí-tuệ quang-minh công-đức bạch Phật rằng: `Bạch Thế Tơn! Nếu nguyện của con thnh tựu đạt được mục đích giải thốt thì xin cho khi con kính lạy chư Phật Thế Tơn, nguyện khắp 10 phương thế giới như hằng h sa thảy đầy hương thơm vi diệu, xin cho chúng sanh đủ loại trong đó, hoặc ở địa ngục, ngạ quỹ, sc sanh, hoặc ở ci người, hay ở trn trời nếu nghe hương ấy thảy được xa lìa tất cả bệnh khổ của thân tâm, khi đầu mặt con ci tới sát đất’. Thiện nam tử! Lc Bồ tt Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh Công Đức nói như vậy rồi, bèn cúi đầu lạy Phật, tức thì cc thế giới ở 10 phương như cát sông Hằng thảy đều tràn đầy hương thơm vi diệu, chng sanh nghe mi ấy, thn tm liền được xa lìa khổ no. Bấy giờ Bửu Tạng Như Lai vì Bồ tt Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh Công Đức m nĩi kệ rằng:

Tuệ Kim Cang hay ph

Ơng nay kh trọn đấy

Thế giới Phật mười phương

Khắp nơi đầy diệu hương

Hướng vô lượng chng sanh

Được yên vui sung sướng

Mai sau ơng thnh Phật

Vô thượng thế gian giải

Thiện nam tử! khi Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh Công Đúc Bồ tt nghe kệ ấy rồi, tm sanh hoan hỷ, đứng dậy chấp tay lạy trước chn Phật, bước lui khơng xa, lại ngồi nghe php.

Thiện nam tử! lúc đó Phạm Chí Bửu Hải thưa với Vương tử thứ năm là Vô Sở Úy cho đến lúc Vương tử pht nguyện cũng lại như đ kể. Bấy giờ Vương tử đáp lại Phạm Chí rằng: Nay tơi pht nguyện chẳng muốn thnh A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nơi thế giới bất tịnh. Nguyện khi thnh Phật, trong thế giới tu không có địa ngục, sc sanh, ngạ quỹ, đất thuần bằng báu cam lưu ly, nói rộng ra thì được trang nghiêm như thế giới Liên hoa. Lúc đó, Vương tử Vơ y cầm hoa sen dng ln Phật Bửu Tạng v bạch rằng: ‘ Bạch Thế Tơn! Nếu sở nguyện con thnh tựu, được lợi cho mình, xin nhờ Phật lực khiến nay trước Phật cho con được thấy cc loại trang nghim Tam muội. Lại nguyện trời mưa các thứ hoa sen lớn như bánh xe, đầy khắp mười phương, như số bụi nhỏ trong hằng h sa thế giới. Cũng xin khiến cho con được xa thấy cc quốc độ Phật’. Thiện nam tử! Vương tử Vơ Sở Úy nói như vậy rồi, liền nhờ Phật lực được thấy cc loại trang nghim Tam muội, trời mưa vô lượng cc loại hoa sen lớn như bánh xe, đầy khắp mười phương thế giới chư Phật như số bụi nhỏ trong hằng h sa thế giới, tất cả đại chúng đều được xa thấy, thấy được việc ấy ai nấy vui sướng. Lúc đó Phật phn với Vương tử Vơ y rằng: ‘Thiện nam tử! cĩ thể đến chỗ phát đại nguyện rất sau vi diệu như thế. Đó là giữ Phật độ nghim tịnh, lại cĩ thể mau được trọn thấy cc loại trang nghim Tam muội. Vì nguyện chẳng hư dối nn trời mưa vô lượng hoa sen như vậy’.

Bạch Thế Tơn! Nếu sở nguyện con thnh tựu, đạt được mục đích giải thốt, xin nguyện cho cc hoa ấy đứng giữa hư không, chẳng rơi xuống đất. ‘ Lúc đó Bửu Tạng Như Lai phán với Vương tử Vơ y rằng: Thiện nam tử! nay vì ơng muốn cho cc hoa sen ấy in nơi hư không, nên đặt hiệu ông là Hư Không Ấn.

Bấy giờ, Phật phán với Hư Không Ấn Bồ tát rằng: Thiện nam tử! Ông trong mai sau qua một hằng sa a tăng kỳ kiếp, qua hai hằng sa a tăng kỳ kiếp, tại phương Đông Nam, cách Phật độ này trăm ngàn vạn ức hằng hà sa thế-giới, có thế giới ông tên là Liên Hoa, ông ở trong đó thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Liên Hoa Tôn Như Lai, Chnh Biến Tri, Minh Hạnh Tc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Tất cả đại chúng đều là Đại Bồ tát, không thể tính đếm số lượng là bao. Thọ mệnh của Phật vô lượng vô biên. Sở nguyện đầy đủ đều được thành tựu. Lúc đó đại Bồ tát Hư Không Ấn, đầu mặt lạy Đức Bửu Tạng Như Lai, rồi đứng dậy chấp tay, bước lui chẳng xa lại ngồi nghe pháp. Bấy giờ Thế Tôn v́ Hư Không Ấn, mà nói kệ rằng: Thiện nam tử nên biết:

Có người làm lợi ḿnh,

Hay dứt dây phiền năo

Thường khiến được vắng lặng

Chỗ nhận giữ công đức

Số như cát sông hằng

Cơi nhiều như bụi nhỏ

Đều thành tựu chẳng mất

Ông trong đời mai sau

Thành tựu đạo vô thượng

Cũng như Phật quá khứ

Chẳng có ǵ sai khác

Thiện nam tử! Hư Không Ấn Bồ tát nghe kệ ấy rồi tâm sanh hoan hỷ, đứng dậy chấp tay lạy trước chân Phật, bước lui không xa, lại ngồi nghe pháp.

Thiện nam tử! Lúc ấy Phạm Chí Bửu Hải thưa với Vương tử thứ sáu là Hư Không, cho đến khi Vương tử phát tâm cũng lại như đă kể. Khi ấy, vương tử Am bà la bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nay con phát nguyện chẳng muốn thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nơi thế giới bất tịnh sở nguyện nói lược như Hư Không Ấn. Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu, được lợi cho ḿnh, nguyện xin khiến cho trong các thế giới ở 10 phương như cát sông hằng tự nhiên có lọng bằng bảy báu tre bày la liệt tại trên hư không, có lưới bằng vàng ṛng che ở trên đó, có treo chuông bằng bảy báu để trang hoàng, từ chuông báu thường phát ra tiếng Phật, tiếng pháp, tiếng tỳ kheo tăng, tiếng ba la mật và sáu thần thông, 10 phương, vô uư, các tiếng như thế. Chúng sanh trong thế giới nghe các tiếng đó bèn phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Khi đă phát tâm rồi ắt được chẳng thối chuyển nữa. Tiếng Phật, pháp, tăng, do chuông báu sanh,…. Cho đến tiếng vô sở uư, ắt nghe vang khắp 10 phương hư không thế giới, rồi như Phật lực bèn được tự nghe. Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt được mục đíc giải thoát xin nguyện ngày nay con được Tri Nhật Tam muội. Nhờ có Tam muội, tất cả các gốc căn lành thảy đều tăng trưởng, lợi ích. Được Tam muội rồi, xin nguyện chư Phật thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cho con. Khi Vương tử nói lời ấy rồi, nhờ thần lực Phật, Vương tử liền được Tri Nhật Tam muội. Lúc đó Thế Tôn khen Vương tử rằng: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Sở nguyện của ông rất sâu, rất sâu! Bởi nhờ nhân duyên công đức rất sâu cho nên trong các thế giới ở 10 phương như cát sông Hằng tự nhiên có lọng bảy báu treo bày la liệt tại trên hư không, có lưới bằng vàng ṛng treo ở trên đó, có treo chuông báu thảy để trang hoàng. Chuông thường phát ra tiếng Phật, Pháp, Tăng, cho đến tiếng vô sở uư. Lúc ấy, có trăm ngh́n ức na do tha chúng sanh nghe các tiếng đó, kế lại phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bởi vậy hiệu ông là Hư Không Nhật Quang Minh.

Bấy giờ Phật phán với đại Bồ tát Hư Không Nhật Quang Minh rằng: Ông trong tương lai sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp, bước sang hai hằng sa a tăng kỳ kiếp, ở phương Đông, cách đây hai hằng sa cơi Phật, có thế giới tên là Nhật Nguyệt. Ông ở cơi đó, sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Pháp Tự Tại Phong Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Tc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Lúc Hư Không Nhật Quang Minh Bồ tát nghe lời thọ kư ấy rồi, ngài bèn lạy trước chân Phật. Khi đó, đức Thế Tôn v́ Hư Không Nhật Quang Minh Bồ tát mà nói kệ rằng:

Nay thiện nam tử khởi

Ḷng lành tự điều ngự

Để thuần phục đại bi

Nơi tất cả chúng sanh

Độ thoát khiến dứt khổ

Cuối cùng trú bờ kia

Trí tuệ khéo phân biệt

Khiến đến đạo Vô thượng

Thiện nam tử! Khi Bồ tát Hư Không Nhật Quang Minh nghe kệ ấy rồi, tâm sanh hoan hỷ, bèn đứng dậy chấp tay lạy trước chân Phật, rồi lui chẳng xa, lại ngồi nghe pháp.

Lúc đó Phạm Chí Bửu Hải lại thưa cùng Vương tử thứ bảy là Thiện tư, cho đến khi vương tử phát tâm, cũng lại như đă kể. Khi ấy vương tử bạch Phật rằng: Sở nguyện của con nay chẳng muốn thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nơi thế giới bất tịnh. Con nguyện đời mai sau thế giới của con chẳng có địa ngục, súc sanh, ngạ quỹ, danh tự người nữ, và dùng thai sanh, chẳng có các núi Tu di, đại tiểu Thiết vi, núi, đồi, g̣, đống, đá sỏi, cát, ác, gai gốc, gió độc, cây nhỏ, cây to, bụi rừng, biển lớn, sông ng̣i, mặt trời, mặt trăng, ngày đêm, u ám, những chỗ hôi thối, các loại chúng sanh chẳng có tiện lợi, khóc ngủ, bụi nhớp, thân tâm chẳng nhận các sự chẳng vui. Cơi nước trang nghiêm, đất bằng mă năo, không có bụi bặm, chỉ có trăm ngh́n vô lượng trân bửu, chẳng có các thứ cỏ, chỉ có hoa đẹp, như Mạn đà la, dùng để trang sức các loại cây báu trên các cây báu, lại có lọng báu, áo báu tua hoa, các chuỗi ngọc báu, hương hoa, kỹ nhạc, các thứ bửu vật, các thứ diệu hoa là để trang sức cho cây thêm đẹp, trong thế giới con chẳng có ngày đêm chỉ dùng hoa nở hiệp mà biết thời tiết.

Các vị Bồ tát tự nhiên xuất sanh trong các hoa vàng, lúc vừa mới sanh thảy đều được thấy các loại trang nghiêm Tam muội, nhờ sức Tam muội được thấy chư Phật hiện tại trong các thế giới ở khắp 10 phương như số bụi nhỏ. Nơi Tam muội ấy, trong khoảng một niệm, đầy đủ lục thông, nhờ có tai Trời, được nghe âm thanh hiện tại chư Phật đang nói diệu pháp trong các thế giới ở khắp mười phương như số bụi nhỏ, nhờ túc mạng trí, biết đời quá khứ các việc xảy ra qua nhiều số kiếp, như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, nhờ có mặt trời, thấy mọi cảnh trang nghiêm trong các thế giới chư Phật mười phương, nhờ tha tâm trí trong khoảng một niệm được biết tâm niệm hết thảy chúng sanh trong các thế giới như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, cho đến khi thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, chẳng hề mất Tam muội ấy. Vào buổi sáng sớm, có gió bốn phương thanh tịnh mềm dịu, thổi hương vi diệu và phân tán các hoa. Bởi có sức gió, chư vị Bồ tát từ Tam muội dậy, Tam muội dậy rồi liền được các thứ thông lực như ư. Nhờ được sức ấy, trong khoảng một niệm, có thể đến 10 phương, mỗi mỗi phương diện có vô số cơi Phật như số bụi nhỏ  trong một Phật độ, cúng dường hiện tại chư Phật Thế Tôn, xin nghe diệu pháp, tức trong một niệm trở về Bổn độ, không có quái ngại. Chư vị Bồ tát trong các đài hoa như mạn đà la, Đại mạn đà la, đang ngồi kiết già, suy tư pháp môn, gọi là `Muốn được thấy con tại một phương diện`, tuỳ chỗ thân hướng về, hăy khiến được thấy, nếu có nghi vướng ở nơi thâm pháp th́ nhờ thấy con ắt được diệt trừ, nếu có hỏi nghĩa để được nghe pháp th́ nhờ thấy con liền được hiểu sâu, chẳng có hồ nghi. Bao nhiêu Bồ tát thảy đều hiểu sâu Vô Ngă và không Ngă Sở cho nên có thể xă bỏ thân căn, mệnh căn, tất cả nhất định chẳng c̣n thối chuyển nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.Thế giới không có mọi tên chẳng lành cũng chẳng có tên thọ giới, phá giới, bỏ giới, hối lỗi. Tất cả chúng sanh đều được thân h́nh 32 tướng tốt, sức mạnh như Na la diên, cho đến khi thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, không có người nào xấu căn hư, thiếu, chẳng được đầy đủ. Tất cả chúng sanh, ngay khi được sanh, râu tóc đều rụng, mặc ba pháp y, được Tam muội khéo phân biệt cho đến A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, chẳng mất nửa chừng, hết thảy chúng sanh đều được hoà hiệp, tất cả căn lành, chẳng có người nào khổ v́ già, bệnh. Nếu các Bồ tát đến lúc mệnh chung th́ ngồi kiết già, nhập vào hoả định để tự thiêu thân, thân được thêu rồi, bốn phương gió mát thổi lướt qua thân, phân tán xá lợi đến cơi không Phật, rồi lại biến thành Ma ni bửu châu, như số bửu châu của Chuyển luân thánh vương. Nếu có chúng sanh thấy, đụng bửu châu, ắt khiến họ chẳng đoạ ba đường ác, cho đến niết bàn, chẳng c̣n phải khổ, tức được xả thân, sanh vào phương khác tại nơi có Phật, hỏi nhận diệu pháp,phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, chẳng được thối chuyển, bao nhiêu chúng sanh đến lúc mệnh chung, tâm đều tại tịnh, không bị tán loạn, chẳng chịu các khổ, như ái, biệt ly,… sau khi mệnh chung, chẳng đoạ tám nạn, vào đời không Phật…., cho đến khi thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thường được thấy Phật, hỏi nhận diệu pháp, cúng dường chúng tăng. Tất cả chúng sanh đều ĺa ham muốn oán giận, ngu si, nhớ yêu, ghen ghét, mê lầm, kiêu căng. Thế giới chẳng có thanh văn, duyên giác. Bao nhiêu đại chúng đều là đại Bồ tát, đầy dẫy quốc độ, tâm họ mềm dịu, không ḷng yêu dục, bền vững chẳng thối lui nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, được các Tam muội. Thế giới chỉ có ánh sáng thanh tịnh, các thế giới Phật như số bụi nhỏ ở khắp 10 phương, thảy đều được nghe thế giới của con. Thế giới con có mùi thơm vi diêu lan khắp 10 phương, thảy đều được nghe thế giới  của con. Thế giới con có mùi thơm vi diệu, lan khắp 10 phương thế giới chư Phật như số bụi nhỏ. Chúng sanh nước con thường được vui sướng chưa từng nghe nói tiếng có chịu khổ. Bạch Thế Tôn! Thời gian con hành đạo Bồ tát chẳng có hạn lượng. Nay con cần phải trang nghieem Phật độ thanh tịnh như vậy, các loại chúng sanh, đều khiến thanh tịnh đầy khắp cơi nước, sau đó mới thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bạch Thế Tôn! Khi thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, con sẽ phóng ra vô lượng vô biên ánh sáng chiếu khắp 10 phương thế giới chư Phật như số bụi nhỏ trong ngh́n cơi Phật, khiến cho chúng sanh nơi các cơi đó đều xa thấy con có 32 tướng tốt, tức liền được dứt ham muốn, oán giận, ngu si, ganh ghét, mêm mờ, kiêu căng, tất cả phiền năo, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, như đă mong cầu, được đà la ni Tam muội nhẫn nhục, v́ nhờ thấy con, thân tâm họ được diệu lạc bậc nhất, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nếu thọ mệnh hết, họ tất được sanh vào thế giới con, sanh rồi liền được chẳng c̣n thối chuyển nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Các địa ngục nóng, súc sanh, ngạ quỹ cũng lại như vậy. Chỗ thấy chư Thiên, càng sáng gấp bội. Thọ mệnh của con vô lượng vô biên, không thể tính đếm, trừ nhất thiết trí. Bạch Thế Tôn! Con thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, khiến chư Phật hiện tại, nơi vô lượng vô biên a tăng kỳ thế giới ở 10 phương, đều khen ngợi con. Bao nhiêu chúng sanh nếu được nghe tiếng khen con như vậy, nguyện tạo căn lành, mau sanh nước con, sau khi mệnh chung, họ ắt được sanh, trừ tội ngũ nghịch, phá hoại chánh phá, chê bai thánh nhân. Bạch Thế Tôn! Con thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, bao nhiêu chúng sanh trong vô lượng vô biên a tăng kỳ thế giới ở khắp 10 phương, nếu nghe tiếng con, phát nguyện muốn sanh nơi cơi nước con th́ chúng sanh ấy, vào lúc hấp hối, ắt khiến thấy con cùng các đại chúng sau trước vây quanh, khi đó con nhập Vô-ế Tam muội, nhờ sức Tam muội, hiện thân trước mặt, v́ họ nói pháp, bởi nhờ nghe pháp, họ được dứt trừ tất cả khổ năo, tâm rất vui mừng, v́ tâm vui mừng, họ được Bửu minh Tam muội, nhờ sức Tam muội khiến tâm được niệm và Vô sanh nhẫn. Sau khi mạng chung, tất sanh nước con.

Nếu các chúng sanh trong những thế giới không có bảy món của cải, chẳng muốn tu tập thực hành ba thừa, chẳng muốn sanh vào trời, người các cơi, cũng chẳng tu hành tất cả căn lành, và ba cơi phước, làm điều phi pháp ô trược, yêu đắm ắc dục, chuyên theo tà kiến, chúng sanh như vậy, con nguyện nhập vào  Vô phiền năo Tam muội, nhờ sức Tam muội khiến chúng sanh ấy, vào lúc mệnh chung, họ được thấy con và các đại chúng hiện trước mặt họ v́ họ nói pháp, thị hiện Phật độ, lại khuyên phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, khiến họ dứt được phiền năo, dứt khỗ năo rồi, tiện được Nhật đăng Quang minh Tam muội, diệt hết si ám, sau lúc mệnh chung, sanh về nước con.

Lúc đó Bửu Tạng Như Lai khen rằng: Lành thay! Lành thay! Nay ông mới có thế phát đại nguyện vi diệu!

Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt được mục đích giải thoát, xin nguyện khiến cho thế giới chư Phật như số bụi nhỏ trong khắp 10 phương đều mưa những hương Ưu đà la bà la cùng Chiên đàn hương ngưu đầu Chiên đàn, các loại mạt hương. Nếu có chúng sanh ở khắp mọi chỗ nghe mùi hương ấy ắt phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, khiến con nay được Kim cang nguyện Tam muội, nhờ sức Tam muội tất được xa thấy trời mưa những hương nơi các thế giới.

Thiện nam tử! Lúc vương tử nói lời ấy rồi, kế được Tam muội tự thấy 10 phương thế giới chư Phật như số bụi nhỏ mưa xuống những hương Ưu đà la bà la, ngưu đầu Chiên đàn, các loại mạt hương, và thấy ở mỗi phương diện bao nhiêu chúng sanh chẳng thể tính đếm thảy đều cung kính chấp tay phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Lúc ấy Bửu Tạng Như Lai phán với Vương tử rằng: Thiện nam tử! Sở nguyện của ông đă được thành tựu: Trời đă mưa xuống, các loại diệu hương, đă có chúng sanh chẳng thế tính đếm cung kính phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bởi thế hiệu ông là Sư Tử Hương. Ông trong tương lai, qua một hằng sa a tăng kỳ kiếp, sang hai hằng sa a tăng kỳ kiếp, phương trên cách đây 42 hằng sa thế giới chư Phật như số bụi nhỏ, có thế giới tên là Thanh Hương Quang Minh Vô Cấu. Ông trong cơi ấy sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Quang Minh Vô Cấu Kiên Hương Phong Vương Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Thiện nam tử! Lúc đó Bồ tát Sư Tử Hương lạy Bửu Tạng Như Lai, đầu mặt sát đất. Khi ấy Như Lai v́ Bồ tát Sư Tử Hương nói kệ như vầy:

Thầy Trời, Người dậy

Nhận mọi cúng dường

Độ thoát sanh tử

Khiến ĺa khổ năo

Dứt mọi ràng buộc

Và các phiền năo

Mai sau sẽ làm

Bậc Trời, Người tôn

Thiện nam tử! Chư Bồ tát Sư Tử Hương nghe kệ ấy rồi, tâm rất vui mừng, liền đứng dậy, chấp tay, bước lui chẳng xa, lại ngồi nghe pháp.

Thiện nam tử! Phạm Chí Bửu Hải lại thưa với vương tử thứ tám là Dẫn Đồ,… cho đến khi vương tử phát tâm, lại cũng như vậy. Bấy giờ Vương tử bạch trước Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Sở nguyện con nay thiết yếu là Tu đạo Bồ tát trong thế giới bất tịnh, lại phải sửa trị, trang nghiêm một vạn thế giới bất tịnh, khiến cho chúng được nghiêm tịnh như Thanh Hương Quang Minh Vô Cấu Thế Giới, cũng cần giáo hoá vô lượng Bồ tát, khiến cho tâm họ thanh tịnh, không có dơ đục, đều hướng về đại thừa, ắt tiện làm cho nước con đầy đủ, sau đó con mới thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bạch Thế Tôn! Nguyện trong khi con tu đạo Bồ tát điều trọng yếu là phải hơn các Bồ tát khác. Bạch Thế Tôn! Trong bảy năm con đă ngồi nghiêm chỉnh suy tư về công đức thanh tịnh của chư Phật Bồ tát, và công đức trong mọi cách trang nghiêm Phật độ, lúc ấy con đă được`Tất Kiến Chủng Chủng Trang Nghiêm Tam Muội` bằng vạn ngàn Bồ tát Tam muội, và tu hành tăng tiến. Bạch Thế Tôn! Con nguyện được Xuất ly Tam thế Thắng tràng Tam muội, nhờ sức Tam muội ắt thấy thế giới chư Phật 10 phương vô lượng vô biên, và chư Phật hiện tại ở khắp mọi nơi, ra khỏi tam thế, v́ các chúng sanh diễn nói Chánh Pháp.

Bạch Thế Tôn! Con nguyện được Bất thối Tam muội, nhờ sức Tam muội, trong khoảng một niệm, ắt thấy như số bụi nhỏ, chư Phật, Bồ tát, cùng các thanh văn cung kính vây quanh. Con nguyện ở mỗi mỗi chỗ của Phật được Vô Y Chỉ Tam muội, nhờ sức Tam muội được biến hoá thân, nhất thời hiện đến khắp cả các chỗ Như Lai đang ngự, như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, để cúng dường Phật, cung kính lễ bái. Con nguyện mỗi thân dùng đủ các loại vô thượng trân bảo, hương hoa, đồ hương, mạt hương diệu thắng, kỹ nhạc, trang nghiêm đủ cách, để đem cúng dường nơi mỗi Đức Phật. Bạch Thế Tôn! Con nguyện mỗi thân ở mỗi chỗ Phật ngự, như số giọt nước trong biển lớn bằng số kiếp hành đạo Bồ tát. Con nguyện được Nhất Thiết Thân Biến Hoá Tam Muội, nhờ sức Tam muội, trong khoảng một niệm ở trước mỗi Phật, biết các cơi Phật bằng số bụi nhỏ, như biết một Phật độ.

Bạch Thế Tôn! Con nguyện được Công đức lực Tam muội, nhờ sức Tam muội, ở trước mỗi Phật, biến đến các chỗ Phật ngự bằng số bụi nhỏ, như đếm một Phật độ, để khen ngợi chư Phật bằng những lời khen ngợi vi diệu. Bạch Thế Tôn! Con nguyện được Bất Huyến Tam muội, nhờ sức Tam muội, trong khoảng một niệm ắt thấy chư Phật đầy khắp 10 phương trong vô lượng vô biên thế giới. Bạch Thế Tôn! Con nguyện được Vô Tránh Tam muội, nhờ sức Tam muội, tron g khoảng một niệm, ắt thấy các thế giới tịnh diệu của chư Phật quá khứ, hiện tại, tương lai. Bạch Thế Tôn! Con nguyện được Thủ Lăng Nghiêm Tam muội, nhờ sức Tam muội, hoá làm thân địa ngục, vào trong địa ngục, cùng chúng sanh ở đó nói pháp vi diệu, khuyên họ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, các chúng sanh kia nghe pháp ấy rồi, kế đến phát tâm bồ đề Vô thượng, tiện đến lúc chết, sanh vào cơi người, tuỳ chỗ được sanh thẳng tới gặp Phật, từ chỗ gặp Phật, được nghe Chánh pháp, nghe nhận pháp rồi, tức được an trụ nơi chẳng thối chuyển. Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Người và Phi nhơn, Trời, Rồng, Quỹ thần, Dạ xoa, La sát, Tư xà già, Phú đan na, Già ni phú đan na, kẻ giết mổ, người buôn bán, dâm nữ, súc sanh, ngạ quỹ, các chúng sanh ấy, cũng được như vậy, thảy khiến phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Có những chúng sanh, tuỳ theo chỗ sanh, được các sắc tượng, thân con phân ra, như nghiệp họ làm theo đó khổ vui, hay được công đức. Con nguyện biến hoá làm thân như vậy, tuỳ chỗ họ làm mà giáo hoá họ. Bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sanh, âm thanh khác nhau tưởng niệm, con nguyện tuỳ theo âm thanh của họ v́ họ nói pháp, khiến cho ai nấy thảy đều hoan hỷ. Nhân họ hoan hỷ, khuyên họ yên ngừng, khiến chẳng thối chuyển nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bạch Thế Tôn! Con cần phải dạy tất cả chúng sanh trong một vạn cơi Phật, khiến cho tâm thấy tỏ, họ thanh tịnh, không có các tiếng nghiệp hành, phiền năo, cho đến chẳng khiến cho một người nào thuộc về bốn quỹ, huống là nhiều người, nếu con trang nghiêm được một vạn Phật độ, thanh tịnh giống như thế giới Thanh Hương Quang Minh Vô Cấu của Quang Minh Vô Cấu Tôn Hương Vương Phật, có đủ các cách trang nghiêm vi diệu th́ sau đó thân con và các quyến thuộc mới được như sở nguyện của Bồ tát Sư Tử Hương vậy.

Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt được mục đích giải thoát, xin khiến chúng sanh một vạn cơi Phật dứt hết phiền năo, được tâm mềm dẽo, được tâm điều phục, ai nấy tự nhiên, thấy Phật Thế Tôn hiện tại nói pháp trong bốn thiên hạ, tất cả chúng sanh tự nhiên mà được các loại trân bửu, hoa hương, mạt hương, và những đồ hương, các loại y phục, các loại cờ phướng, hết thảy đều dùng để cúng dường Phật, cúng dường Phật rồi nhất định phát tâm bồ đề Vô thượng. Bạch Thế Tôn! Chúng con hôm nay, nhờ sức Tam muội, Tất Đắc Kiến Chủng Chủng Trang Nghiêm, đều được xa thấy những việc như vậy. Nói lời ấy rồi, kế như sở nguyện đều được thấy cả. Lúc ấy Thế Tôn khen A Di Cụ rằng: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Thế giới ông nay giáp ṿng bốn mặt một vạn Phật độ trang nghiêm thanh tịnh. Trong đời mai sau lại có thể dạy vô lượng chúng sanh, khiến tâm thanh tịnh. Cũng lại cúng dường vô lượng vô biên chư Phật Thế Tôn.

Thiện nam tử! Bởi do duyên ấy khiến đổi tên ông là Phổ Hiền, trong đời mai sau, quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp sang hai hằng sa a tăng kỳ kiếp, trong khoảng sau cuối, ở nơi phương Bắc, cách đây hơn 60 hằng sa cơi Phật có thế giới tên là Tri Thuỷ Thiện Tịnh Công Đức. Ông ở cơi đó sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề hiệu là Trí Cang Hống Tự Tại Tướng Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Thiện nam tử! Khi đó đại Bồ Tát Phổ Hiền đầu mặt sát đất lạy Bửu Tạng Phật. Bấy giờ Như Lai liền v́ Bồ tát Phổ Hiền mà nói kệ rằng:

Ơng khởi Thầy khéo dẫn

Đă được như sở nguyện

Hay khéo dạy chúng sanh

Khiến thảy được nhất tâm

Đưa qua sông phiền năo

Thoát khỏi các pháp ác

Mai sau làm đèn sáng

Thầy cơi Trời và Người

Thiện nam tử! Lúc đó trong hội có một vạn người sanh tâm lười trễ, khác miệng đồng lời, nói như vầy: Bạch Thế Tôn! Chúng con mai sau sẽ ở nơi Phật độ nghiêm tịnh như thế thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Đó là các thế giới thanh tịnh do Phổ Hiền Bồ tát xây dựng nên vậy. Bạch Thế Tôn! Chúng con cần phải tu lục ba la mật cho đầy đủ. Nhờ lục ba la mật đầy đủ nên mọi người sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề ở các Phật độ.

Thiện nam tử! Khi ấy Bửu Tạng Như Lai bàn v́ một vạn người đó mà thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Thiện nam tử! Lúc Bồ tát Phổ Hiền thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề quư vị sẽ do nơi Bồ tát Phổ Hiền làm cho vạn Phật độ thanh tịnh mà cùng một lúc thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề:

  • Có một ngàn Phật đồng hiệu Trí Xứ Tôn Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn đồng đẳng Trí Xứ như vậy.
  • Lại có một ngàn Phật đồng hiệu Tăng Tướng Tôn Âm Vương.
  • Lại có một ngàn Phật đồng hiệu Thiện Vô Cấu Tôn Âm Vương
  • Lại có một ngàn Phật đồng hiệu Ly Bố Uư Tôn Âm Vương.
  • Lại có một ngàn Phật đồng hiệu Thiện Vô Cấu Quang Tôn Âm Vương
  • Lại có một ngàn năm trăm Phật đồng hiệu Nhật Âm Vương.
  • Lại có năm trăm Phật đồng hiệu Nhật Bửu Tạng Tôn Vương.
  • Lại có năm Phật đồng hiệu Lạc Ân Tôn Vương.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Nhật Quang Minh.
  • Lại có bốn Phật đồng hiệu Long Tự Tại.
  • Lại có Tám Phật đồng hiệu Ly Khủng Bố Xưng Vương Quang Minh.
  • Lại có mười Phật đồng hiệu Ly Âm Quang Minh.
  • Lại có tám Phật đồng hiệu Âm Thanh Xưng.
  • Lại có mười một Phật đồng hiệu Hiền Lộ Pháp Âm.
  • Lại có chính Phật đồng hiệu Công Đức Pháp Xưng Vương.
  • Lại có hai mươi Phật đồng hiệu Bất Khả Tư Ngh́ Vương.
  • Lại có bốn mươi Phật đồng hiệu Bửu Tràng Quang Minh Tôn Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Giác Tri Tôn Trưởng Vương.
  • Lại có bảy Phật đồng hiệu Bất Khả Tư Ngh́ Âm.
  • Lại có ba Phật đồng hiệu Trí Tạng.
  • Lại có mười lăm Phật đồng hiệu Trí Sơn Tràng.
  • Lại có năm mươi Phật đồng hiệu Trí Hải Vương.
  • Lại có ba mươi Phật đồng hiệu Đại Lực Tôn Âm Vương.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Sơn Công Đức Kiếp.
  • Lại có 80 Phật đồng hiệu Thanh Tịnh Trí Cần.
  • Lại có 90 Phật đồng hiệu Tôn Tướng Chủng Vương.
  • Lại có 100 Phật đồng hiệu Thiện Trí Vô Cấu Lôi Âm Tôn Vương.
  • Lại có 80 Phật đồng hiệu Thắng Tôn Đại Hải Công Đức Trí Sơn Lực Vương.
  • Lại có 40 Phật đồng hiệu Vô Thượng Bồ Đề Tôn Vương.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Trí Giác Sơn Hoa Vương.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Công Đức Sơn Trí Giác.
  • Lại có ba Phật đồng hiệu Kim Cang Sư Tử.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Tŕ Giới Quang Minh.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Thị Hiện Tăng Ích.
  • Lại có một Phật hiệu Vô Lượng Quang Minh.
  • Lại có ba Phật đồng hiệu Sư Tử Du Hư.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Vô Tận Trí Sơn.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Bửu Quang Minh.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Vô Cấu Trí Tuệ.
  • Lại có chín Phật đồng hiệu Trí Tuệ Quang Minh.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Sư Tử Vương.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Công Đức Thông Vương.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Vũ Pháp Hoa.
  • Lại có một Phật hiệu Tạo Quang Minh.
  • Lại có một Phật hiệu Tăng Ích Sơn Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Xuất Pháp Vô Cấu Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Hương Tôn Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Vô Cấu Mục.
  • Lại có một Phật hiệu Đại Bửu Tạng.
  • Lại có một Phật hiệu Lực Vô Chướng Ngại Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Tự Tri Công Đức Lực.
  • Lại có một Phật hiệu Y Phục Tri Túc.
  • Lại có một Phật hiệu Đắc Tự Tại.
  • Lại có một Phật hiệu Vô Chướng Ngại Lợi Ích.
  • Lại có một Phật hiệu Trí Tuệ Tạng.
  • Lại có một Phật hiệu Đại Sơn Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Lực Tạng.
  • Lại có một Phật hiệu Cầu Công Đức.
  • Lại có một Phật hiệu Hoa Tràng Kỹ.
  • Lại có một Phật hiệu Chúng Quang Minh.
  • Lại có một Phật hiệu Vô Si Công Đức Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Kim Cang Thượng.
  • Lại có một Phật hiệu Pháp Tướng.
  • Lại có một Phật hiệu Tôn Âm Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Kiên Tŕ Kim Cang.
  • Lại có một Phật hiệu Trân Bửu Tự Tại Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Kiên Tự Nhiên Tràng.
  • Lại có một Phật hiệu Sơn Kiếp.
  • Lại có một Phật hiệu Vũ Ngu Lạc.
  • Lại có một Phật hiệu Tăng Ích Thiện Pháp.
  • Lại có một Phật hiệu Sa La Vương.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Công Đức Biến Măn Đại Hải Công Đức Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Trí Tuệ Hoà Hiệp.
  • Lại có một Phật hiệu Trí Xứ.
  • Lại có một Phật hiệu Hoa Chúng.
  • Lại có một Phật hiệu Thế Gian Tôn.
  • Lại có một Phật hiệu Ưu Đàm Bát Hoa Tràng.
  • Lại có một Phật hiệu Pháp Tràng Tự Tại Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Chiên Đàn Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Thiện Trú.
  • Lại có một Phật hiệu Tinh Tấn Lực.
  • Lại có một Phật hiệu Tràng Đẳng Quang Minh.
  • Lại có một Phật hiệu Trí Bộ.
  • Lại có một Phật hiệu Hải Tràng.
  • Lại có một Phật hiệu Diệt Pháp Xứng.
  • Lại có một Phật hiệu Hoại Ma Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Chúng Quang Minh.
  • Lại có một Phật hiệu Xuất Trí Quang Minh.
  • Lại có một Phật hiệu Tuệ Đăng.
  • Lại có một Phật hiệu An Ấn Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Trí Âm.
  • Lại có một Phật hiệu Tràng Nhiếp Thủ.
  • Lại có một Phật hiệu Thiên Kim Cang.
  • Lại có một Phật hiệu Chủng Chủng Trang Nghiêm Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Vô Thắng Trí.
  • Lại có một Phật hiệu Thiện Trú Ư.
  • Lại có một Phật hiệu Nguyệt Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Vô Thắng Bộ Tự Tại Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Sa Liên Đà Vương.
  • Lại có 80 Phật đồng hiệu Sư Tử Bộ Vương.
  • Lại có 50 Phật đồng hiệu Na La Diên Vô Thắng Tàng.
  • Lại có 70 Phật đồng hiệu Tụ Tập Trân Bửu Công Đức.
  • Lại có 30 Phật đồng hiệu Quang Minh Tàng.
  • Lại có 20 Phật đồng hiệu Phân Biệt Tinh Túc Xưng Vương.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Công Đức Lực Sa La Vương.
  • Lại có 90 Phật đồng hiệu Vi Diệu Âm.
  • Lại có một Phật hiệu Phạm Tăng.
  • Lại có một Phật hiệu Đề Đầu Lại Tra Vương.
  • Lại có một ngàn Phật đồng hiệu Liên Hoa Hương Trạch Xưng Tôn Vương.
  • Lại có 60 Phật đồng hiệu Quang Minh Xí Chũ Vương.
  • Lại có 30 Phật đồng hiệu Liên Hoa Hương Lực Tăng.
  • Lại có hai Phật đồng hiệu Vô Lượng Công Đức Đại Hải Trí Tăng.
  • Lại có một Phật hiệu Diêm Phù Âm.
  • Lại có 102 Phật đồng hiệu Công Đức Sơn Tràng.
  • Lại có một Phật hiệu Sư Tử Tướng.
  • Lại có 101 Phật đồng hiệu Long Lôi Tôn Hoa Quang Minh Vương.
  • Lại có một Phật hiệu Thiện Thú Chủng Vô Ngă Cam Lồ Công Đức Vương Kiếp.
  • Lại có 1000 Phật đồng hiệu Ly Pháp Trí Long Vương Giải Thoát Giác Thế Giới Hải Nhăn Sơn Vương.

Tất cả đều có 10 hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Các Đức Phật như thế đều cũng một ngày một lúc thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề ở trong các thế giới. Hết thảy thọ mệnh là 10 trung kiếp, niết bàn cũng đồng một ngày. Phật niết bàn rồi, chánh pháp qua bảy ngày liền diệt.

Thiện nam tử! Bấy giờ một vạn người hướng về Bửu Tạng Phật đầu mặt kính lạy. Lúc đó, Thế Tôn v́ một vạn người ấy mà nói kệ rằng:

Long vương các ông

Tự tại kiên cố

Nguyện lành vô thượng

Hoà hiệp thanh tịnh

Chư vị dụng ư

Nhanh như gió mạnh

Tu học tinh cần

Sáu ba la mật

Mai sau tất được

Trời, Người quư trọng.

Thiện nam tử! Lúc một vạn người nghe kệ đó rồi, tâm sanh hoan hỷ, bèn đứng dậy chấp tay lạy trước chân Phật bước lùi chẳng xa, lại ngồi nghe pháp.

Khi đó Phạm Chí Bửu Hải lại thưa với Vương Tử thứ chín là Mật Tô, cho đến khi Vương tử phát tâm cũng lại như đă kể. Lúc ấy Vương tử bạch trước Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Thời gian con hành đạo Bồ tát, xin nguyện tất cả chư Phật hiện tại ở các thế giới trong khắp 10 phương như hằng hà sa, v́ con làm chứng, nay ở trước Phật phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bạch Thế Tôn! Từ khi hành đạo Bồ tát cho đến lúc thành Phaatj, trong thời gian đó, con nguyện chẳng sanh tâm hối tiếc, cho đến khi thành Phật, măi trú nhất tâm, không có thối chuyển, nói sao làm vậy, làm sao nói vậy, cho đến không có một người nào có thế làm cho ḷng con tức bực, con cũng chẳng cầu thanh văn, duyên giác, chẳng khởi dâm dục, chẳng sanh ác tưởng, chẳng cùng ngủ nghỉ, kiêu ngạo, nghi hối cộng đồng, cũng chẳng sanh tâm tham dâm, giết hại, trộm cắp, nói láo, hai lưỡi, nói ác, thêu dệt, oán giận, tà kiến, ganh ghét, kiêu căng, lừa dối. Tu đạo Bồ tát cho đến lúc thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, trong thời gian đó, tâm con chẳng có các pháp như vậy, cho đến khi thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, lúc đi bước bước tâm tâm, đếm pháp thường niệm chư Phật, được thấy chư Phật, hỏi nhận diệu pháp, cúng dường chúng tăng, sanh ở nơi nào cũng nguyện xuất gia, trong thời xuất gia, hẳn được thành tựu giặt giũ ba áo, được ngồi một ḿnh ở dưới gốc cây suy tư yên lặng, trú a lan nhă, thường đi khất thực, chẳng cầu lợi dưỡng, tâm luôn biết đủ, thường giảng nói pháp, thành tựu vô lượng biện tài chẳng ngại, chẳng phạm tội nặng, chẳng dùng ngă tướng nói pháp cho người nữ, nếu có nói pháp, hằng trú không tướng, tâm luôn nói pháp không vô, ngồi thẳng chấp tay chẳng để lộ răng. Nếu có người trong đại chúng học tập th́ trong nhà họ cũng khởi tưởng Phật, cung kính cúng dường, chỗ được nghe pháp, cũng khởi tưởng Phật, cho nên cũng sanh cung kính cúng dường tôn trọng giữa các sa môn, hay bà la môn. Trừ Phật Thế Tôn, ở giữa các chúng, chẳng sanh phân biệt, đó là ruộng phước, hay chẳng phải ruộng phước, mà làm việc bố thí. Con nguyện chẳng sanh tâm ganh ghét chỗ có người làm việc pháp thí. Nếu có chúng sanh đáng bị giết chết, con nguyện xả thân, v́ họ cứu giúp. Nếu có chúng sanh phạm vào các tội, con nguyện dùng sức lời nói, tiền tài, cất nhắc, giúp đỡ cho họ thoát nạn. Nếu có người  tại gia hoặc xuất gia sa vào tội lỗi nguyện chẳng phát hiện cho người khác biết. Các thứ lợi dưỡng, hay được danh dự, con đều xa ĺa, như tránh hầm lửa, gươm giáo, cây độc.

Bạch Thế Tôn! Nếu con nguyện vậy, cho đến khi thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mà được thành tựu, như nay trước Phật con đă phát nguyện, xin khiến hai tay tự nhiên có được ngàn bánh xe trời, sáng chói rực rỡ như ánh lửa mạnh. Thiện nam tử! Lúc vương tử nói lời ấy rồi, bỗng trong hai tay, mỗi tay đeo có một ngàn bánh xe, như người mong được. Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu, đạt được mục đích giải thoát, là thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nay con xin khiến ngh́n bánh xe này đến các thế giới không Phật, ngă trược, xoay thành tiếng lớn, đầy khắp Phật độ, như Nan đà Long vương, Ưu bà nan đà Long vương làm nên âm thanh to lớn vang khắp thế giới. Tiếng của bánh xe trời cũng to lớn như vậy, đó gọi là âm thanh thọ kư cho Bồ tát, âm thanh chẳng mất chuyên niệm trí tuệ, âm thanh tu học pháp không, pháp tạng vốn có của chư Phật. Nếu có chúng sanh ở khắp nơi nơi nghe được pháp thanh ấy, họ liền dứt được ham muốn oán giận, mê mờ, kiêu ngạo, keo kiệt, ganh ghét, mà được vắng lặng suy tư về trí tuệ rất sâu của chư Phật, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Thiện nam tử! Lúc đó vương tử liền sai khiến được các bánh xe kia, như pháp thần túc nhanh chóng của Phật. Các bánh xe kia, cũng nhanh như thế. Chúng vụt bay biến đến khắp 10 phương đời ác không Phật, v́ các chúng sanh phát ra âm thanh thọ kư Bồ tát, âm thanh chẳng mất chuyên niệm trí tuệ, âm thanh tu học pháp không, pháp tạng vốn có của chư Phật, chúng sanh khắp nơi, nghe pháp thanh ấy, họ liền dứt được ham muốn, oán giận, mê mờ, kiêu ngạo, keo kiết, ganh ghét, mà được vắng lặng suy tư về trí tuệ rất sâu của chư Phật, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Các bánh xe đó liền trong khoảnh khắc trở lại nơi tay trước mắt vương tử. Thiện nam tử! Lúc ấy Bửu Tạng  Như Lai khen vương tử rằng: Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Ông hành đạo Bồ tát đă phát nguyện lành vô thượng, tối thiểu, sai khiến các bánh xe trời đến nơi không Phật, đời ác ngũ trược, khiến cho vô lượng vô biên a tăng kỳ ức trăm ngh́n chúng sanh yên dừng, trú nơi tâm  không dơ dục, tâm không năo hại, khuyên dạy phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bởi vậy nay đổi tên ông là A Súc, trong đời mai sau sẽ làm Thế Tôn. Nay ông nên ở trước Phật, như ḷng vui thích, nguyện giữ Phật độ trang nghiêm đủ cách.

Lúc đó A Súc bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nay sở nguyện con muốn giữ cơi Phật trang nghiêm như vầy: Xin khiến nước con đất thuần vàng ṛng, bằng như bàn tay, có nhiều các loại diệu bửu cơi trời đầy khắp cả nước, chẳng có núi, đồi, g̣, đống, đất, cát, đá, sỏi, gai gốc các loại, đất lại mềm dịu giống như áo trời, lúc đi chân đạp đất nhún bốn tấc, khi cất bước lên đất lại hoàn nguyên, không có địa ngục, súc sanh, ngạ quỹ, dơ thúi bất tịnh, chỉ có hương thơm vi diệu cơi trời, hoa mạn đà la, đại mạn đà la đầy khắp cả nước, bao nhiêu chúng sanh, chẳng ai già, bệnh, hết thảy tự tại, chẳng chút sợ nhau, chẳng làm phiền người, chẳng bị mệnh yểu, đến lúc bỏ thân, ḷng không hối hận, tâm họ quyết định chẳng có rối loạn, hằng nhớ suy tư chư Phật Như Lai, sau khi mệnh chung, chẳng đoạ đường ác, chẳng sanh vào đời ác, đục, không Phật, cho đến lúc thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thường được thấy Phật, hỏi, nhận diệu pháp, cúng dường chúng tăng. Bao nhiêu chúng sanh dâm, mỏng, ngu giận, đều làm thập thiện, thế giới không có các loại công xảo, không có phạm tội và các tội danh, cũng không quỹ trời, các việc lưu nạn, chúng sanh thân h́nh không có ác sắc, cũng chẳng phân biệt cao thấp, quư, hèn. Tất cả chúng sanh hiểu sâu vô ngă, và không ngă sở. Thanh văn, Bồ tát, cho đến trong mộng, chẳng mất tinh khí. Chúng sanh thường vui cầu pháp, nghe pháp, không có người nào sanh ư điên đảo, cũng không ngoại đạo, thân tâm chúng sanh không bị mệt mỏi, đều được ngũ thông, không có đói khát, các điều khổ năo. Tuỳ chỗ vui thích ăn uống các món, tự nhieen liền có bửu khí trong tay. Có đủ cách ăn giống như chư Thiện cơi Trời Dục Giới. Không có các bệnh sổ mũi, khạc nhổ, đại tiện, tiểu tiện, đờm, bế, ghèn, mũ, cũng không nóng, lạnh, thường có gió thơm mềm mướt, chạm thân hơi thơm gió ấy đầy đủ vi diệu, xông khắp trời, người, chẳng cần hương khác. Gió thơm như vậy, tuỳ thích trời, người cầu sự ấm áp thảy khiến đầy đủ. Lại nữa, nếu cầu gió thơm hoa Ưu bát la, gió thơm mùi hoa Ưu đà bà la, gió thơm trầm thuỷ, gió thơm Đa già la, gió thơm A dà la, nếu cầu các loại gió thơm như thế, tuỳ chỗ hy vọng, vào lúc phát tâm, đều được thành tựu, trừ đời ngũ trược.

Nguyện quốc độ con có lầu 7 báu, trong lầu 7 báu bày giường 7 baus, nệm chiếu gối nằm, mịn mướt mềm dịu giống như áo trời, chúng sanh nơi lầu giường báu ấy, thảy đều vui sướng. Bốn phía lầu báu co ao nước tốt, đủ 8 công đức, để cho chúng sanh tuỳ ư lấy dùng. Cơi nước có nhiều cây Kim đa la, hoa quả đủ loại thơm tho tuyệt diệu, đầy đủ áo báu, lọng báu các loại, đều được trang sức với những trân châu và nhiều chuỗi ngọc, tuỳ ư chúng sanh vui thích y phục, báu diệu thế nào, tức ở trên cây, tự nhiên lấy mặc. Các thứ hoa quả, mùi thơm, thảy đều như vậy. Bạch Thế Tôn! Nguyện cây bồ đề nước con toàn bằng 7 báu cao ngh́n do tuần, chu vi thân cây trọn một do tuần, nhánh là giang rộng đến ngh́n do tuần. Thường có gió nhẹ thổi lướt qua cây, khiến cây phát ra diệu âm lục ba la mật, ngũ căn, ngũ lực, bát giác thánh đạo. Nếu có chúng sanh nghe diệu thanh ấy, tất cả đều được xa ĺa dục tâm. Bao nhiêu người nữ thảy đều thành tựu mọi diệu công đức, giống như Thiên nữ cơi trời Đâu suất. Không có các sự dơ dáy nguyệt kỳ của các phụ nữ, không có hai lưỡi, keo kiết, ghen ghét che tâm, chẳng cùng nam giới sanh tâm giao động. Nếu các nam tử khởi tâm dâm dục đến chỗ nữ nhân, nh́n với t́nh yêu, th́ trong khoảnh khắc ḷng dục biến mất, lại sanh chán ĺa, liền trở về nhà, kế được thanh tịnh vô cấu Tam muội, nhờ sức Tam muội bèn được giải thoát khỏi các ràng buộc níu kéo của ma, nên lại chẳng sanh tâm ham muốn ác. C̣n các nữ nhân, nếu thấy nam tử sanh tâm muốn yêu, liền tự có thai, lại được xa ḱa mơ tưởng dâm dục. Đương lúc mang thai, hoặc nam hoặc nữ thân tâm chẳng có các điều khổ năo, thường được khoái lạc như người cơi trời Đao lợi, thân tâm luôn được sung sướng tuyệt diệu. Người nữ mang thai 7 ngày 7 đêm cũng được sung sướng như vậy, cũng như tỳ kheo vào đệ nhị thiền. Nam nữ trong thai, chẳng làm tất cả các việc ô uế. Khi đủ 7 ngày liền được xuất sanh, lúc đang xuất sanh cũng được sung sướng, nghe những diệu âm. Người nữ lúc sanh cũng không các khổ. Như vậy, mẹ con đều cùng vào nước để tắm rửa thân. Lúc đó người nữ được Niệm-như-vậy. Nhờ có sức niệm, kế được Tam Muội Thanh Tịnh Ĺa Muốn, nhờ sức Tam muội, tâm họ thường định, nên được giải thoát khỏi mọi sự rằng buộc của ma. Nếu có chúng sanh, nghiệp đời trước thành tựu, qua vô lượng kiếp đă làm thân nữ, nay nhờ định lực được ĺa nữ thân cho đến niết bàn, tất cả nghiệp nữ thảy đều diệt hết, chẳng lại nhận chịu. Nếu có chúng sanh, nghiệp xưa thành tựu, qua vô lượng kiếp phải vào bào thai, chịu mọi khổ năo, nguyện khi con thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, ai nghe tên con sanh tâm hoan hỷ, kế đến mạng chung, rồi lại vào thai, sanh trong nước con, th́ sau khi sanh, phần thai phải chịu, hết sạch chẳng c̣n, cho đến khi thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, chẳng thọ thai nữa. Nếu có chúng sanh có nhiều căn lành, kế tiện được đến tại cơi nước con, sanh trong hoa sen, hoặc có chúng sanh căn lành mỏng ít, cần phải vào thai hoặc chịu thân nữ để vào nước con rồi sau mới được hết sạch phần thai, mọi chúng sanh đó, một hướng đều được vui sướng vi diệu. Gió nhẹ thổi qua cây Kim đa la, phóng ra những tiếng như là: khổ, không, vô ngă, chơn thường, b́nh đẳng. Ai nghe tiếng đó đều được quang minh Tam muội, nhờ sức Tam muội được Hư Không Định Thậm Thâm Tam Muội. Thế giới chẳng có tướng, tên `dâm dục`.

Bạch Thế tôn! Con ngồi dưới cây Bồ đề, trong khoảng một niệm thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, nguyện cơi nước con không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng, ngày đêm sai khác, chỉ trừ các hoa nở ra, hiệp lại. Con thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, sẽ dùng ánh sáng chiếu khắp Tam Thiên Đại Thiên thế giới, nhớ sức ánh sáng khiến các chúng sanh đều được Thiên nhăn, nhờ có Thiên nhăn được thấy 10 phương vô lượng vô biên thế giới chư Phật, ở khắp mọi nơi chư Phật Thế Tôn, hiện tại nói pháp. Bạch Thế Tôn! Con thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, nói về chánh pháp, khiến âm thanh ấy đầy khắp Tam thiên Đại thiên Thế giới, chúng sanh nào nghe được Niệm Phật Tam Muội, chúng sanh hoặc có đi, ở, quay về, tuỳ phương hướng đến, thường được thấy con. Nếu nơi các pháp có chỗ nghi trệ, th́ nhờ thấy con liền được dứt nghi. Bạch Thế Tôn! Con thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, 10 phương vô lượng vô biên a tăng kỳ thế giới chư Phật, có bao nhiêu chúng sanh ở khắp mọi nơi nếu học thanh văn, hay học duyên giác, hoặc học đại thừa mà nghe tên con th́ lúc mệnh chung thiết đáng sanh về thế giới con ở, nếu là thanh văn nghe đến pháp con th́ được tám giải thoát quả A la hán, người học đại thừa, nghe đến pháp con th́ được pháp nhẫn sâu đà la ni môn, cùng các Tam muội, chẳng thối chuyển nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, được vô lượng thanh văn để làm quyến thuộc, số đó vô biên không thể tính đếm, chỉ trừ chư Phật. Bạch Thế Tôn! Khi con thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tuỳ chỗ con đến, nơi con hạ chân liền có ngh́n hoa, hoa sen vàng hiện hoa ấy vi diệu, có ánh sáng lớn. Con sẽ khiến hoa đến nơi không Phật khen ngợi tên con. Nếu có chúng sanh ở trong hoa đó được nghe khen ngợi tên con rồi sinh hoan hỷ, trồng các căn lành, muốn sanh nước con, nguyện khi mệnh chung, thảy đều sanh đến, đại chúng nước con là người xuất gia, xa ĺa cong nịnh, ghen ghét, gian dối, không lầm đục, làm sa môn, họ tôn trọng pháp, nơi các chỗ tu lợi dưỡng chẳng danh xưng, tâm không quư trọng nặng nề, thường, lạc, khổ, không, vô thường, vô ngă, thường siêng tinh tấn, quư pháp, trọng tăng. Nếu các Bồ tát được bất thối chuyển, thảy đều khiến được Tựu Vũ Tam Muội, nhờ sức Tam muội, nên v́ chúng sanh nói Bát nhă ba la mật, khiến ĺa sanh tử cho đến thành Phật, thời kỳ trung gian chỗ khá nói pháp, chẳng quên chẳng mất. Bạch Thế Tôn! Con thành Phật rồi, thọ mệnh ở đời một vạn đại kiếp. Sau khi niết bàn, Chánh pháp trụ thế trọn một ngàn kiếp. Lúc đó Như Lai khen A Súc rằng:Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Nay ông đă giữ thế giới thanh tịnh. Trong đời mai sau quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp, qua hai hằng sa a tăng kỳ kiếp, phương Đông các đây 10 thế giới Phật, có một thế giới tên là Diệu Lạc, cơi nước trang nghiêm hết thảy đầy đủ, như ông đă nguyện. Trong cơi nước đó, ông sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là A Súc Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thê, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Bấy giờ A Súc Bồ Tát bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt được mục đích giải thoát th́ tất cả thế gian, âc Ấm, Giới, Nhập, Thu Nhiếp chúng sanh đều được tâm từ, không tướng thù hại cùng các dơ đục, thân tâm khoái lạc, như các Bồ tát vào hàng thập trụ, đang ngồi kiết già trên các hoa sen chánh thọ Tam muội, nhờ sức Tam muội, tâm niệm trong sạch, các chúng sanh ấy, thân tâm khoái lạc lại cũng như vậy. Nay con đầu mặt kính lạy chân Phật, tức th́ tất cả vô lượng chúng sanh thân tâm liền được hết sức vui sướng, nơi đất cũng có ánh sáng màu vàng. Bấy giờ Bửu Tạng Như Lai v́ A Súc Bồ tát mà nói kệ rằng:

Tôn ư vừa khởi

Ông nay đă khiến

Tất cả chúng sanh

Tâm không hờn giận

Lại nơi chúng sanh

Sanh đại bi tâm

Hai tay đều được

Ngh́n bánh xe phước

Ư tịnh mai sau

Làm thầy Trời, Người

Thiện nam tử! Lúc A Súc Bồ tát nghe kệ đó rồi, ḷng rất vui mừng, liền chấp hai tay lạy trước chân Phật, rời Phật chẳng xa, lại ngồi nghe pháp.

 

Kinh Bi-Hoa hết quyển thứ tư

 

*           *

*

 

 

 

 

QUYỂN THỨ NĂM

Bắc- Lương Thiên- Trúc Tam Tạng Đàm Vô Sấm dịch ra Hoa Văn.

 

PHẨM IV

THỌ KÝ CHƯ VỊ BỒ TÁT

CHI III

 

Phật phán với Tịch Ư Bồ tát rằng: Thiện nam tử! Lúc đó Phạm Chí Bửu Hải lại thưa với vương tử thứ 10 là Nhuyễn Tâm cho đến khi vương tử phát tâm lại cũng như vậy. Sở nguyện của vương tử đều giống như sở nguyện của A Súc Bồ tát. Vương tử bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện của con thành tựu đạt được mục đích giải thoát, xin khiến tất cả chúng sanh phải được suy tư cảnh giới chư Phật, trong tay tự nhiên sanh hương Chiên đàn, hương Ưu đà bà la, dùng các hương ấy cúng dường chư Phật.

Khi ấy Bửu Tạng Như Lai khen vương tử rằng: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Sở nguyện của ông thật là đặc biệt, lạ lùng! Ông nguyện cho chúng sanh trong tay tự nhiên có hương Chiên đàn, hương Ưu đà bà la phải được suy tư cảnh giới chư Phật, hệ niệm thanh tịnh, v́ vậy nay đổi tên ông, hiệu là Hương Thủ, Phật phán với Hương Thủ rằng: Thiện nam tử! Trong đời mai sau qua một hằng sa a tăng kỳ kiếp, đến giữa phần sau của đệ nhị hằng sa a tăng kỳ kiếp, sau khi A Súc Như Lai đă nhập niết bàn, chánh pháp diệt hết, th́ 7 ngày sau ông sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề trong thời gian đó. Thế giới Phật ấy tên là Diệu Lạc, Phật hiệu Kim Hoa Như Lai ,Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

Bấy giờ Hương Thủ Bồ tát lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt được mục đích giải thoát th́ xin cho khi con lạy Phật, chung quanh vường Diêm Phù này sẽ mưa hoa Chiêm Bắc. Thiện nam tử! lúc Hương Thủ Bồ tát lạy trước Phật Bửu Tạng, đầu mặt vừa sát đất th́ trong vườn Diêm Phù, như lời ông đă nói, khắp chung quanh đều mưa toàn những hoa Chiêm Bặc. Khi đó Bửu Tạng Như Lai v́ Hương Thủ Bồ tát mà nói kệ rằng:

Diệu công đức ông

Khéo khiến khởi ư

Như ḷng nguyện cầu

Mưa hoa Chiêm Bặc

Độ thoát vô lượng

Tất cả chúng sanh

Bày các nẻo lành

Khiến đến vô uư

Thiện nam tử! Lúc Hương Thủ Bồ tát nghe kệ ấy rồi, ḷng rất vui mừng, liền chấp hai tay lạy trước chân Phật, rời Phật chẳng xa, lại ngồi nghe pháp.

Thiện nam tử! Khi ấy Phạm Chí Bửu Hải lại thưa với Vương tử thứ 11 là Măng Già Nô… cho đến lúc vương tử phát tâm lại cũng như vậy. Sở nguyện của vương tử cũng như sở nguyện của Hương Thủ Bồ tát. Lúc ấy vương tử Sư Tử lấy chuỗi châu báu cúng dường Bửu Tạng Như Lai, Phật bèn khen vương tử rằng: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Nay ông dùng chuỗi châu báu cúng dường, v́ vậy hiệu ông là Bửu Tướng, Phật phán với Bửu Tướng rằng: trong đời mai sau, qua một hằng sa a tăng kỳ kiếp, tại thế giới Diệu Lạc, sau khi Kim Hoa Như Lai nhập niết bàn rồi, qua ba trung kiếp, chánh pháp diệt hết, thế giới Diệu Lạc đổi tên là Nguyệt Thắng. Ông ở cơi đó sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề hiệu là Long Tự Tại Tôn Âm Vương Như Lai ,Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Thế giới Phật ấy được trang nghiêm như thế giới Diệu Lạc, chẳng có sai khác. Khi đó Bửu Tướng Bồ Tát bạch trước Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt được mục đích giải thoát th́ nay khi đầu mặt con lạy ở nơi chân Phật, xin khiến cho tất cả chúng sanh được niệm như vầy, giống như Bồ tát trụ tam muội Vô siểm, không nịnh hót, tất cả chúng sanh đều được lợi íc lớn, sanh tâm đại bi, phát tâm bồ đề. Thiện nam tử! Lúc Bửu Tướng Bồ tát lạy trước Phật Bửu Tạng, đầu mặt vừa sát đất th́ tất cả chúng sanh đều được tam muội Vô Siểm, được lợi ích lớn, sanh tâm đại bi, phát tâm Bồ đề. Khi đó Bửu Tạng Như Lai v́ Bửu Tướng Bồ Tát mà nói kệ rằng:

Ư lành siêng dấy

Đă ở trước ta

V́ các chúng sanh

Khéo phát thệ lành

Làm lợi ích lớn

Vô lượng chúng sanh

Khiến tâm trong sạch

Vậy nên đời sau

Sẽ được làm Phật

Trời, Người quư trọng

Thiện nam tử! Lúc Bửu Tướng Bồ tát nghe kệ ấy rồi, ḷng rất vui mừng, liền chấp hai tay lạy trước chân Phật, rời Phật chẳng xa, lại ngồi nghe pháp.

Khi đó vương tử Ma Xà Bà, cùng 500 vương tử khác đồng phát lời nguyện như vầy: Nguyện được Phật độ công đức trang nghiêm, thảy đều như tịnh độ của Hư Không Ấn Bồ tát Ma ha tát. Lúc ấy Bửu Tạng Như Lai v́ mỗi một người thọ kư cho họ được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hết thảy đều cũng một lúc thành đạo Vô Thượng ở các nước ḿnh, như Hư Không Ấn Bồ Tát Ma ha tát. Kế đó 400 vương tử đều phát lời nguyện như vầy: Nguyện giữ Phật độ trang nghiêm diệu tịnh, thảy đều như Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh Bồ tát Ma ha tát. Lúc ấy Bửu Tạng Như Lai cũng v́ mỗi một thọ kư cho họ được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hết thảy đều cùng một lúc thành đạo Vô thượng ở các nước khác nhau, như Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh Bồ tát Ma ha tát. Kế đó 89 vương tử lại phát lời nguyện như vầy: Nguyện giữ Phật độ trang nghiêm như Phật độ của Phổ Hiền Bồ Tát Ma ha tat, chẳng có sai khác. Lúc đó 8 vạn 4 ngàn quỹ vương, ai nấy đều phát nguyện thù thắng khác nhau, người người đều tự giữ Phật độ trang nghiêm, thượng diệu. Bửu Tạng Như Lai thọ kư cho hết thảy được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hết thảy trong đời vị lai, nơi các quốc độ, trong cùng một lúc họ sẽ thành đạo Vô Thượng. Thiện nam tử! Phạm Chí Bửu Hải có 80 người con, đều là anh em của Bửu Tạng Như Lai. Người con đầu tên là Hải Địa Tôn. Thiện nam tử! Lúc ấy Phạm Chí Bửu Hải nói với người con đầu rằng: Nay con giữ Phật độ trang nghiêm thanh tịnh ra làm sao? Hải Địa Tôn đáp: Chỉ nguyện tôn giả phát nguyện trước. Người cha nói: Sở nguyện của ta sẽ nói sau cùng. Người con lại đáp: Nay con nên nguyện giữ Phật độ thanh tịnh hay chẳng thanh tịnh? Người cha trả lời rằng: Nếu có Bồ tát thành tựu Đại bi người sẽ giữ thế giới chẳng thanh tịnh. V́ sao vậy? V́ muốn khéo điều phục tâm cấu nhiễm của chúng sanh, việc đó con đă tự biết. Khi đó Hải Địa Tôn đến chỗ Bửu Tạng Như Lai bạch trước Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Con nguyện được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề vào thời mà thọ mệnh của loài người lên đến 8 vạn tuổi, như thời kỳ của Phật hiện tại, như thế con mới thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nay con lại nguyện cho chúng sanh ở quốc độ con dâm mỏng, si ít, chán ĺa thân tâm, sợ hải sanh tử, thấy nỗi lo qua, đến chỗ con ở, xuất gia học đạo. Lúc đó con sẽ v́ họ nói pháp ba thừa. Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu, được lợi cho ḿnh, xin nguyện Thế Tôn thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cho con. Khi ấy Bửu Tạng Như Lai phán với Hải Địa Tôn rằng: Thiện nam tử! Trong đời mai sau, quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp vào đệ nhị hằng sa a tăng kỳ kiếp th́ có một kiếp tên là Biến Phu Ưu Bát La Hoa, thế giới Phật ấy tên là Nguyện ái. Lúc ấy nhơn dân thọ 8 vạn tuổi. Ông ở cơi đó thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Bửu Sơn Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Hải Địa Tôn lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt được mục đích giải thoát xin cho chung quanh vườn Diêm Phù này sẽ mưa ngọc thiệt màu đỏ, tất cả cây cối đều tự nhiên phát ra kỹ nhạc vi diệu. Thiện nam tử! Khi Hải Địa Tôn đầu mặt lạy trước Phật Bửu Tạng th́ ngay lúc ấy, xung quanh vườn kia, mưa xuống rặc những ngọc thiệt màu đỏ, tất cả cây cối đều phát ra các thứ kỹ nhạc vi diệu. Lúc đó Bửu Tạng Như Lai bèn v́ Ma Nạp mà nói kệ rằng:

Người khởi sức lớn

Vô lượng trí tạng

Thương xót chúng sanh

Làm lợi ích lớn

Sở nguyện thanh tịnh

Nay được thành tựu

Sẽ v́ chúng sanh

Làm thầy Trời, Người

Thiện nam tử! Lúc Hải Địa Tôn nghe kệ ấy rồi, ḷng rất vui mừng, liền chấp hai tay lạy trước chân Phật, rời Phật không xa lại ngồi nghe pháp.

Người con thứ hai của Phạm Chí tên là Tam Bà Bà bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nay sở nguyện con cũng như sở nguyện của Hải Địa Tôn. Bửu Tạng Như Lai bèn phán với Tam Bà Bà rằng: Đời vị lai, trong kiếp Ưu Bát La Hoa Tại Thế Giới Nguyện Ái, thọ mạng người đang tăng lên 80 ức tuổi. Ông trong thời đó sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Nhật Hoa Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Người con thứ ba cũng lại được thế giới như vậy, nhơn dân thọ 2 ngàn tuổi th́ ông thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Hoả Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

Người thứ 4 thành Phật hiệu Tu Mạn Đà.

Người thứ 5 thành Phật hiệu Tŕ Giới Vương.

Người thứ 6 thành Phật hiệu Thiện Tŕ Mục.

Người thứ 7 thành Phật hiệu Phạm Tăng Ích.

Người thứ 8 thành Phật hiệu Diêm Phù Ảnh

Người thứ 9 thành Phật hiệu Phú Lâu Na

Người thứ 10 thành Phật hiệu Thắng Diệu

Người thứ 11 thành Phật hiệu Bửu Sơn

Người thứ 12 thành Phật hiệu Hải Tàng

Người thứ 13 thành Phật hiệu Na La Din

Người thứ 14 thành Phật hiệu Thi Khí

Người thứ 15 thành Phật hiệu Nam Mơ Ni

Người thứ 16 thành Phật hiệu Giác Tôn

Người thứ 17 thành Phật hiệu Kiều Trần Như

Người thứ 18 thành Phật hiệu Sư Tử Lực

Người thứ 19 thành Phật hiệu Trí Tàng

Người thứ 20 thành Phật hiệu m Thanh

Người thứ 21 thành Phật hiệu Tôn Thắng Phật

Người thứ 22 thành Phật hiệu Ly Thế Tôn Phật

Người thứ 23 thành Phật hiệu Lợi Ích

Người thứ 24 thành Phật hiệu Trí Quang Minh Phật

Người thứ 25 thành Phật hiệu Sư Tử Tôn

Người thứ 26 thành Phật hiệu Tịch Tĩnh Trí Phật

Người thứ 27 thành Phật hiệu Nan Đà Phật

Người thứ 28 thành Phật hiệu Ni Câu La Vương Phật

Người thứ 29 thành Phật hiệu Kim Sắc Mục Phật

Người thứ 30 thành Phật hiệu Đắc Tự Tại Phật

Người thứ 31 thành Phật Hiệu Lạc Phật

Người thứ 32 thành Phật hiệu Bửu Thắng Phật

Người thứ 33 thành Phật hiệu Thiện Mục Phật

Người thứ 34 thành Phật hiệu Phạm Thiện Lạc Phật

Người thứ 35 thành Phật hiệu Phạm Tiên Phật

Người thứ 36 thành Phật hiệu Phạm Ân Phật

Người thứ 37 thành Phật hiệu Pháp Nguyệt Phật

Người thứ 38 thành Phật hiệu Thị Hiện Nghĩa Phật

Người thứ 39 thành Phật hiệu Xưng Lạc Phật

Người thứ 40 thành Phật hiệu Tăng Ích Phật

Người thứ 41 thành Phật hiệu Đoan Nghiêm Phật

Người thứ 42 thành Phật hiệu Thiện Hương Phật

Người thứ 43 thành Phật hiệu Nhăn Thắng Phật

Người thứ 44 thành Phật hiệu Thiện Quán Phật

Người thứ 45 thành Phật hiệu Nhiếp Thủ Nghĩa Phật

Người thứ 46 thành Phật hiệu Thiện Ư Nguyện Phật

Người thứ 47 thành Phật hiệu Thắng Tuệ Phật

Người thứ 48 thành Phật hiệu Kim Tràng Phật

Người thứ 49 thành Phật hiệu Thiện Mục Phật

Người thứ 50 thành Phật hiệu Thiên Minh Phật

Người thứ 51 thành Phật hiệu Tịnh Phạn Phật

Người thứ 52 thành Phật hiệu Thiện Kiến Phật

Người thứ 53 thành Phật hiệu Tỳ Lưu Ly Tràng Phật

Người thứ 54 thành Phật hiệu Tỳ Lâu Bác Xoa Phật

Người thứ 55 thành Phật hiệu Phạm Âm Phật

Người thứ 56 thành Phật hiệu Công Đức Thành Tựu Phật

Người thứ 57 thành Phật hiệu Hữu Công Đức Tịnh Phật

Người thứ 58 thành Phật hiệu Bửu Quang Minh Phật

Người thứ 59 thành Phật hiệu Ma Ni Châu Phật

Người thứ 60 thành Phật hiệu Thích Già Văn Ni Phật

Người thứ 61 thành Phật hiệu Âm Tôn Vương Phật

Người thứ 62 thành Phật hiệu Trí Hoà Hiệp Phật

Người thứ 63 thành Phật hiệu Thắng Tôn Phật

Người thứ 64 thành Phật hiệu Thành Hoa Phật

Người thứ 65 thành Phật hiệu Thiện Hoa Phật

Người thứ 66 thành Phật hiệu Vô Nộ Phật

Người thứ 67 thành Phật hiệu Nhật Tàng Phật

Người thứ 68 thành Phật hiệu Tôn Lạc Phật

Người thứ 69 thành Phật hiệu Nhật Nguyệt Phật

Người thứ 70 thành Phật hiệu Long Đắc Phật

Người thứ 71 thành Phật hiệu Kim Cang Quang Minh Phật

Người thứ 72 thành Phật hiệu Xưng Vương Phật

Người thứ 73 thành Phật hiệu Thường Quang Minh Phật

Người thứ 74 thành Phật hiệu Tướng Quang Minh Phật

Người thứ 75 thành Phật hiệu San Ni Luân Phật

Người thứ 76 thành Phật hiệu Trí Thành Tựu Phật

Người thứ 77 thành Phật hiệu Âm Vương Phật

Người thứ 78 thành Phật hiệu Bà La Vương Na La Diên Tàng Phật

Người thứ 79 thành Phật hiệu Hoả Tàng Phật

Thiện nam tử! Lúc ấy người con út của Phạm Chí tên là Ly Bố Năo ở trước Phật bạch rằng: Bạch Thế Tôn! Vậy là 79 người Phật, hiện tiền đă được thọ kư thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề trong kiếp Biến Phu Ưu Bát La Hoa, tại thế giới Nguyện Ái, lúc tuổi thọ của loài người đang tăng dần. Bạch Thế Tôn! Nay con ở trước Phật phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nguyện thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề trong khoảng giữa của phần sau kiếp Ưu Bát La Hoa, nguyện thọ mệnh của con cũng sẽ được như thọ mệnh của 79 vị Phật trước, số chúng sanh được độ cũng sẽ bằng số chúng sanh của 79 vị Phật độ kia, con cũng sẽ nói pháp tam thừa như 79 Phật nói pháp tam thừa, số chúng đệ tử thanh văn nhiều ít cũng sẽ được lại như vậy, 79 vị Phật ở kiếp Ưu Bát La Hoa có thể giáo hoá vô lượng chúng sanh. Phỏng ai c̣n yêu thân người mà chưa được độ, th́ thời mạt kiếp, sau khi thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề ắt con sẽ giáo hoá họ khiến trụ tam thừa. Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt được mục đích giải thoát chỉ nguyện Thế Tôn thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cho con.

Thiện nam tử! Lúc đó Đức Phật Bửu Tạng bèn khen Lư Bố Năo rằng: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Trong đời vị lai, quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp, vào đệ nhị hằng sa a tăng kỳ kiếp, khoảng giữa phần sau của kiếp Ưu Bát La Hoa, ông sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Vô Cấu Đăng Xuất Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Thọ mệnh của 79 vị Phật đều được nửa kiếp, thọ mệnh của ông cũng được nửa kiếp. Sở nguyện của ông ắt được thành tựu như trước đă nói. Khi ấy Ly Bố Năo Bồ tát lại bạch phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt được mục đích giải thoát th́ nay, khi con đầu mặt kính lạy trước phật, xin khiến cho khắp chung quanh thế giới này đều mưa xuống những hương vi điệu của Ưu Bát La Hoa. Nếu có chúng sanh nghe mùi hương ấy th́ thân tứ đại thanh tịnh không dơ, điều hoà thích thuận, tất cả bệnh khổ thảy được trị lành. Thiện nam tử! Lúc Ly Bố Năo Bồ tát nói lời ấy rồi, đầu mặt kính lạy chân Phật th́ khắp thế giới Phật ấy đều mưa xuống những hương vi diệu của Ưu Bát La Hoa. Chúng sanh nghe mùi hương ấy th́ thân tứ đại thanh tịnh không dơ, điều hoà thích thuận, tất cả bệnh khổ điều được trị lành. Bửu Tạng Như Lai v́ Bồ tát đó mà nói kệ rằng:

Ḷng lành từ bi

Đạo sư khá đấy

Chư Phật Thế Tôn

Ắt khen ngợi người

Chắc chắn dứt được

Các dây phiền năo

Mai sau trọn lành

Kho trí tuệ tịnh

Thiện nam tử! Lúc Lư Bố Năo Bồ tát nghe lời kệ ấy rồi, ḷng rất vui mừng, liền chấp hai tay lạy dưới chân Phật, rời Phật không xa, lại ngồi nghe pháp.

Thiện nam tử! Thời ấy Phạm Chí Bửu Hải có 3 ức đệ tử ở ngoài cửa vườn, ngồi chung một chỗ, dạy cho chúng sanh nhận ba điều quy y. Khiến phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Thiện nam tử! Lúc đó Phạm Chí đến khuyên các đệ tử rằng: nay các người nên phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, trước mặt Đức Phật nguyện giữ giới như ḷng sở cầu, khá tự nói ra, trong số ba ức người đó, có một người tên là Thọ Đề nói như vầy: Thưa Tôn Giả! Sạo gọi là bồ đề? Sao gọi là buộc được niệm nơi bồ đề? Thấy người ấy bèn trả lời rằng: Ma nạp, như điều ông hỏi, bồ đề tức là chỗ tu tập của Bồ tát, đó là bốn kho vô tận. Những ǵ là bốn? Đó là kho phước đức vô tận, kho trí vô tận, , kho tuệ vô tận, kho Phật pháp hoà hiệp vô tận. Thiện nam tử! Bốn chỗ đó tên là bồ đề. Ma nạp! Như lời Phật dạy, pháp trợ bồ đề là pháp môn nhóm giữ giúp cho thanh tịnh độ thoát sanh tử. Thiện nam tử! Xả bỏ của cải là pháp trợ bồ đề, v́ để điều phục chúng sanh, giữ giới là pháp trợ Bồ đề, v́ tuỳ chỗ nguyện cầu để được thành tựu, nhẫn nhục là pháp trợ Bồ đề. V́ để có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, tinh tấn là pháp trợ Bồ đề, v́ để cho tất cả mọi sự đều được đầy đủ, thiền định là pháp trợ bồ đề, v́ để cho tâm ḿnh sẽ được khéo điều phục, trí tuệ là pháp trợ bồ đề, v́ để biết tất cả phiền năo, đa văn là pháp trợ bồ đề, v́ được biện tài vô ngại, phước đức là pháp trợ bồ đề, v́ là chỗ tu của tất cả chúng sanh, trí là pháp trợ bồ đề, v́ thành tựu trí vô ngại, tịch diệt là pháp trợ bồ đề, v́ thành tựu được thiện tâm mềm nhuyễn, suy tư là pháp trợ bồ đề, v́ thành tựu được tâm vô ngại, tâm bi là pháp trợ bồ đề, v́ giáo hoá chúng sanh mà không thấy chán, đủ, tâm hỷ là pháp trợ bồ đề, v́ sanh yên vui trong chánh pháp, tâm xả là pháp trợ bồ đề, v́ thành tựu được việc dứt trừ yêu, ghét, nghe pháp là pháp trợ bồ đề, v́ thành tựu được việc diệt trừ ngũ cái (ngũ cái là năm điều ngăn che chơn tâm) xuất thế là pháp trợ bồ đề, v́ thành tựu được việc từ bỏ tất cả thế gian, a lan nhă ( a lan nhă có 3 nơi tuỳ theo căn cứ đó là: giữa đời, chỗ đông người, dưới gốc cây dọc đường, trong hang động, nơi xa vắng) là pháp trợ bồ đề, v́ làm cho điều ác diệt mất chẳng sanh, làm cho căn lành ngày càng tăng trưởng, niệm là pháp trợ bồ đề, v́ thành tựu được việc hộ tŕ chánh pháp, ư là pháp trợ bồ đề, v́ thành tựu được việc phân biệt các pháp, tŕ giữ lại là pháp trợ bồ đề, v́ thành tựu được các việc tưởng tượng, nghị luận, thức tỉnh, niệm xứ là pháp trợ bồ đề, v́ thành tựu được việc phân biệt thân, thọ, tâm, pháp tứ niệm xứ (thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngă), chánh cần là pháp trợ bồ đề, v́ nhắm xa ĺa tất cả các pháp ác, , tu hành tất cả các pháp lành làm cho thêm rộng, như ư tức là pháp trợ bồ đề, v́ làm cho thân tâm được nhẹ nhàng, lanh lợi, các căn là pháp trợ bồ đề, v́ nhiếp giữ các căn thành tựu, các lực là pháp trợ bồ đề, v́ phá trừ tất cả phiền năo, giác là pháp trợ bồ đề, v́ tỉnh biết pháp báu, lục hoà là pháp trợ bồ đề, v́ điều phục chúng sanh, khiến cho thanh tịnh. Ma nạp! Đó là những pháp môn dùng để nhiếp giữ, giúp cho tâm thanh tịnh độ thoát sanh tử.

Ma Nạp Thọ Đề lại hỏi: Thưa Tôn Giả! Như lời Phật dạy: Quả báo của bố thí là được giàu to, có quyến thuộc nhiều, hộ tŕ giới cấm th́ được sanh lên cơi trời, nghe nhiều hiểu rộng th́ được trí tuệ lớn. Lại như Phật dạy: Pháp suy tư độ được sanh tử. Các điều đó th́ sao? Vị Thầy bèn đáp: Ma Nạp! Nếu vui sanh tử mà làm việc bố thí th́ sẽ được giàu to. Ma Nạp! Nếu kẻ thiện nam, người thiện nữ hướng tâm bồ đề th́ làm việc bố thí là cốt để điều phục tâm ḿnh, ǵn giữ giới cấm cho tâm vắng lặng, cầu được nghe nhiều để cho tâm thanh tịnh, không có t́nh yêu làm vẫn đục, suy tư tu đạo v́ ḷng đại bi, c̣n bao nhiêu pháp khác đều là phương tiện của trí tuệ giúp thành tựu việc mong cầu. Ma Nạp! Gọi là pháp trợ bồ đề, v́ tu hành như vậy th́ buộc được tâm niệm để đạt bồ đề. Ma Nạp! Như thế nay nên ham muốn đạo bồ đề là đạo thanh tịnh, nên chuyên tâm làm nguyện là đạo không dơ đục, v́ tâm thanh tịnh là đạo ngay thẳng không có cong vạy dua nịnh, là đạo yên ổn, kín đáo, v́ dứt trừ phiền năo, cho đến đạt thành niết bàn. Các ngươi nay nên phát thiện nguyện lớn, giữ Phật độ trang nghiêm, tịnh hay bất tịnh, tuỳ ư sở cầu. Thiện nam tử! Lúc ấy Thọ Đề Ma Nạp đến trước Phật Bửu Tạng, gối phải sát đất, chấp tay quỳ lâu, rồi bạch Phật rằng: bạch Thế Tôn! Nay con phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, giữ thế giới bất tịnh có bao nhiêu chúng sanh đều ít tham dâm, sân nhuế, ngu si, chẳng phạm điều phi pháp, tâm không có t́nh yêu làm vẫn đục, không có thù oán, cướp hại ĺa bỏ ḷng keo kiết ganh ghét, rời tâm tà kiến, an trụ chánh kiến, ĺa tâm bất thiện, cầu các pháp lành, rời ba ác tâm, cầu ba thiện đạo, thành tựu căn lành nơi ba cơi phước, tu tập tinh cần trong pháp ba thừa, lúc đó con mới thành đạo Vô thượng. Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt được mục đích giải thoát xin khiến hai tay con tự nhiên hiện ra h́nh tượng con rồng màu trắng. Người nói vậy rồi, nhờ thần lực Phật, trong cả hai tay liền xuất tượng rồng, toàn một màu trắng: Bảy xứ đến đó, thấy việc như vậy bèn nói: Tượng rồng! Nay các ngươi hăy bay vào hư không nhưng chớ đi xa làm mưa khắp đầy nước thơm 8 đức, khiến cho tất cả chúng sanh cơi này đều được giác ngộ. Nếu có chúng sanh, ngộ được nhất đế, nghe mùi thơm kia, ắt dứt 5 cái ngăn che chơn tánh đó là: Dâm dục, sân hận, thuỵ miên (ngủ), trạo hối ( tiếc nuối lay động), nghi hoặc. Lời ấy vừa dứt th́ hai tượng rồng, bay vào hư không, lượn ṿng rất nhanh giống như tên bay của người lực sĩ bắn tên rất giỏi. Hai tượng rồng ấy làm hết các việc được thành tựu rồi, lại bay trở về ở trước Ma Nạp. Thọ Đề thấy việc như vậy ḷng rất vui mừng. Thiện nam tử! Lúc đó Bửu Tạng Như Lai bèn phán với Ma Nạp rằng: Thiện nam tử! Trong thời vị lai, quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp, vào đệ nhị hằng sa a tăng kỳ kiếp, bấy giờ có kiếp tên là Âm Quang Minh. Thế giới Phật ấy đổi tên là Hoà Hiệp Âm Quang Minh. Ông trong cơi đó thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Bửu Cái Tăng Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Thiện nam tử! Lúc đó Thọ Đề đầu mặt sát đất lạy trước chân Phật. Bửu Tạng Như Lai liền v́ Thọ Đề mà nói kệ rằng:

Tâm ông ĺa bụi

Lại khởi thanh tịnh

Nay được thọ kư

Nay khiến vô lượng

Ức số chúng sanh

Vào đệ nhất đạo

Trong đời mai sau

Điều ngự Trời, Người

Thiện nam tử! Khi Thọ Đề nghe kệ ấy rồi, ḷng rất vui mừng, liền chấp hai tay lạy trước chân Phật, rời Phật không xa, lại ngồi nghe pháp. Ba ức đệ tử, trừ một ngàn người, cọn lại bao nhiêu thảy đều đồng thanh phát nguyện, trong thế giới ấy, thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Lúc đó Bửu Tạng Như Lai bèn v́ mỗi một thọ kư cho họ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cho đến Tỳ Bà Thi, Thi Khí, Tỳ Thi Sa Bà thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề sau rốt. C̣n một ngàn người kia đều là những kẻ đọc tụng Tỳ Đà ngoại điền. Trong số đó, người đọc tôn ngưỡng hơn cả tên là Bà Do Tỷ Nữu, bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nay sở nguyện con là sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề trong đời ác ngũ trược, sẽ v́ chúng sanh tham muốn, giận hờn, ngu si dày nặng mà nói chánh pháp. Trong số một ngàn người ấy, lại có một người tên tự là Hoả Man nói rằng: Tôn Giả! Bà Do Tỷ Nữu thấy ư nghĩa như thế nào mà nguyện thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề trong đời ác ngũ trược? Bà Do Tỷ Nữu đáp: ấy là v́ Bồ tát muốn thành tựu đại bi, nên nguyện A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nơi đời ác ngũ trược, bởi lúc bấy giờ chúng sanh không người cứu giúp, không có các niệm lành, tâm họ thường bị phiền năo, quấy loạn, tà kiến xâm nhập, cho nên tại đó mà thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề th́ rất được lợi ích cho vô lượng chúng sanh, khéo v́ họ mà làm ngọn đèn sáng, làm nhà che chở cho họ dừng lại nương nhờ, lại c̣n đưa họ qua khỏi biển lớn sanh tử, dạy họ an trụ trong chánh kiến, khiến ở niết bàn, uống nước cam lồ vậy là Đại Bồ tát muốn thị hiện ḷng đại bi mà nguyện giữ đời ác ngũ trược như thế. Thiện nam tử! Bấy giờ Bửu Tạng Như Lai mới phán với Bà Do Tỷ Nửu rằng: Thiện nam tử! Trong đời vị lai, quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp, vào đệ nhị hằng sa a tăng kỳ kiếp, khoảng giữa phần sau tiếp đó th́ ở phương Đông, cách đây một số Phật độ bằng số bụi nhỏ trong một thế giới Phật có thế giới tên là Ca Sa Tràng. Ông ở cơi ấy sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Kim Sơn Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn. Lúc đó Bà Do Tỷ Nửu lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt được mục đích giải thoát th́ nay con đầu mặt kính lạy ở chân Phật, xin nguyện Như Lai dùng hai chân có trăm phước trang nghiêm của Phật đặt trên đỉnh đầu con. Thiện nam tử! Bà Do Tỷ Nửu nói lời ấy rồi liền kính lạy trước chân Phật, tức th́ hai chân trăm phước của Như Lai đặt trên đầu ông, lại dùng kệ sau đây mà khen ngợi ông:

Tâm người đại bi

Nay lại khá đấy

Trí tuệ lanh sáng

Hành đạo Bồ tát

V́ đích bồ đề

Dứt trừ vững chắc

Các dây phiền năo

Mai sau thành Phật

Được lợi ích lớn

Vô lượng chúng sanh

Thiện nam tử! Lúc Bà Do Tỷ Nửu nghe kệ đó rồi, ḷng rất vui mừng, liến chấp hai tay lạy trước chân Phật, rời Phật chẳng xa, lại ngồi nghe pháp.

Thiện nam tử! Khi đó Hoả Man Ma Nạp ở trước Phật Bửu Tạng, gối phải sát đất, chấp tay quỳ lâu, rồi bạch Phật rằng: nay sở nguyện con, ở thế giới này phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nếu có chúng sanh, mang đủ tam độc, chẳng hay chuyên nhất trụ ở pháp thiện, tâm chẳng được lành, thọ 4 vạn tuổi, th́ con lúc đó sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bấy giờ Bửu Tạng Như Lai phán với Hoả Man rằng: Thiện nam tử! Trong thời vị lai quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp, vào đệ nhị hằng sa a tăng kỳ kiếp, khoảng giữa phần sau, thế giới Phật đó sẽ có tên là Ta Bà. V́ nhân duyên ǵ tên là Ta Bà? Bời các chúng sanh nhận chịu tam độc, cùng các phiền năo, cho nên mới đặt tên là Ta Bà là độ chịu nhịn. Bấy giờ có Đại kiếp tên là Thiện Hiền. V́ nhân duyên ǵ tên là Thiện Hiền? V́ trong đại kiếp có nhiều chúng sanh ham muốn, hờn giận, ngu si, kiêu ngạo, có một ngàn đấng Thế Tôn thành tựu đại bi xuất hiện nơi đời. Thiện nam tử! Khoảng đầu Hiền kiếp, người thọ 4 vạn tuổi. Trong số một ngàn Phật ấy th́ vị bắt đầu thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề hiệu là Câu Lưu Tôn Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, v́ các chúng sanh nói pháp ba thừa, khiến vô lượng chúng sanh được giải thoát sanh tử, trụ ở niết bàn. Thiện nam tử! Khi ấy Hoả Man Ma Nạp lạy trước chân Phật, rồi lui về một bên, lại ngồi nghe pháp.

Thiện nam tử! Bấy giờ, đệ nhị Ma Nạp tự là Hư Không, ngồi ở trước Phật, bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Trong đời mai sau, tại cơi Câu Lưu Tôn Như Lai, lúc người thọ 3 vạn tuổi, con sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Lúc ấy Thế Tôn phán với Hư Không Ma Nạp rằng: Thiện nam tử! Trong đời vị lai quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp, vào đệ nhị  hằng sa a tăng kỳ kiếp, phần sau vào giữa Hiền kiếp, tại cơi Ta Bà, sau Câu Lưu Tôn Phật, người thọ 3 vạn tuổi. Ông ở cơi đó sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Già Na Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, khắp thế gian đều nghe danh và khen ngợi ông. Lúc Hư Không nghe thọ kư xong, ông cung kính lạy Phật, đi nhiễu bên phải 3 ṿng, rồi ở trước Phật dùng các thứ hoa, rải trên thân Phật, cung kính chấp tay lạy Phật và dùng kệ khen Phật như vầy:

Nhiếp giữ thân tâm

Khéo nhập thiền định

Dùng âm vi diệu

Hay khéo dạy giới

Tâm Phật thanh tịnh

Chẳng có loạn dục

Tuy dạy chúng sanh

Chẳng hoại phép đời

Tên xưng sáng tỏ

Được niệm tổng tŕ

Công đức trăm phước

Thảy đều thêm rộng

V́ các chúng sanh

Thị hiện đạo lành

Dựng phướn tiên cao

Núi công đức lớn

Giữ làm lợi ích

Vô lượng chúng sanh

Ắt khiến tất cả

Công đức đầy đủ

Lại cho chúng sanh

Đạo lành vắng lặng

Phiền năo bị đốt

Như núi Tu Di

Ở trong ba cơi

Sanh tâm đại bi

Mà thọ kư cho

Vô lượng chúng sanh

Thiện nam tử! Lúc bấy giờ, vị Ma Nạp thứ ba tự là Tỳ Xá Cúc Đa đang ở trước Phật, dùng giường 7 báu trên giường bày đủ nệm chiếu mền mại, giá trị một ngàn vạn lượng vàng, lại đặt trên giường các thứ chơn kim, đầy những bảy báu, những đồ đựng nước toàn bằng vàng rồng, gậy đẹp bảy báu, cúng dường Thế Tôn và Tỳ kheo tăng. Cúng dường xong, ông bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Trong đời vị lai, quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp, đến phần sau của đệ nhị hắng sa a tăng kỳ kiếp, vào giữa Hiền kiếp, con nguyện thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề lúc thọ mệnh của nhơn dân tổn giảm, chúng sanh mới vào đời ngũ trược, dày nặng tham danh, hờn giận, ngu si, keo kiệt, ganh ghét, hành động trong tà kiến, theo ác trí thức, thuận căn chẳng lành, lấy đó che tâm, nơi các căn lành, tâm lại lui mất, xa ĺa chánh kiến, sống theo đường tà. Sau khi Đức Già Na Ca Mâu Ni nhập niết bàn, chánh pháp diệt rồi, tất cả chúng sanh mù quáng, không có tuệ nhăn, không thầy đáng tôn, người thọ 2 vạn tuổi, bấy giờ con mới thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Thiện nam tử! Lúc đó Bửu Tạng Như Lai khen Tỳ Xá Cúc Đa rằng: Lành thay! lành thay! Thiện nam tử! Nay ông thành tựu trí tuệ Vô thượng ông sẽ bắt đầu vào đời ác ngũ trược lúc thọ mệnh người trọn 2 vạn tuổi, mù không tuệ nhăn, không thầy đáng tôn. Ông ở thời đó thành tựu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nay đặt hiệu ông là Đại Bi Trí Tuệ.

Phật phán với Đại Bi Trí Tuệ rằng: Thiện nam tử! Trong đời vị lai, quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp, đến phần sau của đệ nhị hằng sa a tăng kỳ kiếp, vào giữa đời Hiền kiếp, người thọ 2 vạn tuổi, ông ở thời đó thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Ca Diếp Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Thiện nam tử! Bấy giờ Đại Bi Trí Tuệ Bồ tát bèn cúi đầu mặt lạy nơi chân Phật, rồi lui về một bên, dùng các loại hoa hương, đồ hương, mạt hương cúng dường Thế Tôn, và dùng kệ khen ngợi Phật:

Bậc tôn quư trong người

Làm lợi ích chúng sanh

Ắt hay khiến cho họ

Nảy sanh ḷng yên vui

Dùng pháp môn niệm định

Khiến tâm được chuyên nhất

Khi được nghe diệu âm

Ḷng con rất vui mừng

Có phương tiện trí tuệ

Chẳng ǵ không đầy đủ

Bởi vậy hay hành động

Giáo hoá cho thế gian

Vô lượng vô biên chúng

Hết thảy đều được nhận

Đạo bồ đề Vô thượng

Do Phật thọ kư cho

Nhờ duyên ấy được thấy

Chư Phật ở mười phuwong

Được trí tuệ thần túc

Hết thảy đều b́nh đẳng

Các Đức Phật đều có

Công đức rất vi diệu

C̣n cùng nhau thị hiện

Tu theo đạo Bồ tát

Thọ kư cho chúng sanh

Sẽ được đạo Vô thượng

Nếu ḷng muốn khen ngợi

Chẳng có thể hết được

Bởi thế nay con xin

Cúi đầu kính lạy Phật

 

Bấy giờ Phạm Chí Bửu Hải lại nói với vị Ma Nạp thứ tư là Tỳ Xá Na Vô Cấu rằng: Thiện nam tử! Nay người khá phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Thiện nam tử! Lúc ấy Tỳ Xá Na Vô Cấu, ở trước Phật bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Con nguyện nơi thế giới này trong Hiền kiếp, cầu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, chẳng ở trong đời ác ngũ trược, như quốc độ của Phật Ca Diếp. Sau khi Ca Diếp Như Lai nhập niết bàn, chánh pháp diệt rồi, thọ mệnh của người giảm dần đến một vạn tuổi. Các việc bố thí, điều phục, giữ giới, thảy đều diệt hết, các chúng sanh đó mất dần thiện tâm, họ đă ĺa xa bảy món của thánh. Với ác trí thức, khởi tưởng tôn trọng, nơi ba điều phước, tâm cầu không học, ĺa ba điều lành, siêng làm ba ác, để các phiền năo che lấp trí tuệ, khiến không sở kiến. Đối pháp ba thừa, chẳng muốn tu học. Giữa chúng sanh đó, nếu con muốn thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, c̣n không có người có thể ngăn ngại, huống là khi người thọ đến một ngàn tuổi, cho đến lúc người chỉ thọ một trăm tuổi th́ chúng sanh ấy thậm chí chẳng có danh tự pháp lành huống lại có người làm theo thiện căn. Đời ác ngũ trược, thọ mệnh nhân dân dần dần giảm thiểu cho đến 10 tuổi th́ kiếp binh đao sau đó mới khởi. Con vào thời đó sẽ từ trên trời xuống ủng hộ họ, sẽ hiện pháp lành khiến họ ĺa ác, cho đến an trụ trong mười pháp lành, bỏ mười điều ác cùng các phiền năo trói buộc sai sử, khiến nên thanh tịnh, loại trừ lần hồi đời ác ngũ trược, cho đến lúc người thọ 8 vạn tuổi, th́ con mới thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bấy giờ chúng sanh ḷng ít tham dâm, giận hờn, ngu si, mê mờ, keo kiệt, ganh ghét. Lúc đó con sẽ v́ họ nói pháp ba thừa, khiến được an trụ. Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt được mục đích giải thoát, chỉ nguyện Như Lai thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cho con. Bạch Thế Tôn! Nếu con không được thọ kư như vậy, th́ nay con sẽ cầu được thanh văn, hoặc cầu duyên giác, như sức c̣n thừa, được mau giải thoát, khỏi ṿng sanh tử. Đức Phật Bửu Tạng liền phán với Tỳ Xá Na Vô Cấu rằng: Thiện nam tử! Bồ tát có 4 cách giải đăi, nếu thành tựu 4 pháp, tham đắm sanh tử, th́ phải chịu các khổ năo trong ngục sanh tử, chẳng có thể mau thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề được. Những ǵ là bốn? Đó là hạ hành, hạ bạn, hạ thí, hạ nguyện. Làm sao gọi Bồ tát hạ hành? Nếu có Bồ tát phá giới thân, khẩu, chẳng hộ nghiệp lành, ấy gọi hạ hành. Bồ tát hạ bạn gần gủi thành văn và Bích Chi Phật, cùng họ cộng sự, ấy gọi hạ bạn. Sao là hạ thí? Chẳng hay xả bỏ tất cả các vật sở hữu của ḿnh, lại khi đem cho, sanh tâm phân biệt, v́ muốn hưởng thụ vui sướng cơi trời mà làm bố thí ấy gọi là hạ thí. Sao là hạ nguyện? Chẳng hay nhất tâm nguyện giữ lấy thế giới tịnh diệu của chư Phật, phát tâm thệ nguyện chẳng phải v́ muốn điều phục tất cả chúng sanh, ấy gọi là Bồ tát hạ nguyện vậy. Bồ tát đủ bốn pháp giải đăi ấy ở lâu trong sanh tử, chịu mọi khổ năo, chẳng có thể mau thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Thiện nam tử! Lại có bốn pháp, Bồ tát ắt thành tựu ắt có thể mau thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Những ǵ là bốn? Một là: Hay giữ giới cấm tịnh, thân, khẩu, ư, hộ tŕ pháp lành. Hai là: gần gủi người tu học đại thừa, cùng họ đồng sự. Ba là: các vật sở hữu đều xả bỏ hết, v́ ḷng đại bi mà cho hết thảy. Bốn là: nhất tâm nguyện giữ các loại thế giới trang nghiêm của chư Phật, v́ muốn điều phục tất cả chúng sanh. Đó là bốn pháp, Bồ tát thành tựu ắt có thể mau thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Lại có bốn pháp, Bồ tát thành tựu, có thể giữ đạo bồ đề Vô thượng. Những ǵ là bốn? Tinh tấn cần hành các Ba la mật, biết giữ tất cả vô lượng chúng sanh, tâm thường chẳng rời bốn hạnh vô lượng, vui chơi các phép thần thông. Đó là bốn pháp, Bồ tát thành tựu, có thể giữ đạo bồ đề Vô thượng.

Lại có bốn pháp khác khiến tâm không chán. Những ǵ là bốn? Một là bố thí, hai là nghe pháp, ba là tu hành, bốn là nhiếp giữ chúng sanh. Đó là bốn pháp khiến tâm không chán, Bồ tát nên học.

Lại có bốn kho vô tận mà các Bồ tát nên thành tựu. Những ǵ là bốn? Một là tín căn, hai là nói pháp, ba là nguyện căn lành, bốn là nhiếp giữ chúng sanh bần cùng. Đó là bốn kho vô tận, Bồ tát nên tu đầy đủ.

Lại có bốn pháp thanh tịnh Bồ tát nên thành tựu. Những ǵ là bốn? Giữ giới thanh tịnh, v́ nhờ vô ngă, Tam muội thanh tịnh, v́ không chúng sanh, trí tuệ thanh tịnh, v́ không thọ mệnh, giải thoát tri kiến thanh tịnh, v́ không có người. Đó là bốn pháp thanh tịnh, Bồ tát thành tựu, nhờ đó mau thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, Chuyển pháp luân hư không, chuyển pháp luân chẳng thể nghĩ bàn, chuyển pháp luân chẳng có thể lượng, chuyển pháp luân vô ngă, chuyển pháp luân không lời nói, chuyển pháp luân xuất thế, chuyển pháp luân thông đạt, chuyển pháp luân vi diệu mà Trời, Người chẳng có thể chuyển được.

Thiện nam tử! Trong đời vị lai quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp, đến phần sau của đệ nhị hằng sa a tăng kỳ kiếp, lúc mới vào Hiền kiếp, ngũ trược diệt rồi, thọ mệnh tăng dần đến 8 vạn tuổi, ông ở thời ấy, thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề hiệu là Di Lặc Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Lúc đó Tỳ Xá Na Ma Nạp cúi đầu lạy trước chân Phật, lùi về một bên, dùng các loại hoa hương, mạt hương, đồ hương cúng dường Phật và Tỳ kheo tăng, rồi dùng kệ khen ngợi Phật:

Thế Tôn trong sạch

Như núi vàng rồng

Lông giữa hai mày

Trắng như kha tuyết

Ứng thời v́ con

Nói pháp vi diệu

Thọ kư con sẽ

Làm thầy Trời, Người

Ai có thấy nghe

Mà sẽ chẳng giữ

Tiên thánh đại giác

Công đức đèn đời

Thiện nam tử! Thời ấy Phạm Chí Bửu Hải lần lượt khuyến hoá hết một ngàn người đọc tụng Tỳ Đà Ngoại Điền phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, chỉ trừ một người. Như Câu Lưu Tôn, Già Na Ca Mâu Ni, Ca Diếp, Di Lặc, người thứ năm tên là Sư Tử Quang Minh, cúng trong số một ngàn người đó, chỉ trừ một người, c̣n lại bao nhiêu đều nguyện trong Hiền kiếp thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Trong số đó, người nhỏ nhất tên là Tŕ Lực Tiệp Tật.

Phạm Chí Bửu Hải cũng khuyên người ấy khiến phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Thiện nam tử! Nay ngươi chớ quán lâu xa sẽ ĺa giác tâm, v́ các chúng sanh khởi ḷng đại bi. Lúc đó Phạm Chí bèn v́ Tŕ Lực Tiệp Tật mà nói kệ rằng:

Các ấm, giới, nhập

Sở nhiếp chúng sanh

Sợ già bệnh chết

Đoạ nơi bể ái

Kẹt nơi ba cơi

Trong ngục khá sợ

Uống độc phiền năo

Xâm hại lẫn nhau

Lạc giữa đêm dài

Trong bể khổ năo

Nghi, mờ, không mắt

Bỏ mất chánh đạo

Ở trong sanh tử

Máy móc tự che

Chúng sanh ba cơi

Bị các khổ đốt

Xa ĺa chánh kiến

An trú tà kiến

Sống chết xoay vần

Ở trong năm đường

Chẳng được dừng nghỉ

Tỷ như bánh xe

Có những chúng sanh

Lầm nơi pháp nhăn

Mê mờ chẳng thấy

Không người cứu giúp

Ngươi nên tu tập

Vô lượng trí tuệ

Khiến ĺa nghi hoặc

Gây phát bồ đề

Nên v́ chúng sanh

Làm thiện trí thức

Đốt rụi dây ái

Mở hết chuỗi phiền

Lại cũng v́ họ

Phát tâm bồ đề

Người mất pháp nhăn

Bị ḷng nghi che

Muốn họ ĺa nghi

Nên cho thắng đạo

Trong ngục sanh tử

Lửa lớn thiêu đốt

Nên rưới cam lồ

Khiến được sung túc

Nay ngươi mau đến

Chỗ Phật đang ngự

Đầu mặt lạy chân

Làm lợi ích lớn

Nên ở trước Phật

Phát nguyện thắng diệu

Sở nguyện thắng diệu

Khéo giữ niệm đó

Đời sau ngươi nên

Điều ngự Trời, Người

Cũng nên nguyện thí

Vô uư cho họ

Cứu vớt tất cả

Khiến đều giải thoát

Cũng khiến đầy đủ

Căn, lực, giác đạo

Tưới mưa pháp lớn

Cho nước trí tuệ

Diệt lửa khổ năo

Cho các chúng sanh

Thiện nam tử! Lúc đó Tŕ Lực Tiệp Tật bèn nói như vầy: Tôn Giả! Sở nguyện tôi nay chẳng cầu quà báu sanh lên cơi Trời, chẳng cầu thanh văn, thừa Bích Chi Phật, nay tôi chỉ cầu Đại thừa Vô thượng, đợi thời đợi chỗ, đợi điều phục chúng sanh, đợi phát thiện nguyện. Nay tôi suy tư những điều như vậy. Tôn Giả! Hăy đợi chốc lát sẽ nghe tiếng Sư tử rống. Thiện nam tử! Lúc ấy Phạm Chí Bửu Hải chậm chậm bước lui. Ông có năm người giúp đỡ. Một là Thủ Long, hai là Lục long, ba là Thuỷ Long, bốn là Hư Không Long, năm là Diệu Âm Long. Phạm Chí bảo họ: Các ngươi nay nên phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Năm người ấy đáp: Tôn Giả! Chúng tôi chẳng có ǵ để cúng dướng Phật và chúng tăng, chưa trồng căn lành, làm sao được phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề? Thiện nam tử! Bấy giờ Phạm Chí Bửu Hải lấy cái ṿng báu đeo ở tai trái cho ông Thủ Long, ṿng báu tai phải cho ông Lục Long, giường báu thường ngồi cho ông Thuỷ Long, gậy báu đang dùng cho ông Hư Không Long, thau bằng vàng rồng cho Diệu Âm Long. Cho xong bèn nói: Đồng tử! Nay các ngươi hăy đem các bật đó cúng dường Phật và chúng tăng, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Kinh Bi-Hoa hết quyển thứ năm

*           *

*

QUYỂN THỨ SÁU

Bắc- Lương Thiên- Trúc Tam Tạng Đàm Vô Sấm dịch ra Hoa Văn.

 

PHẨM IV

THỌ KÝ CHƯ VỊ BỒ TÁT

CHI IV

Khi đó năm người đến chỗ Phật ngự, đem vật đă được, cúng giường Thế Tôn, và các Tỳ kheo. Cúng dường vừa xong, liền bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Chí nguyện Như Lai thọ kư chúng con khiến trong Hiền kiếp sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Thiện nam tử! Lúc ấy Bửu Tạng Như Lai bèn thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cho cả năm người:

  • Thủ Long trong đời vị lai vào Hiền kiếp sẽ thành Phật hiệu là Kiên Âm Như Lai đầy đủ 10 hiệu. Kiên Âm Như Lai nhập niết bàn rồi.
  • Lục Long kế đó thành Phật hiệu là Khoái Lạc Tôn Như Lai, 10 hiệu đầy đủ. Khoái Lạc Tôn Phật nhập niết bàn rồi.
  • Thuỷ Long kế đó thành Phật hiệu là Đạo Sưu Như Lai, 10 hiệu đầy đủ. Đạo Sưu Phật nhập niết bàn rồi.
  • Hư Không Long tiếp đó thành Phật hiệu là Ái Thanh Tịnh Như Lai, 10 hiệu đầy đủ. Ái Thanh Tịnh Như Lai nhập niết bàn rồi.
  • Diệu Âm Long tiếp đó thành Phật hiệu là Na La Diên Thắng Diệu Như Lai, 10 hiệu đầy đủ.

Thiện nam tử! Sau khi Bửu Tạng Như Lai thọ kư cho năm người ấy thành phật ở Hiền kiếp th́ Phạm Chí Bửu Hải lại nói với Tŕ Lực Tiệp Tật rằng: Thiện nam tử! Nay ngươi khá giữ các loại thế giới tịnh diệu, trang nghiêm, như ḷng vui thích, mà phát nguyện lành, đem cho chúng sanh pháp vị cam lồ, chuyên tâm tinh cần, hành đạo Bồ tát cẩn thận, chớ nghĩ kiếp số lâu xa. Thiện nam tử! Liền đó Phạm Chí nắm lấy cánh tay Tŕ Lực Tiệp Tật, dẫn đến chỗ Phật. Ngồi ở trước Phật, Tŕ Lực bạch rằng: Bạch Thế Tôn! Trong đời vị lai, vào thời Hiền kiếp có bao nhiêu Phật Như Lai ra đời? Phật liền phán với Tŕ Lực Tiệp Tật rằng: Thiện nam tử! Trong nửa Hiền kiếp, có 1004 Phật xuất hiện nơi đời. Tŕ Lực Tiệp Tật thưa: Bạch Thế Tôn! Trong Hiền kiếp ấy chư Phật Thế Tôn nhập niết bàn rồi đến Diệu Âm Long thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề hiệu Na La Diên Thắng Diệu. Bạch Thế Tôn con nguyện vào thời ấy tu đạo Bồ tát, tu các hạnh khổ, tŕ giới, bố thí, đa văn, tinh tấn, nhẫn nhục, ái ngữ, phước đức, trí tuệ, các phẩm trợ đạo, khiến thảy đầy đủ. Chư Phật Hiền kiếp lúc gần thành Phật, con nguyện ban đầu hiến dâng ăn uống, sau khi niết bàn, thâu giữ xá lợi, dựng tháp cúng dường, hộ tŕ chánh pháp, thấy người phá giới, khuyên họ ngừng yên, khiến trụ giữ giới thấy xa chánh kiến, rơi vào tà kiến, khuyên họ ngừng yên, khiến trụ chánh kiến, người tâm tán loạn, khuyên họ ngừng yên, khiến trụ định tâm, người mất uy nghi, khuyên họ ngừng yên, trụ uy nghi thánh. Nếu có chúng sanh muốn hành thiện căn con sẽ v́ họ chỉ bày căn lành. Các đức Phật kia nhập niết bàn rồi, chánh pháp gần diệt, th́ con thuở ấy hộ tŕ chánh pháp khiến chẳng đoạn duyệt, ở giữa thế gian, đốt đèn chánh pháp, vào kiếp đao binh, con sẽ giáo hoá chúng sanh giữ giới `chẳng giết`,…. Cho đến chánh kiến, trong chỗ 10 ác kéo chúng sanh ra, khiến họ ngừng yên, trụ 10 đường thiện, diệt hết mù tối, chỉ bày pháp lành, con sẽ trừ dứt kiếp trược, mạng trược, chúng sanh trược, phiền năo trược, kiến trược, khiến trược chẳng c̣n. Vào thuở mất mùa nhân dân đói kém con sẽ khuyên dạy tất cả chúng sanh yên dừng trụ nơi Đàn ba la mật,… cho đến Bát nhă ba la mật. Con khuyên chúng sanh trụ sáu ba la mật cũng như con vậy. Bao nhiêu đói khổ đen tối, dơ đục, thù oán đấu tranh, đến các phiền năo, đều khiến vắng lặng. Vào kiếp tật dịch, con sẽ giáo hoá tất cả chúng sanh, khiến đều an trụ trong pháp lục hoà, cũng khiến ngừng yên, trụ pháp tứ nhiếp.

Bệnh tật đen tối của các chúng sanh, sẽ khiến mất hết. Trong nửa Hiền kiếp, dứt trừ khổ năo chúng sanh như vậy, 1004 Phật ra đời trong nửa kiếp rồi nhập niết bàn, chánh pháp diệt hết, sau đó con mới thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Thọ mệnh của 1004 Phật, số đệ tử thanh văn bao nhiêu, th́ thọ mệnh con và số đệ tử thanh văn cũng lại như vậy, chẳng có sai khác. Như 1004 Phật ở trong nửa kiếp, điều phục chúng sanh. Trong nửa kiếp ấy chư Phật nếu có đệ tử thanh văn, pháp những giới cấm, đoạ vào tà kiến, ở chỗ chư Phật, không ḷng cung kính, sanh tâm giận hờn, năo hại, phá pháp, hoại tăng, phỉ báng hiền thánh, huỷ hoại chánh pháp, gậy tội ác nghịc, th́, bạch Thế Tôn, lúc con được thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, ắt sẽ cứu vớt cho họ thoát khỏi bùn dơ sanh tử, khiến họ vào thành niết bàn vô uư. Sau khi con nhập niết bàn, chánh pháp Hiền kiếp đều diệt hết rồi th́ xương răng con cùng các xá lợi ắt sẽ biến hoá thành h́nh tượng Phật, 32 tướng tốt, chuỗi ngọc đeo thân, mỗi một h́nh tượng có 80 vẻ đẹp, thứ lớp trang nghiêm, biến đến 10 phương vô lượng vô biên thế giới chư Phật. Mỗi mỗi hoá Phật dùng pháp ba thừa giáp hoá vô lượng vô biên chúng sanh, đều khiến bất thối. Nếu có thế giới, mới vào bệnh kiếp, chẳng có Phật pháp, th́ tượng hoá Phật cũng sẽ đến đó giáo hoá chúng sanh, như trước đă nói. Nếu các thế giới không có trân bửu, nguyện làm ngọc báu Ma Ni Như Ư, rơi xuống như mưa, tự nhiên sinh ra các kho vàng rồng. Nếu các thế giới có những chúng sanh, ĺa các căn lành, bị khổ vây thân, con sẽ làm mưa hương Ưu Đà Bà, Chiên Đàn Trầm Thuỷ, các loại hương thơm khiến mọi chúng sanh dứt bệnh phiền năo, bệnh tà kiến, bệnh thân tứ đại, nơi ba cơi phước tâm siêng tu hành, khiến lúc mệnh chung, sanh vào Trời, Người. Bạch Thế Tôn! Thời gian hành đạo Bồ tát, con sẽ làm lợi ích cho chúng sanh như vậy.

Thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, con sẽ làm các Phật sự như vậy. Sau khi nhập niết bàn, xá lợi lại đến vô lượng thế giới làm lợi cho chúng sanh như vậy. Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con chẳng thành, chẳng đạt mục đích giải thoát, chẳng có thể làm Đại Y Vương cho chúng sanh, chẳng được ích lợi ǵ cà, vậy là v́ con ngày nay đă lừa dối chư Phật Như Lai hiện tại ở 10 phương vô lượng thế giới, và nay cũng chẳng đáng được thọ kư thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bạch Thế Tôn! Vô lượng vô biên ức a tăng kỳ chúng sanh được thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, con cũng chẳng được thấy họ như vậy, cũng chẳng được nghe âm thanh Phật, pháp, tăng, làm các việc lành, lại thường bị đoạ a tỳ địa ngục. Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu, đạt được mục đích giải thoát th́ nay xin Như Lai khen ngợi con. Phật liền khen Tŕ Lực Tiệp Tật rằng: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ông ở đời sau làm Đại Y Vương, khiến các chúng sanh dứt hết khổ năo, cho nên tự của ông là Hoả Tịnh Dược Vương.

Phật phán với Hoả Tịnh Dược Vương rằng: Ông trong đời sau, quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp, đến đệ nhị hằng sa a tăng kỳ kiếp, vào phần sau Hiền kiếp, lúc 1004 Phật gần A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, ông ắt sẽ được hiến dâng ăn uống,…. Cho đến mọi điều như ông đă nguyện. Sau khi Đức Na La Diên Thắng Diệu nhập niết bàn rồi, chánh pháp diệt hết, ông sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Lâu Chí Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, thọ mệnh nửa kiếp. Số đệ tử thanh văn của ông như số đệ tử của 1004 Phật, chẳng có sai khác. Sau khi giáo hoá chúng sanh, nhập niết bàn rồi, chánh pháp diệt hết, Hiền kiếp cũng dứt, th́ xương, răng, xá lợi ắt hoá làm Phật,.. cho đến khiến cho chúng sanh, sanh vào Trời, Người, cũng lại như vậy. Lúc ấy Hoả Tịnh Dược Vương Bồ tát lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt được mục đích giải thoát, chỉ nguyện Như Lai dùng bàn tay sắc vàng trang nghiêm trăm phước, xoa trên đầu con. Thiện nam tử! Bấy giờ Bửu Tạng Như Lai bèn dùng bàn tay trang nghiêm trăm phước xoa đầu Hoả Tịnh Dược Vương Bồ tát. Thiện nam tử! Khi Hoả Tịnh Dược Vương Bồ tát thấy việc ấy rồi, ḷng sinh vui mừng, liền dùng đầu mặt lạy nơi chân Phật, rồi lui về một bên.

Lúc ấy, Phạm Chí Bửu Hải dùng Diệu Thiên Y cho Hoả Tịnh Dược Vương Bồ tát mà khen rằng: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Sở nguyện của ông rất là kỳ lạ, rất là đặc biệt. Từ trước đến nay, chưa một lần nào ông đă cho tôi những lời xui sử, tu hạnh an lạc, thường được tự tại như ông vừa làm.

Lúc đó, Phật phán với Tịch Ư Bồ tát rằng: Thiện nam tử! Bấy giờ, Phạm Chí Bửu Hải suy tư như vầy: Ta đă khuyên vô lượng vô biên trăm ngàn ức Na do tha chúng sanh, khiến trụ A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nay ta đă thấy chư Đại Bồ tát, ai nấy phát nguyện giữ Phật độ tịnh, chỉ trừ một người Bà Do Tỳ Nửu, trong Hiền kiếp kia, c̣n bao Bồ tát  đều ĺa ngũ trược. Nay ta nên ở giữa đời mạt thế, lấy chân pháp vị mà cho chúng sanh. Nay ta nên tự ḿnh bền vững trang nghiêm phát lời nguyện lành, như Sư Tử rống, ắt khiến tất cả Bồ tát nghe rồi danh tâm nghi quái, khen chưa từng có, lại khiến tất cả đại chúng Trời, Rồng, Quỹ thần, Càn thát bà, A tu la, Câu na la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Người và Phi nhơn, chấp tay cung kính cúng dường ta, và Phật Thế Tôn khen ngợi ta, thọ kư cho ta, khiến 10 phương vô lượng vô biên chư Phật hiện tại ở khắp mọi nơi v́ các chúng sanh giảng nói chánh pháp. Các Đức Như Lai nghe tiếng ta nói như Sư Tử rống, ắt khen ngợi, thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cho ta và khiến cho đại chúng đều thấy việc ấy. Nay ta phát đại thệ nguyện sau rốt, thành tựu ḷng Đại bi của chư Bồ tát cho đến khi thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, nếu có chúng sanh c̣n nghe danh Đại bi của ta, ắt phải khiến họ sanh tâm hy hữu. Nếu về sau này có những Bồ tát thành tựu Đại bi, cũng nên nguyện giữ thế giới như vậy. Trong thế giới ấy có bao chúng sanh đói nghèo chánh pháp đui không tuệ nhăn, đầy đủ bốn lưu th́ các Bồ tát nên cứu giúp họ, v́ họ nói pháp, cho đến khi ta nhập niết bàn rồi, 10 phương vô lượng vô biên trăm ngh́n ức thế giới, có Phật hiện tại ở khắp mọi nơi th́ danh hiệu ta cũng được xưng tán giữa đại chúng Bồ tát, lại thiện nguyện ta cũng được giảng nói khiến các Bồ tát, lấy ḷng Đại bi huân tập bản tâm,  đều lắng tâm nghe, nghe sự việc rồi lấy làm kinh dị, khen chưa từng có, trước được ḷng Bi, sau  đều thêm rộng, rồi như ta nguyện giữ bất tịnh độ: các Bồ tát ấy đều sẽ như ta, nơi cơi bất tịnh, thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cứu vớt chúng sanh tử lưu, khiến họ ngừng yên, trụ nơi ba thừa, cho đến niết bàn. Thiện nam tử! Lúc Phạm Chí Bửu Hải suy tư về Đại bi nguyện như vậy rồi, ông bèn trịch áo bày vai phải, đến trước chỗ Phật. Lúc ấy cũng có vô lượng trăm ngàn vạn ức chư Thiên ở nơi Hư Không, đánh kỹ nhạc trời, mưa đủ loại hoa, ai nấy đồng thanh cất tiếng khen ngợi: Lành thay! Lành thay! Thiện Đại Trượng Phu nay đến chỗ Phật phát nguyện đặc biệt, muốn dùng nước trí diệt hết phiền năo chúng sanh ở đời. Khi ấy đại chúng tất cả chấp tay cung kính ở trước Phạm Chí đồng thời kính lạy và khen ngợi rằng: Lành thay! Lành thay! Tôn đại trí huệ. Hết thảy chúng tôi nay nguyện được nghe Tôn Ư phát nguyện. Bấy giờ Phạm Chí đang quỳ trước Phật, gối phải sát được, trong lúc Tam thiên Đại thiên Thế giới chấn động sáu cách, kỹ nhạc tự nhiên vang lên đủ loại, chim bay thú chạy cùng hoà thanh âm, tất cả cây cối sanh hoa trái thời, trong Tam thiên Đại thiên Thế Giới, nơi nhân địa chúng sanh, hoặc đă phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hoặc chưa phát tâm, chỉ trừ địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh thấp kém, c̣n lại bao nhiêu chúng sanh khác, thảy đều sanh tâm đại lợi ích, tâm thuần thiện, tâm không oán hại, tâm không dơ đục, tâm từ ít có, chúng sanh đang bay dừng ở hư không, sanh tâm vui mừng, rải các loại hoa, mạt hương, đồ hương, các thứ kỹ nhạc, cờ phướng y phục mà cúng dường, lại dùng diệu âm uyển chuyển ngâm vịnh khen ông Phạm Chí, hết thảy đều một ḷng muốn nghe Phạm Chí phát lời thiện nguyện. Cho đến A Ca Nhị Tra Thiên, chư Thiên trên trời cũng xuống Diêm Phù Đề, trụ tại hư không, rải các hoa, mạt hương, đồ hương, các thứ kỹ nhạc, cờ phướng y phục mà cúng dường, lại dùng diệu hương uyển chuyển ngâm vịnh khen ông Phạm Chí, ai nấy tinh cần một ḷng muốn nghe Phạm Chí phát lời thiện nguyện. Lúc đó Phạm Chí Bửu Hải chấp tay cung kính dùng kệ khen Phật:

Vui chơi thiền định

Như Đại Phạm Vương

Xán lạng đoan nghiêm

Như trời Đế Thích

Bỏ của bố thí

Như Chuyển Luân Vương

Giữ ngọc báu diệu

Như thần chủ kho

Công đức tự tại

Như Sư Tử Vương

Chẳng hề nghiêng động

Như núi Tu Di

Tâm chẳng xao xuyến

Như nước biển lớn

Tội hay chẳng tội

Tâm lặng như đất

Trừ các phiền năo

Như nước thanh tịnh

Đốt các ràng buộc

Như lửa ḷ mạnh

Không bị chướng ngại

Giống như gió to

Biện bày pháp báu

Như Tứ Thiên Vương

Rưới mưa pháp vũ

Như Đại Long Vương

Cho đầy đủ cá

Giống như mùa mưa

Phá các ngoại đạo

Như Đại Luận Sư

Công đức diệu âm

Như hoa Tu mạn

Diệu âm nói pháp

Giống như Phạm Thiên

Trừ các khổ năo

Như Đại Y Vương

Một tâm b́nh đẳng

Như mẹ thương con

Nhiếp giữ chúng sanh

Giống như từ phụ

Thân không thể hoại

Như núi Kim Cang

Hay dứt nhánh yêu

Giống như dao bén

Rộng độ sanh tử

Giống như thuyền lớn

Dùng trí cứu người

Giống như ghe thuyền

Sáng suốt mát mẻ

Như trăng tṛn vạnh

Mở hoa chúng sanh

Như mặt trời mọc

Hay cho chúng sanh

Sa môn bốn quả

Như cây mùa thu

Xanh các thứ trái

Tiên thánh vây quanh

Giống như phượng hoàng

Ư tứ sâu rộng

Giống như biển lớn

Xem chúng b́nh đẳng

Giống như cây cỏ

Biết các pháp tướng

Như nắm tay không

B́nh tâm hành thế

Như tướng nước tịnh

Thành tựu diệu tướng

Thiện nơi đại bi

Hay thọ kư cho

Vô lượng chúng sanh

Nay tôi điều phục

Vô lượng chúng sanh

Chỉ nguyện Như Lai

Thọ kư cho tôi

Trong đời mai sau

Thành tựu thánh đạo

Trí tuệ vi diệu

Đại tiên Thế Tôn

Nguyện dùng diệu âm

Nói lời chân thực

Tôi trong đời ác

Cần tu các nhẫn

Đấu giặc phiền năo

Cùng các kiết sử

Cứu vớt vô lượng

Tất cả chúng sanh

Khiến họ dừng yên

Trụ trong tịch diệt

Thiện nam tử! Lúc Phạm Chí Bửu Hải đọc kệ khen Phật xong, tất cả đại chúng đều khen ngợi rằng: Lành thay! Lành thay! Bậc đại trượng phu khéo biết ca tụng Như Lai Pháp Vương. Khi đó Phạm chí lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Con đă giáo hoá vô lượng ức chúng phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Các chúng sanh đó thảy đều nguyện giữ thế giới tịnh diệu, ĺa cơi bất tịnh, dùng tâm thânh tịnh trồng các căn lành, khéo nhiếp chúng sanh mà điều phục họ. Hoả Man Ma Nạp cùng 1004 người thảy đều đọc tụng Tỳ Đà Ngoại Điển. Như Lai đă v́ các người đó thọ kư cho họ vào thời Hiền kiếp sẽ được thành Phật. C̣n các chúng sanh có nhiều tham dâm, sân si, kiêu mạn, phải được điều phục trong pháp ba thừa th́ 1004 Phật kia đă buông thả ra. các chúng sanh ấy nặng dầy phiền năo, đời ác ngũ trược phạm tội ngũ nghịch huỷ hoại chánh pháp, phỉ báng thánh nhơn, làm theo tà kiến, ĺa bảy của thánh, bất hiếu cha mẹ, đối với sa môn và bà la môn, không ḷng cung kính, làm điều chẳng nên, điều nên chẳng làm, không làm việc phước, chẳng sợ đời sau, nơi ba cơi phước, ḷng chẳng muốn vào, chẳng cầu quả báo trên cơi Trời, Người, siêng 10 điều ác, nhát ba việc lành, rời thiện tri thức, chẳng biết gần gủi trí tuệ chân thực, vào nơi ba cơi sống chết trong ngục, theo bốn thác mạnh, mất tại sông tro, v́ si chịu mù, xa rời nghiệp lành, chuyên làm nghiệp ác, chúng sanh như vậy, thế giới chư Phật chẳng dung nạp được, bởi thế họ bị đuổi dồn về thế giới này. Phải dùng hạnh xa ĺa thiện, bất thiện nghiệp, th́ nơi đường tà, trước tội ác nặng, tâm mới vắng lặng như núi Thái Sơn. Lúc Thế giới Ta Bà vào Hiền kiếp, người thọ 1000 tuổi th́ 1004 Phật đó chẳng thành đại bi, chẳng giữ đời ác hư xấu như vậy, khiến cho chúng sanh sống chết trôi lăn, giống như máy móc, không nguời cứu giúp, không chỗ nương dừng, không đèn không nhà, chịu mọi khổ năo mà buông thả ra. Khi bấy giờ ai cũng nguyện giữ thế giới tịnh diệu, chúng sanh tịnh độ, khéo tự điều phục, tâm đă thanh tịnh, đă trồng căn lành, tinh tấn siêng năng, đă được cúng dường vô lượng chư Phật, mà khiến nhiếp thọ chánh báo. Bạch Thế Tôn! Các vị ĺa có phải thực v́ những người này mà phát nguyện chẳng? Lúc đó Thế Tôn liền phán với Phạm Chí rằng: Thực như ông nói! Thiện nam tử! Các vị kia, như ḷng họ mong cầu, ai cũng vui giữ thế giới nghiêm tịnh. Ta theo ḷng họ mà thọ kư cho họ.

Bấy giờ Phạm Chí lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nay ḷng con rung động như lá cây Khấn Thủ, tâm rất buồn rầu, toàn thân khốn khổ. Các Bồ tát kia tuy sanh đại bi mà chẳng giữ được  đời ác ngũ trược, khiến chúng sanh nọ đoạ si đen tối. Bạch Thế Tôn! Cho đến đời sau, quá một hằng a tăng kỳ kiếp, đến đệ nhị hằng sa a tăng kỳ kiếp, vào phần sau của Hiền kiếp, đến đệ nhị hằng sa a tăng kỳ kiếp, vào phần sau của Hiền kiếp, người thọ 1000 tuổi thời ấy tôi sẽ hành đạo bộ tát, ở lâu trong sanh tử, nhẫn chịu các khổ, v́ dùng sức tam muội của các Bồ tát, cần chẳng buông bỏ các chúng sanh như vậy. Bạch Thế Tôn! Nay con tự hành sáu ba la mật, điều phục chúng sanh. Như lời Phật dạy: Lấy tài vật cho, gọi là Đàn ba la mật. Bạch Thế Tôn! Thời gian con hành Đàn ba la mật, nếu có chúng sanh đời đời theo tôi cầu xin vật cần dùng, th́ tuỳ theo sở cầu, tôi sẽ cấp đủ các món ăn uống thuốc men quần áo, đồ nằm nhà cửa, xóm làng, hoa thơm, chuỗi ngọc và các thứ hương, cấp cho người bệnh, thuốc chữa, người hầu, cờ phướng lọng báu, tiền tài, vải lụa, voi ngựa, xe cộ, bạc vàng, ngọc thiệt, lưu ly, pha lê, mă năo, ngọc xanh, san hô, ngọc quư, ngọc giả, mũ trời, đề quét phủi và đồ trang điểm, các vật như vậy. Đối với chúng sanh, đến kẻ bần cùng, con sanh tâm đại bi, đều cấp thí cho. Tuy bố thí như vậy, nhưng chẳng mong cầu quả báo trong cơi Trời, Người, chỉ cầu điều phục nhiếp giữ chúng sanh, v́ nhân duyên ấy xả các sở hữu. Nếu có chúng sanh cầu xin quá lượng, như xin nô tỳ, xóm làng thành ấp, vợ con trai gái, tay, chân, mũi, lưỡi, đầu, mắt, da, thịt, xương, máu, thân mạng, cầu xin như vậy là vật quá lượng, th́ con lúc ấy, sanh tâm đại bi, lấy các vật ấy dùng để bố thí, chẳng cầu quả báo, chỉ cầu điều phục nhiếp giữ chúng sanh. Bạch Thế Tôn! Thời gian con hành Đàn ba la mật, quá khứ Bồ tát phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hành Đàn ba la mật cũng chẳng có thể sánh kịp. Bạch Thế Tôn! Trong thời vị lai, nếu có người muốn hành đạo Bồ tát, tôi sẽ v́ họ hành Đàn ba la mật, khiến chẳng dứt tuyệt. Khi con mới vào Thi la ba la mật, v́ cầu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, giữ các loại giới, tu các hạnh khổ, cũng như đă nói trong Đàn ba la mật. Quán ḿnh vô ngă, cho nên ngũ t́nh chẳng v́ ngũ trần mà bị tổn hại, Sằn đề ba la mật ấy con làm như vậy. Sằn đề ba la mật như trên đă nói, quán pháp hữu vi, ĺa các lỗi ác, thấy pháp vô vi vắng lặng vi diệu. Siêng năng tinh tấn tu đạo vô thượng chẳng sanh thối chuyển. Tỳ lê da ba la mật con cũng làm như vậy. Nếu tất cả các chỗ tu đều hành không tướng được pháp tịch diệt, ấy gọi là Thiền ba la mật. Nếu hiểu các pháp, tánh vốn không sanh, nay ắt chẳng diệt đó gọi là Bát nhă ba la mật. Trong vô lượng trăm ngh́n ức a tăng kỳ kiếp, con từng siêng năng kiên cố tu tập Bát nhă ba la mật. V́ sao vậy? V́ có Bồ tát, trong đời quá khứ, chẳng v́ A nậu đa la tam miệu tam bồ đề mà hành đạo Bồ tát, tinh cần kiên cố tu tập Bát nhă ba la mật, hoặc có Bồ tát, trong đời vị lai, chưa v́ A nậu đa la tam miệu tam bồ đề mà hành đạo Bồ tát tinh cần kiên có tu tập Bát nhă ba la mật, bởi vậy ngày nay con nên phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tu đạo Bồ tát, khiến các pháp lành trong đời mai sau không bị dứt tuyệt. Bạch Thế Tôn! Con mới phát tâm đă v́ các vị Bồ tát trong đời vị lai khai thị Đại bi cho đến niết bàn. Có ai được nghe danh con Đại bi, ḷng sanh kinh dị, khen chưa từng có. Bởi vậy nơi pháp bố thí con chẳng tự khen, chẳng nương giữ giới, chẳng nhớ nhẫn nhục, chẳng ỷ tinh tấn, chẳng hứng thú thiền, dù có trí tuệ, chẳng đắm ba cơi, chỉ thực hành sáu ba la mật như thế, chẳng cầu quả báo. Có những chúng sanh, rời bảy món của thánh, bỏ đi các chỗ thế giới không Phật, phạm tội ngũ nghịch, huỷ hoại chánh pháp, phỉ báng hiền thánh, làm theo tà kiến, gây tội ác nặng giống như núi lớn, thường hành tà đạo, tâm bị che lấp. Bởi vậy nay con v́ chúng sanh ấy chuyên tâm trang nghiêm, t́nh cần tu tập sáu ba la mật. Con v́ tất cả chúng sanh nên trồng căn lành ở trong 10 kiếp, vào ngục a tỳ, chịu vô lượng khổ, đối với súc sanh, ngă quỹ và kẻ bần cùng, hay các quỹ thần, với người ty tiện, cũng lại như vậy. Nếu có chúng sanh chẳng chút căn lành, tâm cằn mất niệm, con ắt nhiếp giữ mà điều phục họ, khiến trồng căn lành, cho đến Hiền kiếp vào giữa khoảng đó, rốt chẳng nguyênj hưởng các điều vui sướng tại cơi Trời, Người, chỉ trừ một đời ở Trời Đâu Suất, đợi thời thành Phật. Bạch Thế Tôn! Con nên như vậy, ở trong sanh tử, lâu dài nhiều kiếp như số bụi nhỏ của một cơi Phật, dùng công đức tu cúng dường chư Phật, v́ một chúng sanh mà trồng căn lành, dùng đồ cúng dường bằng số bụi nhỏ của một cơi Phật mà cúng dường 10 phương vô lượng vô biên mỗi mỗi cơi Phật, được công đức lành, như số bụi nhỏ của một nước Phật. Trước các Đức Phật, lại được giáo hoá vô số chúng sanh như số bụi nhỏ một thế giới Phật, khiến trụ nơi đạo Bồ đề Vô thượng. Duyên giác thanh văn lại cũng như vậy. Tuỳ theo sở nguyện của các chúng sanh mà giáo hoá họ. Nếu có thế giới, Phật chưa ra đời, con nguyện làm Tiên dạy các chúng sanh, khiến trụ 10 thiện, trong 5 thần thông, xa ĺa ác kiến. Nếu có chúng sanh phụng thờ Ma ê thủ la thiên, con nguyện hoá tân ma ê thủ la mà giáo hoá họ, khiến trụ pháp lành, nếu thờ Bát tư, cũng nguyện hoá làm vị trời Bát tư mà giáo hoá họ, khiến trụ pháp lành, nếu thờ Nhật nguyệt cũng nguyện hoá làm Nhật nguyệt phạm thiên mà giáo hoá họ, khiến trụ pháp lành, thờ Kim xí điểu, cho đến thờ Thỏ, cũng nguyện hoá thân theo đó mà dạy, khiến trụ pháp lành nếu thấy chúng sanh đói khổ, con sẽ lấy thân máu thịt mà cho, khiến họ no đủ. Nếu có chúng sanh phạm phải các tội, tôi dùng thân mệnh chịu tội thay họ, để cứu giúp họ. Bạch Thế Tôn! Trong đời vị lai có những chúng sanh, ĺa các căn lành, thiêu mất thiện tâm, th́ con thuở ấy, v́ chúng sanh kia, siêng năng tinh tấn hành đạo Bồ tát, vào trong sanh tử, chịu mơi khổ năo, cho đến hết một hằng sa a tăng kỳ kiếp, vào đệ nhị hằng sa a tăng kỳ kiếp, tới phần sau, lúc mới bắt đầu Hiền kiếp, Hoả man ma nạp thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu Câu Lưu Tôn Như Lai, con sẽ bắt đầu dạy cho những kẻ xa ĺa nghiệp lành, thường hành nghiệp ác, thiêu mất thiện tâm, rời bảy của thánh, phạm tội ngũ nghịch, huỷ hoại chánh pháp, phỉ báng thánh nhân, làm theo tà kiến, gây tội ác nặng, giống như núi lớn, thường hành tà đạo, tâm bị che lấp, đă bỏ các cơi không Phật mà đi, khiến họ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hành Đàn ba la mật cho đến Bát nhă ba la mật, yên dừng, trụ nơi địa bất thối chuyển, khiến cho hết thảy đều sẽ thành Phật, ở khắp 10 phương, trong các cơi Phật như số bụi nhỏ của một nước Phật, chuyển bánh xe pháp, khiến các chúng sanh cầu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, trồng các căn lành, ra khỏi đường ác, yên dừng được trụ công đức trí tuệ, pháp trợ bồ đề. Con nguyện thời ấy, được thấy tất cả. Bạch Thế Tôn! Nếu các chư Phật ở khắp mọi nơi, sai sử chúng sanh đến chỗ Phật ngự, để được thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, khiến được Tam muội Đà la ni nhẫn nhục, tức theo thứ lớp vào Bồ tát vị mỗi mỗi được giữ Phật độ thanh tịnh, theo ư sở cầu, nơi các thế giới trang nghiêm đủ loại. Chúng sanh được vậy thảy đều do con đă khuyến hoá họ. Vào giữa Hiền kiếp, lúc Câu Lưu Tôn Phật ra đời, th́ chúng sanh ấy ở khắp 10 phương như số bụi nhỏ của các nước Phật, cũng thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tại mỗi cơi nước, trụ thế nói pháp, cũng khiến con thấy. Bạch Thế Tôn! Lúc Câu Lưu Tôn Phật thành Phật, con sẽ đến chỗ Phật ngự, đem các công cụ mà cúng dường Phật, thưa hỏi các pháp xuất gia, giữ giới thanh tịnh, học rộng nghe nhiều, chuyên tu Tam muội, cần hành tinh tấn, nói pháp vi diệu, không ai hơn được, chỉ trừ Như Lai. Thuở ấy, hoặc có chúng sanh căn cơ chậm lụt, không có căn lành, đoạ nơi tà kiến, hành đạo bất chánh, phạm tội ngũ nghịch, huỷ hoại chánh pháp, phỉ báng thánh hiền, gây tội ác nặng như những núi lớn, th́ con sẽ v́ các chúng sanh đó giảng nói chánh pháp, nhiếp giữ điều phục. Phật nhựt qua rồi, th́ sau đó con tự nhiên sẽ làm vô lượng Phật sự, Già na ca mâu ni, Ca diếp Phật, … chư Phật trụ thế nói pháp, cho đến tự nhiên làm các Phật sự, cũng lại như vậy. Măi đến lúc người thọ 1000 tuổi, th́ con lúc đó, khuyên các chúng sanh trụ ba phước xứ, quá 1000 năm rồi sanh lên trời, v́ các vị trời giảng nói chánh pháp, khiến được điều phục, măi đến lúc người chỉ c̣n thọ được 120 tuổi. Thuở ấy chúng sanh ngu si tự tại, ỷ ḿnh ngay thẳng, tánh khí tự cao, có nhiều phóng túng, bon chen ganh ghét, đoạ nơi đen tối đời ác ngũ trược, ham muốn dày nặng, hờn giận kiêu căng, keo kiết ghét ghen, hành dục trái phép, cầu tài trái phép, đi trong điên đảo, ĺa bảy của thánh, bất hiếu cha mẹ, đối với sa môn và bà la môn, chẳng ḷng cung kính, việc tốt chẳng làm, làm việc chẳng tốt, chẳng làm việc phước, chẳng sợ đời sau chẳng siêng tu tập nơi ba phước sứ, chẳng vui ba thừa, chẳng ưa tu hành nơi ba căn lành, chuyên làm ba việc ác, chẳng tu 10 điều lành, năng hành 10 điều ác, tâm thường u ám v́ bốn điên đảo, phá bôn giới cấm mà vẫn yên ḷng khiến bốn ma vương thường được tự tại, trôi nổi bốn sông (tứ lưu), che tâm năm món ( năm món che tâm là ngũ cái: Dâm, sân, thuỵ, hối, nghi). Trong đời mai sau chúng sanh như vậy lục căn phóng túng, làm tám pháp tà, vào núi tội lớn, khởi các ràng buộc, chẳng cầu quả báo trong cơi Trời, Người, khiến thức điên đảo, chạy theo đường tà, phạm tội ngũ nghịch, huỷ hoại chánh pháp, phỉ báng thánh nhơn, ĺa các căn lành, nghèo hèn thấp kém, không chỗ kiên sợ, chẳng biết ơn nghĩa, mất hết chánh niệm, khinh miệt pháp lành, không có trí tuệ, chẳng hay học hỏi, phá giới nịnh nọt với ḷng ghét ghen, có vật chiếm được, chẳng chia cho người, khinh ngạo lẫn nhau, không ḷng cung kính, nhác nhớm, chậm lụt, các căn thiếu kém, thân thể yếu gầy, ăn mạc không đủ, gần gủi bạn ác, mất niệm, vào thai, v́ chịu khổ nhiều, thân h́nh tiều tuỵ, lấy mắt nh́n nhau, không biết hổ thẹn, doạ nạt lẫn nhau, trong một bửa ăn mà thân, miệng, ư tạo ra ác nghiệp vô lượng vô biên, lại hay ca tụng những người làm ác. Thời ấy chúng sanh cùng chuyển tu tập hai kiến đoạn, thường, đắm chặc ngũ ấm, dễ hư hỏng thân, đối năm món dục, ḷng tham đắm sâu, thường khởi giận hờn, sanh tâm oán tặc, muốn hại chúng sanh, ḷng thường tức bực, dơ đục thô bạo, chưa được điều phục, keo kiết tham lam, chẳng bỏ trái phép, không có quyết định, cùng sợ sệt nhau, khởi ḷng tranh cạnh, lấy tâm dơ đục, cùng giết hại nhau, xa ĺa pháp lành, khởi ḷng chẳng tốt, tạo các ác nghiệp, chẳng tin quả báo lành, hoặc chẳng lành, đối các thiện pháp, khởi tâm trái ngược, trừ được pháp lành, sanh ḷng hớn hở, đối các pháp ác, khởi duyên tâm làm, đối với niết bàn rỗng rang vắng lặng, sanh ḷng chẳng thích, thấy bậc sa môn hay bà la môn giữ giới, lại sanh bất kính, nơi các ràng buộc, khởi ḷng hỷ cầu, nơi già, bệnh, chết, sanh tâm thâm tín, nơi các phiền năo, khởi ḷng giận giữ, nơi pháp ngũ nghịch sanh tâm nhiếp thủ, nơi tràng chánh pháp, khởi tâm xa ĺa, nơi tràng ác kiến, sanh ḷng đứng vững. Thường khởi chống nhau, khinh chê nói xấu, với ḷng tranh đấu ăn hại lẫn nhau, cùng trái ngược nhau, cùng xâm lấn nhau, ai nấy nhiếp thủ những điều oán hận, những việc năo ḷng. Nơi điều muốn ác, khởi tâm chẳng chán, nơi tài vật người, khởi ḷng ghét ganh, đối chỗ chịu ơn, khởi tâm chẳng báo, đối với chúng sanh, khởi ḷng trộm cướp, đối vợ con người, khởi tâm xâm phạm. Thời ấy chúng sanh hết thảy trong tâm không có thiện nguyện, bởi vậy thường nghe tiếng địa ngục, tiếng súc sanh, tiếng ngạ quỹ, tiếng bệnh tật, tiếng già chết, tiếng năo hại, tiếng tám nạn, tiếng bít lấp, trói buộc, tiếng xiềng kẹp, gông cùm khí giới, tiếng bắt nhốt giam giữ, tiếng bực tức, cướp đoạt của người, tiếng giận giữ, khinh chê quở trách, tiếng phá hoại chúng sanh hoà hiệp, tiếng binh giáp giặc nước phương xa, tiếng đói khổ, tiếng dua nịnh chèn ép trộm cắp, tiếng tà dâm, nói láo, điên cuồng si ngây, tiếng nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói lời ác, tiếng keo lận, tham lam ghen ghét, tóm giữ, tiếng đấu tranh, yêu đắm cái ta và cái của ta, tiếng ghét thương thích ư, chẳng thích ư, tiếng ưu sầu, ân ái biệt ly, tiếng oán ghét tụ họp khổ năo, tiếng tiểu dồng, đứa ở, mỗi mỗi sợ nhau, tiếng ở thai, dơ thúi, chẳng sạch, tiếng nóng lạnh, đói khát, mỏi mệt cực khổ, tiếng cày cấy gieo trồng, việc đột ngột, tiếng mệt chán, các thứ công xảo, tiếng bệnh tật, khổ lo, gầy yếu, bỏ đi. Thời ấy chúng sanh thường nghe các tiếng như thế. Chúng sanh như vậy dứt hết căn lành ĺa thiện trí thức, thường ôm giận hờn, thế giới Ta bà đầy dẫy những người như vậy. V́ mạng nghiệp nặng, nên họ bị đuổi hay đă bỏ đi từ các cơi Phật ở các phương xa. Vào thời Hiền kiếp, tuổi thọ của người 120 là do duyên nghiệp, họ đă xa ĺa tất cả căn lành, nên phải thọ sanh vào cơi thấp kém, nhỏ hẹp quê vụng. Nơi cơi Ta bà, địa thế có nhiều đất muối mặn đắng, đá sỏi, cát bụi, núi đồi, g̣ đống, khe hang hào vũng, muỗi ṃng rắn độc, thú dữ chim ác, đầy dẫy khắp nơi, mặt đất thô nhám, gió độc trái thời, lại thường trái thời, mưa đá, mưa lớn, nước mưa mặn đắng, khiến nên cây cỏ, thân cành đốt nhánh, lá hoa quả vỏ, thảy đều tạp độc, đó là các vật tạp độc dơ ác thô nhám trái thời. Ăn các vật đó, người thêm sân hận, nhan sắc tiều tuỵ, chẳng được trơn mướt, nơi chúng sanh đó ḷng không từ mẫn, chẳng biết thương xot, phỉ báng thánh nhân, mỗi mỗi không có ḷng cung kính, thường ôm sự doạ nạt, tàn hại lẫn nhau, khiến tâm sanh năo loạn, ăn thịt, uống máu, lột da làm áo, cầm nắm dao gậy, siêng việc giết chóc, ỷ thị buông lung, sắc tướng hung dữ, đọc tụng ngoại điền, thích tập cưỡi ngựa, khéo dùng giáo dài, cung tên nhắm bắn, chống cự lẫn nhau, nên trong quyến thuộc cũng sanh tâm ganh ghét. Các chúng sanh ấy tu tập pháp tà, nên chịu mọi khổ. Bạch Thế Tôn! Con nguyện thời ấy, từ trời Đâu Suất hạ sinh xuống nhà Chuyển luân thánh vương hoặc Tự tại vương hơn cả thiên hạ vào thai bà đại đệ nhất phu nhân, v́ các chúng sanh điều phục tâm bà, v́ tu căn lành nên khi vào thai phóng ánh sáng lớn, ánh sáng vi diệu, chiếu khắp Ta bà, từ bờ Kim can lên đến cơi Trời Sắc cứu cánh khiến các chúng sanh ở khắp mọi nơi, hoặc tại địa ngục,  hoặc tại súc sanh, hoặc tại ngạ quỹ, hoặc ở cơi người, hoặc ở cơi Trời, hoặc có sác, hoặc không sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc phải có tưởng, hoặc chẳng phải không tưởng, đều nguyện khắp thấy ánh sáng vi diệu từ con phóng ra, ánh sáng chạm thân nguyện khiến họ biết, bởi nhờ thấy biết, họ phân biệt được nỗi khổ sống chết, siêng cầu niết bàn vắng lặng vô thượng, cho đến một niệm dứt các phiền năo, điều đó gọi là khiến cho chúng sanh bắt đầu gieo trồng gốc niết bàn vậy. Con nguyện ở thai đầy đủ 10 tháng, được lựa chọn tất cả pháp vào tất cả pháp môn, đó gọi là Vô Sanh Không Tam Muội Môn. Nơi đời vị lai, trong vô lượng kiếp, nói tam muội ấy, khiến tâm quyết định, chẳng thể hết được. Khi con xuất thai, thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, các chúng sanh kia sẽ được con cứu thoát khỏi sanh tử, khiến họ thấy con tuy ở thai mẹ đầy đủ 10 tháng nhưng con thực trụ Trân Bảo Tam muội, vẫn ngồi kiết già chánh thọ tư duy. Đủ 10 tháng qua, con sẽ ra đời từ hông bên phải, nhờ tất cả các công đức thành tựu sức tam muội, khiến thế giới Ta ba từ bờ Kim cang lên đến trời Sắc cứu cánh, chấn động sáu cách, chúng sanh trong đó, hoặc ở địa ngục, súc sanh, ngạ quỹ, hoặc ở cơi trời hay ở cơi người, đều được tỉnh ngộ. Lúc ấy lại có ánh sáng vi diệu chiếu khắp cơi Ta bà cũng làm tỉnh ngộ vô lượng chúng sanh. Nếu có chúng sanh chưa trồng căn lành, con sẽ khiến họ yên dừng, trồng các thiện căn. Trồng được thiện căn nơi niết bàn rồi, chúng sanh sẽ được khiến sanh mầm non tam muội. Ra khỏi hông phải, lúc con đạp đất, lại nguyện thế giới Ta bà, từ bờ Kim cang lên đến cơi trời Sắc cứu cánh, chấn động sáu cách, bao nhiêu chúng sanh, dưới nức, trên đất, nương ở hư không, tại khắp năm đường, sanh con, sanh trứng, sanh chỗ ẩm ướt, hay là hoá sanh, thảy đều tỉnh ngộ. Nếu có chúng sanh chưa được tam muội, nguyện họ được cả. Được tam muội rồi, nguyện họ yên dừng, trụ pháp ba thừa, đến bất thối chuyển. Khi con đă sanh tại cơi Ta bà, bao nhiêu vị trời: Phạm Vương Thiên Ma, chư Thiên Đao Lợi và Trời Nhật Nguyệt, Trời Tứ Thiên Vương, các Đại Long Vương, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, thần hoá sanh Tiên, dạ xoa, la sát, hết thảy đều được khiến đến cúng dường con, khiến con sanh rồi, bèn đi bảy bước. Đi bảy bước xong, nhờ đức Tuyển trạch công đức tam muội. Con nói chánh pháp, khiến các đại chúng sanh ḷng vui mừng, trụ ở ba thừa. Trong số chúng đó, nếu có chúng sanh học theo Thanh văn, nguyện hết đời ấy, họ được điều phục, nếu có học tập theo thừa Duyên giác, tất cả đều được Nhật hoa nhẫn nhục, nếu có học tập theo pháp Đại thừa, th́ được Chấp tŕ Kim cang ái hộ đại hải tam muội, nhờ sức tam muội, vượt quá tam địa. Nếu con lúc ấy mong cầu tắm gội, nguyện có tối thắng Đại Long Vương đến tắm gội thân con. Chúng sanh thấy vậy, liền trụ ba thừa. Được bao nhiêu công đức như trên đă nói, con làm đồng tử, lúc cưỡi xe dê, sẽ đem thị hiện các loại kỹ thuật v́ muốn tỉnh ngộ tất cả chúng sanh, ở tại cung điện với vợ con thê nữ, sống trong ngũ dục, cùng nhau vui sướng, nhưng thấy họ lo khổ đành nửa đêm ra thành bỏ lại tất cả trừ các chuỗi ngọc và vật nghiêm than, v́ muốn phá hoại các sư ngoại đạo và Ni Kiền Tử thường chỉ cung kính y phục bề ngoài, nên con phải mặc áo cà sa, đến dưới cây Bồ đề. Chúng sanh thấy con dưới cội Bồ đề, ắt đều phát nguyện muốn khiến con mau dùng tất cả công đức thành tựu sức tam muội mà nói pháp ba thừa. Nghe pháp ấy rồi, đối với ba thừa, ḷng sâu vững muốn siêng hành tinh tấn. Nếu có ai đă theo thừa Thanh văn th́ khiến họ thoát khởi các phiền năo, một đời theo con mà được điều phục, nếu có ai đă theo thừa Duyên giác th́ khiến họ được Nhật Hoa nhẫn nhục. Nếu có ai đă phát tâm đại thừa th́ khiến đều được Chấp tŕ Kim cang ái hộ đại hải tam muội, nhờ sức tam muội vượt quá tứ địa. Dưới cây Bồ đề, con tự lấy cỏ bày toà Kim Cang rồi ngồi kiết già, thân tâm ngay thẳng, buộc niệm tại nơi a pha tam muội, nhờ súc tam muội, hơi thở vô ra ngừng lại vắng lặng. Ở trong định ấy một ngày một đêm. Ngày ăn nửa rau nửa gạo, c̣n lại một nửa cho kẻ khác. Như vậy lâu dài, con tu khổ hạnh. Từ cơi Ta bà lên tới cơi Trời Sắc cứu cánh ai nghe danh con đều đến tận nơi cúng dường cho con. Khổ hạnh như vậy, chúng đến như vậy, ắt sẽ v́ con mà chứng minh cho. Nếu có chúng sanh, nơi thừa Thanh văn đă trồng căn lành, kính bạch Thế Tôn nguyện khiến cho họ tâm được vắng lặng thoát khỏi phiền năo, một đời, nếu c̣n cốt đến chỗ con. Con sẽ điều phục. Duyên Giác, Đại thừa cũng lại như vậy. Nếu có các rồng, quỹ thần, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Ngạ quỹ, Tỳ xá già, Tiên, Thần ngũ thông, đến tận chỗ con cúng dường cho con, con tu khổ hạnh, họ thấy như vậy, họ sẽ v́ con mà chứng minh cho. Nếu ai đă học Thanh văn Duyên giác, hoặc theo Đại thừa, cũng lại như vậy. Nếu có chúng sanh trong bốn thiên hạ, tu theo ngoại đạo, khổ hạnh thô thực, th́ có phi nhơn đến tận chỗ họ mà nói như vầy: Quư vị chẳng nên theo hạnh khổ đó. V́ sao? V́ cũng chẳng được quả báo lớn đâu. Chẳng phải như vậy gọi là hi hữu. Trong địa phận con có một Bồ tát, nhất sanh bổ xứ, tu hành khổ hạnh, lại nhập thiền định vi diệu như vầy là thân, miệng, ư, thảy đều vắng lặng, diệt mất hơi thở một ngày một đêm, ban ngày lại ăn nửa rau nửa gạo, khổ hạnh như thế được quả báo lớn, được lợi ích lớn, khai hoá được nhiều. Người tu như vậy ắt chẳng bao lâu sẽ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nếu quư vị chẳng tin lời tôi nói, hăy đến tại chỗ mà xem người làm. Bạch Thế Tôn! Nguyện các vị đó, bỏ lối tu kia, đều đến chỗ con xem con khổ hạnh. Nếu có chúng sanh đă học Thanh văn,.. cho đến Đại thừa, lại cũng như vậy. Nếu có các vua, đại thần, nhân dân, tại gia, xuất gia, hết thảy thấy con hành khổ hạnh ấy đều đến chỗ con cúng dường cho con, hoặc có ai học thanh văn, duyên giác, hay là Đại Thừa, cũng lại như vậy. Nếu có người nữ thấy con khổ hạnh, đến tận chỗ con, cúng dường cho con, th́ thân nữ ấy, kiếp ấy là chót. Nếu có ai học thanh văn, duyên giác hay học Đại thừa cũng lại như vậy. Nếu có cầm thú thấy khổ hạnh con, cũng đến chỗ con th́ cầm thú đó, sau lúc mệnh chung, đều chẳng lại phải thọ thân súc sanh. Nếu có ai đă phát thừa thanh văn, th́ lúc sống c̣n chỉ đến chỗ con và được điều. Nếu có người đă phát tâm duyên giác, lại cũng như vậy, cho đến côn trùng nhỏ be, ngạ quỹ lại cũng như vậy. Như thế là con khổ hạnh lâu dài, lúc ngồi kiết già có trăm ngàn ức na do tha vô lượng chúng sanh v́ con mà chứng minh. Chúng sanh như vậy là đă gieo mầm giải thoát nơi vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp. Bạch Thế Tôn! Khổ hạnh của con như vậy, chúng sanh quá khứ chưa từng làm, và các ngoại đạo, thanh văn, duyên giác, người theo Đại thừa cũng chẳng có ai khổ hạnh như thế. Bạch Thế Tôn! Khổ hạnh của con như vậy, chúng sanh vị lai cũng không thể làm và các ngoại đạo, thanh văn, duyên giác, người theo Đại thừa cũng không có ai khổ hạnh như vậy. Lúc chưa thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, con đă có thể làm việc đại sự, đó gọi là pháp hoại Ma vương cùng quyến thuộc chúng. Con nguyện phá ma phiền năo nên thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, v́ một chúng sanh, hay người thứ hai, thứ ba, thứ tư,… cũng vậy. Nếu họ an trụ trong quả A la hán thắng diệu, th́ tuỳ chỗ họ hiện chịu thân nghiệp báo c̣n thừa, mà v́ mỗi một thị hiện trăm ngàn vô lượng thần túc, để khiến họ an trụ trong chánh kiến, v́ mỗi mỗi chúng sanh nên nói trăm ngàn vô lượng nghĩa pháp môn tuỳ họ kham lănh, khiến trụ thánh quả, dùng trí tuệ Kim cang phá tất cả các núi phiền năo, của chúng sanh, v́ các chúng sanh nói pháp ba thừa, v́ mỗi mỗi chúng sanh, vượt trăm ngàn do tuần, chẳng dùng thần lực, đến chỗ họ ở, v́ họ nói pháp, khiến được an trụ nơi không chỗ sợ, hoặc có những người muốn được xuất gia tu trong pháp con, nguyện họ chẳng gặp các chướng ngại như: Gầy yếu mất niệm, điên loạn kiêu ngạo chẳng có sợ sệt, si không trí huệ, có nhiều kiết sử, tâm bị tán loạn. Nếu có người nữ muốn được xuất gia học nơi pháp con nên nhận đại giới, nguyện khiến cho họ thành tựu đại nguyện. Con được tứ chúng là Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di cúng dường, nguyện cho Trời, Người, cùng các quỹ thần được bốn thánh đế, các rồng, A tu la và các súc sanh, thọ giữ tám giới, tu tập phạm hạnh thanh tịnh. Bạch Thế Tôn! Con thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, nếu có chúng sanh nổi giận hoặc dùng dao gậy, hố lửa, và các thứ khác muốn tàn hại con, hoặc dùng lời ác, dèm che, mắng chửi, khinh bỉ nói xấu ở khắp mọi nơi, hoặc dùng món ăn độc bỏ vào cơm con, đó là dư nghiệp, con tất nhận lănh. Thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, c̣n có chúng sanh thuở xưa oán hận, khởi tâm hăm hại, dùng các lời ác, món ăn tạp độc, làm cho thân con chảy máu, các người như vậy ắt có các tâm khi đến chỗ con, con sẽ dùng giới Đa văn tam muội, đại bi huân tâm, phạm âm diệu thanh, v́ họ nói pháp, khiến họ nghe rồi, sanh tâm thanh tịnh, trụ nơi pháp lành, bao nhiêu ác nghiệp, họ liền sám hối, chẳng lại tái phạm, điều ấy khiến họ được sanh lên trời hay vào cơi người, không bị chướng ngại. Sanh vào cơi Trời, Người, được diệu giải thoát an trụ thánh quả, ĺa các dục ác, dứt tuyệt các lưau, hết nghiệp chướng ngại. Nếu các chúng sanh c̣n có dư nghiệp, ắt đều hết cả, chẳng c̣n chừa lại. Bạch Thế Tôn! Con thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi tất cả các lỗ chân lông nơi thân, ngày ngày thường có các vị hoá Phật hiện ra, đủ 32 tướng tốt, chuỗi ngọc đeo thân, 80 vẻ đẹp thứ lớp trang nghiêm, con chuyển hoá Phật đến các thế giới, không Phật, có Phật và không chăng đang ở cơi ngũ trược. Nếu các cơi ấy có người ngũ nghịch, huỷ hoại chánh pháp, dèm chê thánh nhơn, cho đến các căn lành, có học thanh văn, duyên giác, đại thừa, phá bỏ các giới, đoạ nơi tội lớn, đết hết thiện tâm, diệt mất thiện đạo, đoạ vào sanh tử, giữa chỗ trống trơn, làm theo tà đạo, vượt qua núi tội, các chúng sanh ấy, nội trong một ngày, mỗi mỗi đều được trăm ngàn vạn ức hoá Phật v́ họ nói pháp, hơcj có người thờ Ma ê, Thủ la, th́ tuỳ đó hiện h́nh, v́ họ nói pháp, cũng trong thời ấy, xưng tên con ra mà khen ngợi con. Nguyện chúng sanh đó, nghe khen ngợi con, sanh tâm vui mừng, trồng được căn lành, sanh về cơi con. Bạch Thế Tôn! Các chúng sanh ấy đến lúc lâm chung, nếu chẳng thấy con hiện ra nói pháp, khiến tâm thanh tịnh, th́ trong đời sau con chẳng được thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nếu chúng sanh ấy, sau lúc mệnh chung, đoạ ba đường ác, chẳng sanh nước con, chẳng được làm người, th́ bao hiểu biết của con về vô lượng chánh pháp đều sẽ diệt mất, bao nhiêu Phật sự cuẩ con đều chẳng thành tựu. Người thờ Na la diên, cũng lại như vậy. Bạch Thế Tôn! Con thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, nguyện khiến thế giới phương xa, có bao nhiêu người phạm tội ngũ nghịch, cho đến làm theo tà đạo, vượt qua núi tội, th́ lúc mệnh chung, họ đến tụ tập sanh về nước con, tuỳ bổn tướng họ mà được thọ thân, tốt tươi, trắng đẹp, hay không nhuần nhă, xấu xa, vụng nhỏ, như Tỳ xá già, mất niệm, phá giới, dơ xấu, ngắn đời v́ các điều ác, khiến tổn giảm thân, của cải, vật cần, thường chẳng được đủ.

V́ các chúng sanh ấy, nên nơi cơi Ta bà, các bốn thiên hạ, con phải một thời, từ trời Đâu Suất hiện xuống thai mẹ, sinh thành đồng tử, học các kỹ nghệ, xuất gia khổ hạnh, phá hoại các ma, thành đạo vô thượng, chuyển bánh xe pháp, sau nhập niết bàn, lưu bố xá lợi. Thị hiện các loại Phật sự như vậy, đầy khắp trăm ức các tứ thiên hạ cũng đều như vậy.

 

 

Kinh Bi-Hoa hết quyển thứ sáu

 

*           *

*

 

 

 

QUYỂN THỨ BẢY

Bắc- Lương Thiên- Trúc Tam Tạng Đàm Vô Sấm dịch ra Hoa Văn.

 

 

 

 

PHẨM IV

THỌ KÝ CHƯ VỊ BỒ TÁT

CHI V

 

Bạch Thế Tôn! Con thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, nói pháp một âm. Hoặc có chúng sanh học thừa thanh văn, nghe Phật nói pháp, họ liền được biết kho pháp thanh văn, hoặc có tu học thừa Bích Chi Phật, nghe Phật nói pháp liền được hiểu rơ pháp Phật Bích Chi hoặc có tu học đại thừa vô thượng, nghe Phật nói pháp liền được hiểu rơ pháp môn đại thừa, thuần nhất không tạp. Nếu có tu tập pháp trợ bồ đề muốn được bồ đề, nghe Phật nói pháp, bèn muốn xả của, làm việc bố thí, nếu có chúng sanh ĺa các công đức, cầu được vui sướng nơi cơi Trời, người, nghe Phật nói pháp, liền muốn giữ giới, nếu có chúng sanh doạ nạt lẫn nhau, ḷng ưa sân hận, nghe Phật nói pháp, ắt liền khởi tâm muốn gần gủi nhau, nếu có chúng sanh vui làm nghiệp sát, nghe Phật nói pháp tức được bi tâm, nếu có chúng sanh thường v́ keo kiết ganh ghét che tâm, nghe Phật nói pháp bèn tu hỷ tâm, nếu có chúng sanh ngay thẳng không bệnh, tham đắm nơi sắc, ḷng sanh phóng túng, nghe Phật nói pháp bèn tu xả tâm, nếu có chúng sanh lửa dục cháy bừng, sanh ḷng phóng dật, nghe Phật nói pháp, liền quán bất tịnh, nếu có chúng sanh học pháp đại thừa, lấy ḷng thương xót tự che bổn tâm, nghe Phật nói pháp, liền được thân niệm xứ pháp. Nếu có chúng sanh thường tự khen ḿnh hay luận nghĩa rộng, trí tuệ nhanh sáng giống như điện chớp, nghe Phật nói pháp liền hiểu rất sâu 12 nhân duyên, nếu có chúng sanh ít nghe ít thấy, tự xưng năng luận, nghe Phật nói pháp, tức được các Đà la ni chẳng cướp chẳng mất. Nếu có chúng sanh vào núi tà kiến, nghe Phật nói pháp, liền hiểu các pháp không môn rất sâu. Nếu có chúng sanh, các giác che tâm, nghe Phật nói pháp liền được hiểu sâu pháp môn Không tướng. Nếu có chúng sanh các nguyện bất tịnh che lấp bổn tâm, nghe Phật nói pháp, liền được hiểu sâu pháp môn vô tác. Nếu có chúng sanh, tâm chẳng thanh tịnh, nghe Phật nói pháp, tâm được thanh tịnh. Nếu có chúng sanh dùng nhiều duyên che tâm, nghe Phật nói pháp, được hiểu chẳng mất tâm pháp bồ đề. Nếu có chúng sanh sân hận che tâm, nghe Phật nói pháp, hiểu chân thực tướng, được thọ kư riêng. Nếu có chúng sanh, nương sự cậy nhờ mà bị che tâm, nghe Phật nói pháp, hiểu sâu các pháp không nơi nương tựa. Nếu có chúng sanh, yêu đắm che tâm, nghe Phật nói pháp, mau hiểu các pháp thanh tịnh không dơ. Nếu có chúng sanh quên mất thiện tâm, nghe Phật nói pháp, hiểu sâu Nhật quang tam muội. Nếu có chúng sanh làm các ma nghiệp, nghe Phật nói pháp, mau được hiểu rơ tánh pháp thanh tịnh. Nếu có chúng sanh, tà luận che tâm, nghe Phật nói pháp liền được hiểu sâu chánh pháp thêm ích. Nếu có chúng sanh, phiền năo che tâm, nghe Phật nói pháp, mau được hiểu rơ pháp ĺa phiền năo. Nếu có chúng sanh làm các ác đạo, nghe Phật nói pháp, liền được hổi tỉnh. Nếu có chúng sanh nơi pháp Đại thừa, khen nói tà pháp cho là lành diệu, nghe Phật nói pháp, liền nơi tà pháp sanh tâm thối chuyển mà được chánh giải. Nếu có Bồ tát chán nơi sinh tử, nghe Phật nói pháp, liền nơi sanh tử khởi tâm yên vui. nếu có chúng sanh chẳng biết thiện địa, nghe Phật nói pháp, liền được hiểu rơ pháp thiện đại. Nếu có chúng sanh, thấy người làm lành, ḷng chẳng vui ưa, lại sanh ghen ghét, nghe Phật nói pháp liền được vui ḷng. Nếu có chúng sanh, ḷng trái ngược nhau, nghe Phật nói pháp liền được sáng suốt vô ngại. Nếu có chúng sanh làm các nghiệp ác, nghe Phật nói pháp hiểu sâu nghiệp ác phải có quả báo. Nếu có chúng sanh sợ sệt đại chúng, nghe Phật nói pháp, được hiểu sâu rơ Sư Tử tướng tam muội. Nếu có chúng sanh bị bốn ma che tâm, nghe Phật nói pháp, mau được Thủ Lăng nghiêm tam muội. Nếu có chúng sanh, chẳng thấy quốc độ chư Phật sáng lạng, nghe Phật nói pháp liền được hiểu sâu các thứ Trang nghiêm quang minh tam muội. Nếu có chúng sanh có ḷng yêu ghét, nghe Phật nói pháp, liền được xả tâm. Nếu có chúng sanh chưa được pháp Phật quang minh, nghe Phật nói pháp, liền được pháp tràng tam muội. Nếu có chúng sanh, ĺa đại trí tuệ, nghe Phật nói pháp, liền được pháp cự tam muội. Nếu có chúng sanh, nghi ám che tâm, nghe Phật nói pháp, liền được Nhật đăng quang minh tam muội. Nếu có chúng sanh, miệng không biện tài, nghe Phật nói pháp liền được các thứ ứng biện công đức lớn. Nếu có chúng sanh quán sắc hoà hiệp chẳng có vững chắc, giống như bọt nước, nghe Phật nói pháp, tức được Na la diên tam muội. Nếu có chúng sanh, tâm loạn chẳng định, nghe Phật nói pháp liền được kiên lao quyết định tam muội. Nếu có chúng sanh muốn quán Phật đảnh, nghe Phật nói pháp, tức được Tu di tràng tam muội. Nếu có chúng sanh buông xả bổn nguyện, nghe Phật nói pháp, tức được Kiên lao tam muội. Nếu có chúng sanh lui mất các tâm, nghe Phật nói pháp, tức được Kim cang tam muội. Nếu có chúng sanh sinh ḷng nghi hoặc đạo tràng bồ đề, nghe Phật nói pháp, tức được Liễu đạt kim cang đạo tràng. Nếu có chúng sanh kông ḷng chán ĺa tất cả các pháp, nghe Phật nói pháp, tức được Kim cang tam muội. Nếu có chúng sanh chẳng biết tâm người, nghe Phật nói pháp, tức biết tha tâm. Nếu có chúng sanh, không biết các căn linh lợi, cùn lụt, nghe Phật nói pháp, tức biết lợi độn. Nếu có chúng sanh mỗi mỗi chủng loại chẳng cùng hiểu nhau nghe Phật nói pháp, tức được Giải liễu âm thanh tam muội. Nếu có chúng sanh chưa được pháp thân, nghe phật nói pháp, tức được hiểu rơ các thân phan biệt. Nếu có chúng sanh chẳng thấy thân Phật, nghe Phật nói pháp tức được Bất câu tam muội. Nếu có chúng sanh phân biệt các duyên, nghe Phật nói pháp tức được Vô tránh tam muội. Nếu có chúng sanh sinh tâm nghi hoặc khi pháp luân chuyển, nghe Phật nói pháp tâm được thanh tịnh, khi pháp luân chuydeern. Nếu có chúng sanh khởi ḷng tà hạnh vô nhân, nghe Phật nói pháp, tức được pháp sáng tuỳ thuận nhân duyên. Nếu có chúng sanh khởi tâm thường kiến nơi một cơi Phật, nghe Phật nói pháp, tức được khéo phân biệt vô lượng Phật độ. Nếu có chúng sanh chưa trồng các tướng căn lành, nghe Phật nói pháp, tức được các loại trang nghiêm tam muội. Nếu có chúng sanh  chẳng khéo phân biệt tất cả ngôn ngữ, nghe Phật nói pháp, tức được Giải liễu phân biệt chủng chủng ngôn âm tam muội. Nếu có chúng sanh chuyên cầu được tất cả trí tuệ, nghe Phật nói pháp, tức được Vô sở phân biệt pháp giới tam muội. nếu có chúng sanh thối chuyển nơi pháp, nghe Phật nói pháp, tức được Kiên cố tam muội. Nếu có chúng sanh chẳng biết pháp giới, nghe Phật nói pháp, tức được đại trí tuệ. Nếu có chúng sanh ĺa bổn thệ nguyện, nghe Phật nói pháp, tức được Bất thất tam muội. Nếu có chúng snh phân biệt các đạo, nghe Phật nói pháp, tức được một đạo không chỗ phân biệt. Nếu có chúng sanh nôn cầu trí tuệ, muốn đồng hư không, nghe Phật nói pháp, tức được Vô sở hữu tam muội. Nếu có chúng sanh chưa được đầy đủ các Ba la mật, nghe Phật nói pháp, tức được trụ nơi tịnh ba la mật. Nếu có chúng sanh chưa được đầy đủ bốn nhiếp pháp, nghe Phật nói pháp, tức được Diệu thiện nhiếp thủ tam muội. Nếu có chúng sanh phân biệt bốn tâm vô lượng, nghe Phật nói pháp, tức được B́nh đẳng cần tâm tinh tấn. Nếu có chúng sanh chưa được đầy đủ 37 pháp trợ bồ đề, nghe Phật nói pháp tức được trú Bất xuất thế tam muội. Nếu có chúng sanh, bổn tâm mất niệm và thiện trí tuệ, nghe Phật nói pháp tức được Đại hải trí ấn tam muội. Nếu có chúng sanh bổn tâm nghi hoặc, chưa sanh pháp nhẫn, nghe Phật nói pháp tức được Chư pháp quyết định tam muội, nhờ một pháp tướng. Nếu có chúng sanh, quên pháp đă nghe, nghe Phật nói pháp, tức được Bất thất niệm tam muội. Nếu có chúng sanh, mỗi mỗi nói pháp, chẳng cùng vui mừng, nghe Phật nói pháp, tức được tuệ nhăn thanh tịnh, không có lưới nghi. Nếu có chúng sanh, chẳng sanh tín tâm đối với Tam bảo, nghe Phật nói pháp, tức được Công đức tăng trưởng tam muội. Nếu có chúng sanh, nghèo khát mưa pháp, nghe Phật nói pháp, tức được Pháp vũ tam muội. Nếu có chúng sanh, đối với Tam bảo, khởi kiến đoạn diệt, nghe Phật nói pháp, tức được Chư bửu trang nghiêm tam muội. Nếu có chúng sanh, chẳng tạo trí nghiệp, chẳng siên tinh tấn, nghe Phật nói pháp, tức được Kim can trí tuệ tam muội. Nếu có chúng sanh, v́ các phiền năo mà bị ràng buộc, nghe Phật nói pháp, tức được Hư không ấn tam muội. Nếu có chúng sanh, tính toán cái ta và cái của ta, nghe Phật nói pháp, tức được Trí ấn tam muội. Nếu có chúng sanh, chẳng biết Như Lai đầy đủ công đức, nghe Phật nói pháp, tức được Thế gian giải thoát tam muội. Nếu có chúng sanh, trong đời quá khứ chưa cúng dường Phật, nghe Phật nói pháp, tức được các loại biến hoá thần túc. Nếu có chúng sanh, chưa được nghe nói về mật pháp giới, trong vô lượng kiếp nơi đời vị lai, nghe Phật nói pháp, tức được giải thoát tất cả các pháp đồng nhất pháp giới. Nếu có chúng sanh, chưa được lựa chọn vào tất cả kinh, nghe Phật nói pháp, tức được các pháp b́nh đẳng thực tướng tam muội. Nếu có chúng sanh, ĺa pháp lục hoà, nghe Phật nói pháp, tức được Giải liễu Chư pháp tam muội. Nếu có chúng sanh, đối với pháp môn giải thoát chẳng khá nghĩ bàn, chẳng siêng tinh tấn, nghe Phật nói pháp, tức được Sư Tử du hư tam muội, đủ các thần thông. Nếu có chúng sanh, muốn biết phân biệt nhập Như Lai Tạng, nghe Phật nói pháp, cuối cùng chẳng nghe theo người, liền được phân biệt nhập Như Lai Tạng. Nếu có chúng sanh, nơi đạo bồ đề, chẳng siêng tinh tấn, nghe Phật nói pháp, tức được trí tuệ, siêng năng tinh tấn. Nếu có chúng sanh, chưa từng được thấy Bổn sanh kinh, nghe Phật nói pháp, tức được Nhất thiết tại tại xứ xứ tam muội. Nếu có chúng sanh, hành đạo chưa xong, nghe Phật nói pháp, tức được Thọ kư tam muội. Nếu có chúng sanh, chưa được đầy đủ mười phương Như Lai, nghe Phật nói pháp, tức được Vô hoại tam muội. Nếu có chúng sanh, chưa được đầy đủ bốn món không sợ, nghe Phật nói pháp, tức được Vô tận ư tam muội. Nếu có chúng sanh, chưa được đầy đủ 18 pháp bất cộng của Phật, nghe Phật nói pháp, tức được Bất cộng pháp tam muội. Nếu có chúng sanh, chưa được đầy đủ cái thấy không ngu, nghe Phật nói pháp, tức được Nguyện cú tam muội. Nếu có chúng sanh, chưa biết tất cả pháp môn của Phật, nghe Phật nói pháp, tức được Tiên sạch vô cấu tịnh ấn tam muội. Nếu có chúng sanh, chưa được đầy đủ tất cả các trí, nghe Phật nói pháp, tức được Thiện liễu tam muội. Nếu có chúng sanh, chưa được thành tựu tất cả Phật sự, nghe Phật nói pháp, tức được Vô lượng bất tận ư tam muội. Như vậy, các chúng sanh đó ở trong Phật pháp đều được tin hiểu. Có những Bồ tát tâm tánh ngay thật, chẳng có nịnh cong, nghe Phật nói pháp tức được 8 vạn 4 ngàn pháp môn, 84 ngàn tam muội, 75 ngàn môn đà la ni. Có vô lượng vô biên a tăng kỳ Bồ tát Ma ha tát tu tập Đại thừa, được nghe nói pháp, cũng lại như vậy, được vô lượng công đức, yên, dừng trụ nơi địa bất thối chuyển. Như vậy chư Bồ tát Ma ha tát, v́ muốn được các cách trang nghiêm vững bền, nên phát nguyện chẳng khá nghĩ bàn, được thêm những tri kiến lợi ích chẳng khá nghĩ bàn để tự trang nghiêm: V́ có 32 tướng tốt trang nghiêm, nên được 80 vẻ đẹp, v́ có diệu âm trang nghiêm, nên tuỳ theo chỗ chúng sanh mà nói pháp vui, khiến người nghe pháp tri kiến đầy đủ, v́ tâm trang nghiêm, nên được các tam muội, chẳng sanh thối chuyển, v́ niệm trang nghiêm, nên chẳng mất tất cả các đà la ni, v́ tâm trang nghiêm, nên phân biệt được các pháp, v́ niệm trang nghiêm nên được hiểu vô số nghĩa như số bụi nhỏ, v́ thiện tâm trang nghiêm nên được thề nguyện kiên cố, tinh tấn vững chắc, như sở nguyện của ḿnh lợi ích cho sự giải thoát, v́ chuyên tâm trang nghiêm, nên thứ lớp vượt qua các chỗ trụ, v́ bố thí trang nghiêm nên nơi các chỗ tu đều có thể xả bỏ, v́ giữ giới trang nghiêm nên khiến tâm lành trong trắng, thanh tịnh không dơ, v́ nhẫn nhục trang nghiêm, nên nơi các chúng sanh, tâm không chướng ngại, v́ tinh tấn trang nghiêm nên tất cả sự giúp đỡ đều được thành tựu, v́ thiền định trang nghiêm nên trong tất cả tam muội đều được Sư Tử du hư, v́ trí tuệ trang nghiêm nên biết thói quen của các phiền năo, v́ từ trang nghiêm nên chuyên tâm nhớ đến tất cả chúng sanh, v́ bi trang nghiêm ắt năng cứu vớt chúng sanh thoát khổ, v́ hỷ trang nghiêm nên tâm không nghi hoặc nơi tất cả các pháp, v́ xả trang nghiêm nên ĺa được tâm kiêu ngạo, tâm không cao thấp, v́ các thông trang nghiêm nên được Sư Tử du hư, nơi tất cả pháp, v́ công đức trang nghiêm nên tạng tay báu bửu thủ chẳng có thể hết, v́ trí trang nghiêm nên biết tâm của chúng sanh có, v́ ư trang nghiêm nên biết phương tiện làm cho tất cả chúng sanh tỉnh ngộ, v́ quang minh trang nghiêm nên được mắt trí tuệ sáng, v́ các biện trang nghiêm nên khiến chúng sanh được lờ nói và nghĩa pháp ứng hợp, v́ vô uư trang nghiêm nên tất cả các ma chẳng có thể nạn lại, v́ công đức trang nghiêm nên được mọi công đức của chư Phật Thế Tôn, v́ pháp trang nghiêm nên được biện vô ngại thường v́ chúng sanh diễn nói diệu pháp, v́ quang minh trang nghiêm nên được tất cả Phật pháp quang minh, v́ sáng chiếu trang nghiêm nên có thể chiếu khắp thế giới Phật, v́ tha tâm trang nghiêm nên được chánh trí không loạn, v́ dạy giới trang nghiêm nên được như lời, hộ tŕ giới cấm, v́ thần túc trang nghiêm nên được như ư túc đến bờ bên kia, v́ thọ tŕ tất cả trang nghiêm của chư Như Lai nên được nhập vô lượng pháp tạng của Như Lai, v́ tôn pháp trang nghiêm nên được trí tuệ chẳng theo người, v́ làm theo tất cả các pháp lành trang nghiêm, nên được làm theo như lời nói. Muốn khiến chúng sanh như vậy, ắt được các công đức lợi ích như vậy.

Nếu có vô lượng vô biên a tăng kỳ Bồ tát Ma ha tát, tu tập Đại thừa, v́ nghe tôi nói một câu pháp, ắt khiến tất cả đều được đầy đủ pháp lành thanh tịnh, trong trắng như vậy. Bởi thế nên, chư Bồ tát Ma ha tát, trong các pháp, được trí tuệ, chẳng nghe theo người khác, được thành tựu đại pháp quang minh th́ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sanh ở thế giới phương xa, phạm tội ngũ nghịch, cho đến phạm bốn trọng cấm, thiêu mất thiện pháp, nếu học thanh văn, duyên giác, đại thừa, v́ nguyện lực, muốn sanh vào thế giới con, lúc được sanh rồi, lại giữ tất cả các nghiệp chẳng lành, thô kệch xấu ác, tâm lại vui cầu hiền mạnh, khó hoà hợp nhau, chuyên ḷng theo bốn điên đảo, tham đắm keo kiết, chúng sanh như vậy 84 ngàn tánh khác nhau, tâm bị loạn động, con sẽ v́ mỗi người tánh t́nh khác nhau rộng nói 84 ngàn pháp tụ. Bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sanh học Đại thừa Vô thượng, con sẽ v́ họ rộng nói đầy đủ lục ba la mật, đó là: Đàn ba la mật,…cho đến Bát nhă ba la mật. Nếu có chúng sanh học thừa thanh văn chưa trồng căn lành, nguyện cầu chư Phật làm thầy cho họ, con sẽ khiến họ an dừng nơi tam quy y, sau mới khuyên trụ lục ba la mật. Nếu có chúng sanh vui làm việc giết hại, con khiến an dừng trong pháp chẳng giết. Nếu có chúng sanh chuyên làm chuyên ác, con khiến an trụ trong pháp chẳng trộm. Nếu có chúng sanh tà dâm trái phép, con sẽ khiến họ an dừng trong pháp chẳng được tà dâm. Nếu có chúng sanh người người cố ư dèm chê nói láo, con sẽ khiến họ an dừng trong pháp chẳng được nói láo. Nếu có chúng sanh phạm năm điều trên, con sẽ khiến nhận năm giới của Ưu bà tắc. Nếu có chúng sanh khởi chẳng vui mừng nơi các pháp lành, con sẽ khiến họ một ngày một đêm nhận giữ 8 giới. Nếu có chúng sanh ít có căn lành mà nơi căn lành sanh tâm yên vui, con sẽ khiến họ trong đời vị lai xuất gia học đạo ở trong Phật pháp, an dừng khiến trụ 10 giới tịnh phạm. Nếu có chúng sanh hy vọng cầu nơi các pháp căn lành, con khiến an dừng trong pháp căn lành khiến được thành tựu đại giới, phạm hạnh đầy đủ. Chúng sanh như vậy, phạm tội ngũ nghịch,..cho đến keo kiết, con sẽ v́ họ dùng đủ pháp môn, thị hiện thần túc, nói các nghĩa câu, chỉ bày ấm, giới, các nhập, khổ, không, vô thường, vô ngă, khiến trụ niết bàn diệu thiện an ấn, vắng lặng không sợ, v́ bốn chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, Nói Pháp. Nếu có chúng sanh cầu nghe luận nghĩa, con sẽ v́ họ nói luận chánh pháp, cho đến có người cầu được giải thoát, con sẽ v́ họ nói luận không vô. Nếu có chúng sanh tâm chẳng được vui nơi pháp chánh thiện, con sẽ v́ họ nói các sự việc mưu đồ, pḥ tá. Nếu có chúng sanh nơi pháp chánh thiện, tâm họ yên vui, con sẽ v́ họ nói Không tam muội định chỉ chánh giải thoát. Bạch Thế Tôn! Con v́ mỗi một chúng sanh như vậy, dẫu cần vượt quá trăm ngàn do tuần, chằng dùng thần túc, mà cốt chỉ bày vô lượng vô biên các thứ phương tiện, v́ giải nghĩa câu thị hiện thần túc, cho đến niết bàn, tâm chẳng sanh chán. Bạch Thế Tôn! Con v́ sức tam muội, xả phần thứ năm số được thọ mệnh, mà nhập niết bàn. Con vào thời ấy, tự phân thân ḿnh, như nửa hạt rau đay, v́ thương xót chúng sanh cầu nhập niết bàn. Nhập niết bàn rồi, chánh pháp trụ thế 1000 năm, tượng pháp ở đời trọn 500 năm. Con niết bàn rồi, nếu có chúng sanh, dùng châu, ngọc, kỹ nhạc, cúng dường xá lợi, cho đến cúi lạy, di quanh một ṿng, chấp tay khen ngợi, rải một cành hoa, v́ nhân duyên ấy tuỳ theo chí nguyện ở trong ba thừa, được bất thối chuyển măi cho đến khi đuốc pháp tắt mất, pháp tràng nghiên đổ, chánh pháp diệt rồi, xá lợi của con nằm sâu trong đất đến bờ Kim cang. Lúc thế giới Ta ba không có châu báu, th́ xá lợi con bèn làm tướng ư ngọc báu lưu ly, chiếu sáng lóng lánh, từ bờ Kim cang hiện ra thế gian lên đến cơi trời Sắc cứu cánh, mưa xuống các hoa như: Mạn đà la, Đại mạn đà la, Ba lợi chất đa và Mạn thù sa, Đại mạn thù sa, có ánh sáng tịnh, lớn như bánh xe trăm cánh ngàn cánh, hoặc vạn cánh hoặc một vạn hoa chiếu sáng khắp nơi, lại thường toả ra mùi thơm vi diệu, xem hoài không chán, ánh sáng lóng lánh, không thể tả được, hơi thơm vi diệu vô lượng vô biện, mưa xuống vô lượng các hoa thuần khiết như vậy. Đương lúc mưa hoa lại c̣n xuất ra âm thanh vi diệu: thanh Phật, thanh pháp, thanh tăng tỳ kheo, thanh tăng quy y, thanh giới Ưu bà tắc, thanh thành tự tám giới, thanh mười giới xuất gia, thanh bố thí, thanh giữ giới, thanh đủ đại giới phạm hạnh thanh tịnh, thanh giúp đỡ các việc, thanh đọc kinh, thanh phiền suy tư, thanh quán bất tịnh, thanh nhớ hơi thở vô ra, thanh có tưởng, thanh không tưởng, thanh chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng, thanh thức xứ, thanh không xứ, thanh 8 thắng xứ, thanh thập nhất thiết thập, thanh định huệ, thanh không, thanh vô tướng, thanh vô tác, thanh 12 nhân duyên, thanh cụ túc, thanh văn tạng, thanh học duyên giác, thanh đầy đủ sáu ba la mật đại thừa. Trong các hoa kia thoát ra các thanh chư vậy. Chư thiên sắc giới thảy đều nghe vậy. Chuyện xưa đă làm, các gốc thiện căn chư vị tự nhờ các việc chẳng lành đều tự hối trách, rồi tự hiện xuống thế giới Ta bà, giáo hoá thế gian, khiến vô lượng chúng sanh trụ trong thập thiện. Chư thiên dục giới cũng được nghe nhận, các sự yêu buộc, tham vui ngũ dục, các số tâm pháp đều được vắng lặng, chuyện xưa đă làm các gốc thiện căn, chư vị tự nhớ, các việc chẳng lành đều tự hối trách, rồi tự hiện xuống thế giới Ta bà, giáo hoá thế gian, khiến vô lượng chúng sanh tu trong thập thiện. Bạch Thế Tôn! Như vậy các hoa ở trong hư không lại sẽ hoá làm các loại châu báu, vàng bạc, ma ni, trân châu lưu ly, ngọc xanh, ngọc thường, báu thiệt, báu giả, mă năo, san hô, mũ trời, bửu sức, rơi xuống như mưa, đầy khắp tất cả thế giới Ta bà. Bấy giờ nhân dân tâm hồn thơi thới, không phải đấu tranh đói khổ, bệnh tật, giặc thù phương xa, lời ác độc hại,.. tất cả tiêu mất, đều được vắng lặng, lúc đó thế giới được vui như vậy. Nếu có chúng sanh thấy các châu báu, hoặc đụng, hoặc dùng, thảy chẳng thối chuyển trong ba Phật thừa. Các châu báu kia lợi ích như vậy. Làm lợi ích rồi, chúng ch́m xuống đất trở về chỗ cũ trên bờ Kim cang.

Bạch Thế Tôn! Thế giới Ta ba, thời khởi binh kiếp, xá lợi của con lại sẽ hoá làm châu cam lưu ly, từ đất hiện ra lên đến cơi trời Sắc cứu cánh, mưa các loại hoa như: Mạn đà la, Đại mạn đà la, Ba lợi chất đa, cho đến lúc chúng lại ch́m xuống đất, trở về chỗ cũ trên bờ Kim cang, cũng lại như vậy. Bạch Thế Tôn! Như kiếp binh đao, thời đói khổ bệnh tật, cũng lại như ư vậy. Thế là, trong đại bửu kiếp, con niết bàn rồi, các xá lợi kia, làm Phật sự nọ, điều phục vô lượng vô biên chúng sanh, khiến nơi ba thừa, được bất thối chuyển. Như vậy trong số đại kiếp như số bụi nhỏ, nơi năm cơi Phật con điều phục vô lượng vô biên chúng sanh, khiến nơi ba thừa, được bất thối chuyển. Bạch Thế Tôn! Nếu sau một ngàn hằng a tăng kỳ kiếp nơi 10 phương vô lượng vô biên a tăng kỳ thế giới, số người ra đời thành Phật trong thời gian con tu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề đều là do con giáo hoá, khiến họ phát tm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, an dừng trụ trong sáu ba la mật th́, bạch Thế Tôn! Con thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, số người con đă giáo hoá, khuyên phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, khiến an dừng trụ trong sáu ba la mật kia, sau khi con nhập niết bàn, xá lợi biến hoá, cải hoá chúng sanh khiến phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, số chúng sanh đó, qua 1000 hằng a tăng kỳ kiếp, nơi 10 phương vô lượng vô biên a tăng kỳ thế giới, khi họ ra đời thành Phật, họ đều sẽ gọi tên con mà khen ngợi rằng:

`Trong quá khứ xa xưa có kiếp tên là Hiền kiếp, lúc mới vào kiếp đó, đức Thế Tôn thứ tư tên là Mỗ Giáp, đức Thế Tôn ấy khuyên dạy chúng tôi bắt đầu phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề . thời ấy chúng tôi đốt mất thiện tâm, tập căn bất thiện, phạm tội ngũ nghịch cho đến tà kiến. Thuở đó Phật ấy khuyên dạy chúng tôi khiến được an trụ sáu ba la mật, nhân đó tức được Giải liễu nhâts thiết Đà la ni môn, chuyển bánh xe chánh pháp thoát ṿng sanh tử, khiến vô lượng vô biên chúng sanh an trụ thắng quả, lại khiến vô lượng trăm ngh́n chúng sanh an dừng trong cơi Trời, Người cho đến được giải thoát.` Nếu có chúng sanh cầu đạo Bồ đề khen ngợi con rồi, ai nấy hỏi Phật, Phật thấy thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, trong đời ác ngũ trược, ư nghĩa lợi ích ra làm sao, bèn hướng về những thiện nam thiện nữ cầu đạo bồ đề nói sự tích ngày xưa của con, lúc mới thành tựu đại bi, mới phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nhân duyên khởi nguyện diệu thiện và trang nghiêm thế giới, các người ấy nghe rồi, tâm sanh kinh ngạc, khen chưa từng có! Rồi phát diệu nguyện, đối với chúng sanh, sanh tâm đại bị, như con chẳng khác, họ phát nguyện rằng: `Nếu trong đời nặng ngũ trược như vậy, có những chúng sanh phạm tội ngũ nghịch, cho đến thành tựu các căn bất thiện, con sẽ vào đó mà điều phục họ, chư Phật Thế Tôn, v́ các người kia thành tựu đại bi nơi đời ngũ trược mà phát thiện nguyện, nên tuỳ theo chỗ sở cầu của họ mà thọ kư cho họ.`

Bạch Thế Tôn! Các đức Phật ấy cũng v́ những người tu học Dại thừa, mà nói nhân duyên các xá lợi con hiện mọi biến hoá: `Qúa khứ xa xưa có Phật Thế Tôn hiệu là Mỗ Pháp, sau khi niết bàn khởi kiếp đao binh tật bệnh đói khổ, chúng tôi thuở ấy trong kiếp đó, chịu mọi khổ năo, xá lợi Phật kia, v́ mỗi chúng hiện làm các loại thần túc, Sư Tử du hư, nhờ đó chúng tôi tức được phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, trồng các căn lành, tinh cần tu tập sáu ba la mật, như trên đă nói rơ.`

Phật phán với Tịch Ư Bồ tát rằng: Thiện nam tử! Lúc ấy Phạm Chí Bửu Hải ở trước Phật Bửu Tạng cùng chư thiên, với đại chúng người và phi nhơn, vừa mới thành tựu tâm đại bi rộng lớn vô lượng, phát 500 lời thệ nguyện, lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con chẳng thành, chẳng đạt mục đích giải thoát con ắt chẳng ở đời vị lai, thời Hiền kiếp lúc người ác, nặng ngũ trược, tranh đấu với nhau, mê mờ không thầy học hỏi, không ai răn dạy, đoạ vào ác kiến, trong tối mịt mù, phạm tội ngũ nghịch, như trước đă nói, con sẽ không làm mọi việc Phật sự, thành tựu sở nguyện, nay con ắt phải xả tâm bồ đề cũng chẳng nguyện trồng đủ các căn lành nơi các Phật độ ở khắp mười phương. Bạch Thế Tôn! Nay con chuyên tâm như vậy, chẳng dùng thiện căn ấy thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cũng chẳng nguyện cầu thừa Bích Chi Phật, lại cũng chẳng nguyện theo thừa thanh văn, ham vui ngũ dục, làm vua trên trời, hay ở cơi trời, hay ở cơi người, chẳng cầu Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Dạ xoa, La sát, các vị Long vương, chẳng dùng thiện căn cầu các chỗ đó. Bach Thế Tôn! Như Phật đă dạy: Muốn được giàu to, lấy thí làm nhân, muốn sanh lên trời, lấy giới làm nhân, muốn được đại trí, lấy học rộng làm nhân, muốn dứt phiền năo, lấy suy tư làm nhân, các việc như vậy đều là của người muốn làm công đức lợi kỹ: Nó tuỳ theo người, cầu sao được vậy. Bạch Thế Tôn! Nếu con thành tựu thiện căn đạt được mục đích giải thoát, ắt là các việc con đă từng làm như: Bố thí, giữ giới, nghe nhiều, suy tư, tất phải thành tựu, nguyện quả báo ấy điều v́ chúng sanh trong các địa ngục: Nếu có chúng sanh đoạ địa ngục a tỳ th́ thiện căn ấy sẽ cứu vớt họ, khiến sanh làm người, nghe Phật nói pháp, tức được cởi mở thành A la hán, mau nhập niết bàn. Các chúng sanh đó, nếu chưa hết nghiệp, con sẽ xả họ, vào ngục a tỳ, chịu khổ thay họ, nguyện khiến thân con số như bụi nhỏ của một cơi Phật, mỗi một thân con như núi Tu Di, thân nào cũng biết các điều vui khổ, như thân hiện nay đang biết vui khổ, mỗi một thân chịu như số bụi nhỏ của một cơi Phật các thứ nghiệp báo khổ năo trọng ác, như số bụi nhỏ cơi Phật hiện tại. Bao nhiêu chúng sanh trong các cơi Phật ở khắp mười phương, phạm tội ngũ nghịch, khởi nghiệp chẳng lành, cho đến phải đoạ địa ngục a tỳ, nếu sau này quá số đại kiếp như số bụi nhỏ của một cơi Phật, mà chúng sanh trong các cơi Phật như số bụi nhỏ của thế giới Phật ở khắp 10 phương, c̣n phạm ngũ nghịch, khởi nghiệp chẳng lành, phải đoạ địa ngục a tỳ thay họ chịu khổ, khiến họ chẳng c̣n phải đoạ địa ngục, trực ngộ chư Phật, hỏi nhận diệu pháp, ra khỏi sanh tử, vào thành niết bàn. Nay con cần phải thay thế cho họ thường ở lâu dài nơi ngục a tỳ. Lại nữa, như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, bao nhiêu chúng sanh trong các thế giới ở khắp 10 phương, thành tựu ác nghiệp tất phải chịu quả, đoạ vào địa ngục tro lửa, như địa ngục a tỳ (gọi địa ngục tro là: đại lỗ mạn địa ngục, bức bách địa ngục, hắc thằng địa ngục, tưởng địa ngục) và các loại súc sanh, ngạ quỹ, người bần cùng, Dạ xoa, Câu bàn trà, Tỳ xá già, A tu la, Câu lâu la,… cũng lại như vậy.

Bạch Thế Tôn! Nếu có, như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, bao nhiêu chúng sanh trong các thế giới ở khắp 10 phương, thành tựu nghiệp ác, ắt phải chịu báo, sanh vào cơi người, điếc, đui, câm ngọng, không tay, không chân, tâm loạn chẳng nhớ, ăn những đồ dơ, con cũng sẽ thay cho họ chịu tội, như trên đă nói. Lại nữa, nếu có chúng sanh đoạ ngục a tỳ, chịu các khổ năo, con sẽ dài lâu thay thế cho họ chịu mọi khổ năo, con sẽ dài lâu thay thế cho họ chịu mọi khổ năo, như các chúng sanh phải chịu sanh tử, nhận ấm, giới, nhập, hay làm súc sanh, ngạ quỹ, người nghèo, Dạ xoa, Câu biện trà, Tỳ xá già, A tu la, Ca lâu la,… thảy cũng như vậy.

Bạch Thế Tôn! Nếu sở nguyện con thành tựu đạt đích giải thoát thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, như trên đă nguyện, th́ 10 phương vô lượng vô biên chư Phật ở trong các thế giới ở khắp mọi nơi, hiện tại đang v́ chúng sanh nói pháp, ắt sẽ v́ con mà chứng minh cho, đó cũng là sở tri kiến của chư Phật. Bạch Thế Tôn! Chỉ nguyện ngày nay thọ kư cho con được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, vào thời Hiền kiếp, lúc người thọ 120 tuổi, thành Phật ra đời, đủ 10 danh hiệu, từ chữ Như Lai đến Phật Thế Tôn. Bạch Thế Tôn! Nếu con tất nhiên thành tựu Phật sự, đúng như sở nguyện, th́ đại chúng đây cùng các thiên long, các A tu la, hoặc ở trên đất, hoặc ở hư không, chỉ trừ Như Lai c̣n lại bao nhiêu, đều sẽ vừa khóc vừa cúi lạy con mà khen ngợi rằng: Lành thay! Lành thay! Thành tựu đại bi, không ai b́ kịp, được niệm sâu, v́ các chúng sanh, sanh khởi thâm abi, phát nguyện kiên cố, việc ông làm nay chẳng do ai dạy, chỉ dùng chuyên tâm đại bi che giúp tất cả, nhiếp giữ những người chẳng lành phạm tội ngũ nghịch. Thiện nguyện của ông nay tôi biết rơ: Lúc mới phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề ông đă v́ chúng sanh làm môn thuốc hay, khiến họ trở về lại giúp nhà cửa, muốn khiến chúng sanh đều được giải thoát nên đă thệ nguyện. Nay sở nguyện ông đă đạt được mục đích, Như Lai v́ ông sẽ thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cho.

Phạm Chí nói xong, Chuyển luân thánh vương hết sức thanh tịnh, từ chỗ ngồi đứng dậy, nước mắt ràng rụa, chấp tay hướng về phía Phạm Chí, cúi đầu kính lạy mà nói kệ rằng:

Sở nguyện của ông

Rất sâu, rất vững

V́ các chúng sanh

Xả bỏ vui riêng

V́ chúng tôi đây

Khởi ḷng đại bi

Đó tướng thắng diệu

Các pháp chơn thực

Lúc ấy Quán Thế Âm Bồ tát, nói kệ khen rằng:

Chúng sanh nhiều chỗ đắm

Ơng nay không chỗ đắm

Nơi các căn trên dưới

Được tự tại lâu rồi

Nên hay theo chúng sanh

Cho gốc nguyện đầy đủ

Đời vị lai đáng được

Trí tạng Đà la ni

Lúc ấy Đắc Đại Thế Chí Bồ Tát nói kệ khen rằng:

Vô lượng ức chúng sanh

V́ thiện mà hội họp

Thấy biết ông đại bi

Tất cả đều rơi lệ

Bao khổ hạnh ông làm

Xưa nay chưa từng có

Lúc ấy, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát lại nói kệ khen rằng:

V́ tinh tấn tam muội

Thật là rất bền vững

Nên trí tuệ thắng diệu

Khéo hay phân biệt vậy

Nếu dùng hương và hoa

Cúng dường ngay cho ông

Th́ chính ngày nay đây

Ông ắt chịu nhận được

Hư Không Ấn Bồ Tát cũng nói kệ rằng:

Ông v́ chúng sanh

Thành tựu đại bi

Bỏ của bố thí

Nơi đời ác trược

Nghiêm giữ các tướng

Vi diệu bậc nhất

V́ các Trời, Người

Làm điều ngự sư

Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh Bồ Tát lại nói kệ khen rằng:

Đại bi tâm ông nay

Rộng lớn như Hư không

V́ muốn gần chúng sanh

Nên hiện hạnh Bồ đề

Hư Không Nhật Bồ Tát cũng nói kệ khen rằng:

Ông đă thành tựu

Công đức đại bi

Trí tuệ thắng diệu

Khéo biệt tướng pháp

Trừ Phật Thế Tôn

Chẳng ai sánh kịp

Sư Tử Vương Bồ Tát nói kệ khen rằng:

Ông vào đời sau

Trong thời hiền kiếp

Nơi nhiều phiền năo

Được lắm người khen

Ắt khiến vô lượng

Các chúng sanh kia

Dứt trừ khổ năo

Được diệu giải thoát

Phổ Hiền nói kệ khen rằng:

Tất cả chúng sanh

Cần siêng tu tập

Sống chết đói khổ

Vượt núi tà kiến

Ăn hại lẫn nhau

Không có ḷng lành

Ông dùng đại bi

Nên nhiếp giữ được

A Súc Bồ Tát nói kệ khen rằng:

Thiêu mất ḷng lành

Chuyên làm nghịch ác

Đoạ đại vô minh

Giữa nơi đen tối

Không đường ra khỏi

Bùn đọng phiền năo

Ông đă nhiếp giữ

Các chúng sanh ấy

Hương Thủ Bồ Tát nói kệ khen rằng:

Ông nay xét kỹ

Nơi đời mai sau

Nhiều việc đáng sợ

Như xem trong gương

Chúng sanh trong đó

Huỷ hoại chánh pháp

Ắt đều thiêu mất

Tất cả thiện tâm

Bửu Tướng Bồ Tát nói kệ khen rằng:

Nay ông dùng toàn

Trí tuệ giữ giới

Tam muội từ bi

Trang nghiêm tâm ḿnh

Vậy nên giữ được

Tất cả những người

Thiêu mất pháp lành

Dèm chê bậc thánh

Ly Khủng Bố Trang Nghiêm Bồ Tát nói kệ khen rằng:

Nay ông đang tu

Vô lượng hạnh khổ

Đều v́ nhiếp giữ

Chúng sanh mai sau

Thiêu mất thiện tâm

Nương theo tà kiến,.

Hoa Thủ Bồ Tát nói kệ khen rằng:

Nay ông đại bi

Trí tuệ tinh tấn

Nơi đại chúng đây

Không ai sánh kịp

Bởi vậy giữ được

Các tâm tà kiến

Thường bị cưỡng bức

V́ già, bệnh, chết

Trí Xứng Bồ Tát nói kệ rằng:

Vô lượng chúng sanh

Nhiều những bệnh khổ

Thường v́ phiền năo

Gió dữ thổi ḷng

Nay ông năng dùng

Nước đại trí tuệ

Tiêu diệt các ma

Phá thế lực chúng

Địa Ấn Bồ Tát nói kệ rằng:

Nay ông đă được

Kiến cố tinh tấn

Diệt hết phiền năo

Mà được giải thoát

Chúng tôi chí mỏng

Chẳng sánh kịp được

Nguyệt Hoa Bồ Tát nói kệ khen rằng:

Vững ḷng tu tập

Dụng ư tinh tấn

Nương chánh công đức

Sanh ḷng xót thương

Bởi thế đời sau

Năng v́ chúng sanh

Dứt hết ràng buộc

Ba cơi ba đời

Vô Cấu Nghiệp Bồ Tát nói kệ khen rằng:

Chỗ Bồ tát làm đạo

Đại bi là tối thượng

Chỗ nói lập Phi Tướng

Nên chi tôi cúi lạy

Tŕ Lực Bồ Tát nói kệ khen rằng:

Đời ác ngũ trược

Nhiều bệnh phiền năo

Ông nương Bồ đề

Phát nguyện vững chắc

V́ các chúng sanh

Dứt gốc phiền năo

Hoả Man Bồ Tát nói kệ khen rằng:

Trí tuệ của ông

Giống như kho báu

Thệ nguyện của ông

Thanh tịnh không dơ

Hẳn tu hành được

Bồ đề Vô thượng

Chỉ v́ chúng sanh

Làm Đại Y Vương.

Lúc đó, Hiện Lực Bồ Tát đứng trước Phạm Chí khóc tràn nước mắt, cúi đầu đảnh lễ, chấp ta cung kính nói kệ khen rằng:

Nay ông đă dùng

Đuốc trí tuệ lớn

V́ các chúng sanh

Dứt bệnh phiền năo

Lại v́ chúng sanh

Nghèo hèn thiếu thốn

Dứt trừ tất cả

Vô lượng các khổ

Thiện nam tử! Bấy giờ tất cả đại chúng: Trời, Rồng, Quỹ thần, Càn thát bà, Người và Phi nhơn ở trước Phạm Chí, đầu mặt cúi lạy, lạy rồi đứng lên chấp tay cung kính dùng pháp khen ngợi mà khen ngợi ông.

Phật phán với Bồ Tát Tịch Ư rằng: Thiện nam tử! Lúc đó Phạm Chí Bửu Hải ở trước Như Lai, gối phải quỳ sát đất: Bấy giờ, đại địa chấn động sáu cách, các thế giới Phật ở khắp 10 phương, như số bụi nhỏ ở một cơi Phật, cũng chấn động sáu cách, có ánh sáng lớn chiếu khắp thế gian, trời mưa các hoa như Mạn đà la, Đại mạn đà la, Ba lợi chất đa, Hoa mạn thù sa, Đại mạn thù sa, cho đến có vô lượng ánh sáng chiếu khắp 10 phương, như số bụi nhỏ của một cơi Phật. Trong các thế giới đó, hoặc tịnh, hoặc bất tịnh, khắp nơi, hiện tại chư Phật đang v́ chúng sanh mà nói chánh pháp. Nơi chư Phật ngự đề có Bồ tát đang ngồi nghe pháp. Các Bồ tát ấy thấy đại địa chấn động sáu cách, phóng ánh sáng lớn, mưa đủ loại hoa, bèn bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! V́ nhân duyên ǵ mà đại địa nầy chấn động sáu cách, có ánh sáng lớn, mưa đủ loại hoa?

Lúc đó, nơi phương Đông, cách đây một hằng sa thế giới, có thế giới Phật tên là Tuyển Trạch Trân Bửu, trong đó có Phật hiệu là Bửu Nguyệt Như Lai Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giả, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, hiện tại đang nói pháp Đại thừa cho vô lượng vô biên a tằng kỳ chư Đại Bồ tát đang cung kính vây quanh. Có hai Bồ tát, một là Bửu Tướng, hai là Nguyệt Tướng hướng Phật Bửu Nguyệt, cung kính chấp tay mà bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! V́ nhân duyên ǵ chấn động sáu cách, có ánh sáng lớn, mưa các loại hoa? Lúc ấy, Phật phán với hai vị Bồ tát rằng: Thiện nam tử! phương Tây cách đây một hằng hà sa thế giới, có thế giới tên San Đề Lạm, có Phật Thế Tôn hiệu là Bửu Tạng, đủ 10 danh hiệu, hiện đang thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cho vô lượng vô biên chư Đại Bồ tát, nói các quốc độ, khai thị các thế giới trang nghiêm của chư Phật, nói các nguyện lành, cảnh giới tam muội, môn Đà la ni các kinh như vậy. Trong đại hội đó, có một Đại bi Bồ tát Ma ha tát phát nguyện như vầy: Nay tôi đang dùng đại bi huân ướp tâm thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, v́ các Bồ tát Ma ha tát mà thị hiện nguyện lành, làm vậy trước khiến vô lượng vô biên chư đại Bồ tát phát đại thệ nguyện, giữ đủ các loại thế giới trang nghiêm, điều phục chúng sanh. Vị Bồ tát ấy thành tựu đại bi, mà trong đại chúng, không ai sánh kịp. Nơi đời ngũ trược điều phục những người ác tệ, có nhiều phiền năo, nhiếp giữ tất cả những kẻ ngũ nghịch, cho đến những người thiêu mất thiện tâm, tụ tập các căn chẳng thiện. Đại chúng nơi đó, cùng các Trời, Rồng, Quỹ thần, Nhơn và Phi nhơn, chẳng cúng dường Phật, ma hết thảy lại cúng dường Bồ tát sau rốt đă thành tựu được đại bi. Họ cúi đầu đảnh lễ Bồ tát, rồi đứng lên , cung kính chấp tay, nói kệ khen ngợi. Khi ấy, Đại bi Bồ tát ở trước Đức Phật gối phải sát đất, nghe Phật thọ kư, Phật bèn mỉm cười. V́ nhân duyên ấy khiến các thế giới ở khắp 10 phương, như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, đất động sáu cách, phóng ánh sáng lớn, mưa đủ loại hoa, tỉnh ngộ tất cả các vị Bồ tát, lại cũng thị hiện các đạo Bồ tát. Đức Thế Tôn ấy hẳn khiến Bồ tát ở khắp 10 phương như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, đều tập họp lại, để chính v́ họ, nói các tam muội Đà la ni môn, pháp môn vô uư. Bởi thế, Đức Thế Tôn ấy mới thị hiện ra các cách biến hoá như đă được thấy. Thiện nam tử! lúc hai vị Bồ tát kia, nghe như vậy rồi, bèn bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Vị đại bi Bồ tát ấy, từ khi phát tâm, trải qua bao lâu? Làm đạo Bồ tát trong thời gian nào? Bao giờ sẽ vào đời ác ngũ trược, điều phục nhiếp giữ tất cả chúng sanh phiền năo dầy nặng, cùng tranh đấu nhau, tạo nhiều ngũ nghịch, thành tựu tất cả các căn chẳng lành, thiêu hết thiện tâm? Lúc đó, Phật phán với hai vị Bồ tát kia rằng: Thiện nam tử! vị đại Bồ tát ấy, ngày nay mới phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Thiện nam tử! Nay các ông nên đến yết kiến Bửu Tạng Phật, cung kính cúng dường, đi quanh lễ bái nghe nói tam muội Đà la ni môn, các môn vô uư, các kinh như vậy, cùng để được thấy Đại bị Bồ tát Ma ha tát. Các ông nên dùng tiếng nói của ta mà nói như vầy: `Bửu Nguyệt Như Lai suy t́m thăm hỏi, có Hoa Nguyệt Quang Tịnh này biếu ông làm tin. Lại khen ông ấy mà nói như vầy: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! ông mới phát tâm đă năng thành tựu đại bi như vậy. Nay ông đă có vô lượng người gọi tên, đầy khắp thế giới chư Phật 10 phương như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, họ đều gọi ông là Đại Bi Bồ Tát, lúc mới phát tâm đă năng thành tưu đại bi như vậy. Bởi thế, thiện nam tử! nay tôi cũng khen ông: Lành thay! Lành thay! Lại nữa, thiện nam tử! ông v́ các Bồ tát vị lai mà thành tựu đại bi, nói đại bi ấy, chẳng dứt nguyện lành, vững lập pháp tràng. Bởi thế, lại khen: Lành thay! Lành thay! Lại nữa, thiện nam tử! tên gọi của ông về sau trụ thế, qua a tăng kỳ kiếp, như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, dạy cho trăm ngh́n ức vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng sanh yên dừng, khiến trụ A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đến chỗ Phật ngự được bất thối chuyển, hoặc phát nguyện lành, hoặc giữ tịnh độ, nhiếp giữ chúng sanh theo nguyện mà điều phục, lại khiến mai sau được thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Như vậy, chúng sanh nơi đời vị lai, quá số kiếp như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, sẽ ở nơi thế giới chư Phật 10 phương như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, được thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chuyển chánh pháp luân, lại sẽ khen ngợi Đại Bi Bồ Tát. Bởi thế, lấy pháp ba lần khen ngợi mà khen ngợi ông: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! lúc đó, cơi kia có 92 ức Đại Bồ tát khác, miệng đồng thanh nói rằng: Bạch Thế Tôn! Chúng con muốn đến cơi San Đề Lam, thấy Phật Bửu Tạng lễ bái cúng dường, cung kính đi quanh, nghe các tam muội Đà la ni môn, pháp môn vô uư, các kinh như vậy, cùng muốn được thấy Đại Bi Bồ Tát. Lúc đó, Phật kia dùng ba pháp khen ngợi, cùng hoa Nguyệt quang tịnh, giao cho hai vị Bồ tát mà nói rằng: Nên biết phải thời!`

Khi ấy, Bửu Tướng Bồ Tát, Nguyệt Tướng Bồ Tát, nơi Phật kia ngự, lấy hoa Nguyệt quang tịnh cùng với 92 ức Đại Bồ tát phóng đi như ánh điện chớp, mất hút tại chỗ, tức liền đến ngay cơi San Đề Lam, trong vườn Diêm Phù, nơi Phật Bửu Tạng. Đến chỗ Phật rồi, cúi lạy chân Phật, dùng các sở đắc của chư Bồ Tát các loại thần thông Sư Tử du hư để cúng dường Phật, cúng dường Phật rồi, thấy Phạm Chí Bửu Hải được các đại chúng cả thảy chấp tay cung kính khen ngợi. Thấy việc ấy rồi, liền suy nghĩ rằng: Vị đại sĩ này có thể đây là Đại Bi Bồ Tát. Bởi thế mới khiến Bửu Nguyệt Như Lai tặng cho hoa báu. Nghĩ xong, hai vị cùng ở trước Phật, hướng về Phạm Chí và liền lấy hoa biếu ông, nói rằng: Bửu Nguyệt Như Lai dùng diệu hoa này tặng ông làm tin. Rồi dùng ba pháp khen ngợi như trên đă nói. Như vậy, phương Đông, vô lượng vô biên a tăng kỳ thế giới chư Phật cũng khiến vô lượng Đại Bồ tát đến cơi San Đề Lam, đều dùng hoa Nguyệt Quang Tịnh và ba pháp khen ngợi, như trên đă nói.

Thiện nam tử! Lúc ấy, phương Nam, cách đó 7 vạn 7 ngàn trăm ngàn ức thế giới Phật, có thế giới Phật tên là Bửu Lâu Sư Tử Hống, có Phật hiệu là Sư Tử Tướng Tôn Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thê, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, hiện đang v́ các Bồ tát mà nói pháp Đại thừa, có hai Đại Bồ tát, một là Kim Cang Trí Tướng, hai là Sư Tử Kim Cang Tướng. Hai vị Bồ tát ấy bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! V́ nhân duyên ǵ đất động sáu cách, có ánh sáng lớn, mưa đủ loại hoa, đều như phương Đông, các Bồ tát so sánh. Lại nữa, phương Nam vô lượng vô biên chư Phật sai vô lượng Bồ tát đến cơi San Đề Lam, ..cũng như vậy.

Lúc ấy phương Tây, cách đó 8 vạn 9 ngàn trăm ngàn ức thế giới, có thế giới tên là An Lạc, có Phật hiệu là Nhiếp Chư Căn Tịnh Mục Như Lai, hiện tại đang v́ bốn bộ chúng nói pháp ba thừa. Có hai vị Bồ tát, một là Hiền Nhựt Quang Minh, hai là Sư Tử Hống Thân. Hai Bồ tát đó bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! V́ nhân duyên ǵ đất động sáu cách, có ánh sáng lớn, mưa đủ loại hoa, giống mọi sự như trên đă nói. Như thế, phương Tây, vô lượng thế giới lại cũng như vậy.

Lúc ấy, phương Bắc, quá 9 vạn trăm ngàn ức thế giới, có thế giới tên là Thắng Chân Bửu, có Phật hiệu là Thế Gian Tôn Vương Như Lai, hiện tại đang v́ các Bồ tát nói pháp Đại thừa, có hai vị Bồ tát, một tên là Bất Động Trú, hai tên là Đắc Trí Tuệ Thế Gian Tôn Vương. Hai vị Bồ tát đó bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! V́ nhân duyên ǵ đất động sáu cách, mọi sự giống như trên đă nói. Vô lượng thế giới phương Bắc, lại cũng như vậy.

Lúc ấy, phương dưới, quá 9 vạn 8 ngàn trăm ngàn ức na do tha thế giới, có thế giới tên là Ly Ấm Vụ, có Phật hiệu là Ly Khủng Bố vi nhiễu âm, hiện tại đang v́ bốn bộ chúng nói pháp ba thừa. Có hai Bồ tát đó bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! V́ nhân duyên ǵ đất động sáu cách,.. mọi sự như trên đă nói. Thế giới phương dưới lại cũng như vậy.

 

 

Kinh Bi-Hoa hết quyển thứ bảy

 

*           *

*

 

 

 

QUYỂN THỨ TÁM

Bắc- Lương Thiên- Trúc Tam Tạng Đàm Vô Sấm dịch ra Hoa Văn.

 

 

PHẨM IV

THỌ KÝ CHƯ VỊ BỒ TÁT

CHI VI

 

Lúc ấy phương trên quá 20 vạn, trăm ngh́n thế giới tên là Diệu Hoa, trong đó có Phật hiệu là Hoa Phu Nhật Vương Như Lai, hiện tại đang v́ bốn bộ chúng nói pháp ba thừa. Có hai Bồ tát, một là Tuyển Trạch Tự Pháp Nhiếp Thủ Quốc Độ, hai là Đà La Ni Diệu Âm. Hai Bồ tát đó bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! V́ nhân duyên ǵ mà đại địa này chấn động sáu cách, có ánh sáng lớn, mưa các loại hoa. Bấy giờ Phật phán với hai vị Bồ tát ấy rằng: Phương dưới, quá 20 vạn trăm ngàn thế giới, có thế giới tên là San Đề Lam, có Phật Thế Tôn hiệu là Bửu Tạng Như Lai, đủ 10 danh hiệu, hiện tại đang thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cho vô lượng vô biên chư Bồ tát, nói các quốc độ, khai thị các thế giới trang nghiêm của chư Phật, nói các nguyện lành, cảnh giới tam muội, môn Đà la ni, các kinh như vậy. Trong đại hội đó có một Đại Bi Bồ Tát Ma ha tát phát nguyện như vầy: Nay tôi đang dùng đại bi huân tâm thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, v́ các Bồ tát Ma ha tát mà thị hiện nguyện lành, làm vậy trước khiến vô lượng vô biên chư Bồ tát phát đại thệ nguyện, giữ đủ các loại thế giới trang nghiêm, điều phục chúng sanh. Vị Bồ tát ấy thành tựu đại bi mà trong đại chúng, không ai sánh kịp, nơi đời ngũ trược, điều phục nhứng người ác tệ, có nhiều phiền năo, nhiếp giữ tất cả những kẻ ngũ nghịc, cho đến những người thiêu mất thiện tâm, tu tập các căn chẳng thiện. Đại chúng nơi đó, cùng các Trời, Rồng, Quỹ thần, Nhơn và Phi nhơn, chẳng cúng dường Phật mà hết thảy lại cúng dường Bồ tát sau rốt đă thành tựu đại bi, họ cúi đầu đảnh lễ Bồ Tát, rồi đứng lên cung kính chấp tay nói kệ khen ngợi. Khi ấy Đại Bi Bồ tát, ở trước Đức Phật, gối phải sát đất, nghe Phật thọ kư. Phật bèn mỉm cười. V́ nhân duyên ấy khiến các thế giới ở khắp 10 phương, như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, đất động sáu cách, phóng ánh sáng lớn, mưa đủ loại hoa, tỉnh ngộ tất cả các vị Bồ tát, lại cũng thị hiện các đạo Bồ tát. Đức Thế Tôn ấy hẳn khiến Bồ tát ở khắp 10 phương như số bụi nhỏ trong một cơi Phật đều tập họp lại để chính v́ họ, nói các tam muội, Đà la ni môn, pháp môn vô uư. Bởi thế, Đức Thế Tôn ấy mới thị hiện ra các cách biến hoá, như đă được thấy. Thiện nam tử! lúc hai vị Bồ tát kia, nghe như vậy rồi, bèn bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Vị đại bi Bồ tát ấy, từ khi phát tâm, trải qua bao lâu? Làm đạo Bồ tát trong thời gian nào? Bao giờ sẽ vào đời ác ngũ trược, điều phục nhiếp giữ tất cả chúng sanh phiền năo dầy nặng, cùng tranh đấu nhau, tạo nhiều ngũ nghịch, thành tựu tất cả các căn chẳng lành, thiêu hết thiện tâm? Lúc đó, Phật phán với hai vị Bồ tát kia rằng: Thiện nam tử! vị đại Bồ tát ấy, ngày nay mới phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Thiện nam tử! Nay các ông nên đến yết kiến Bửu Tạng Phật, cung kính cúng dường, đi quanh lễ bái nghe nói tam muội Đà la ni môn, các môn vô uư, các kinh như vậy, cùng để được thấy Đại bị Bồ tát Ma ha tát. Các ông nên dùng tiếng nói của ta mà nói như vầy: `Bửu Nguyệt Như Lai suy t́m thăm hỏi, có Hoa Nguyệt Quang Tịnh này biếu ông làm tin. Lại khen ông ấy mà nói như vầy: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! ông mới phát tâm đă năng thành tựu đại bi như vậy. Nay ông đă có vô lượng người gọi tên, đầy khắp thế giới chư Phật 10 phương như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, họ đều gọi ông là Đại Bi Bồ Tát, lúc mới phát tâm đă năng thành tưu đại bi như vậy. Bởi thế, thiện nam tử! nay tôi cũng khen ông: Lành thay! Lành thay! Lại nữa, thiện nam tử! ông v́ các Bồ tát vị lai mà thành tựu đại bi, nói đại bi ấy, chẳng dứt nguyện lành, vững lập pháp tràng. Bởi thế, lại khen: Lành thay! Lành thay! Lại nữa, thiện nam tử! tên gọi của ông về sau trụ thế, qua a tăng kỳ kiếp, như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, dạy cho trăm ngh́n ức vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng sanh yên dừng, khiến trụ A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đến chỗ Phật ngự được bất thối chuyển, hoặc phát nguyện lành, hoặc giữ tịnh độ, nhiếp giữ chúng sanh theo nguyện mà điều phục, lại khiến mai sau được thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Như vậy, chúng sanh nơi đời vị lai, quá số kiếp như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, sẽ ở nơi thế giới chư Phật 10 phương như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, được thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chuyển chánh pháp luân, lại sẽ khen ngợi Đại Bi Bồ Tát. Bởi thế, lấy pháp ba lần khen ngợi mà khen ngợi ông: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! lúc đó, cơi kia có 92 ức Đại Bồ tát khác, miệng đồng thanh nói rằng: Bạch Thế Tôn! Chúng con muốn đến cơi San Đề Lam, thấy Phật Bửu Tạng lễ bái cúng dường, cung kính đi quanh, nghe các tam muội Đà la ni môn, pháp môn vô uư, các kinh như vậy, cùng muốn được thấy Đại Bi Bồ Tát. Lúc đó, Phật kia dùng ba pháp khen ngợi, cùng hoa Nguyệt quang tịnh, giao cho hai vị Bồ tát mà nói rằng: Nên biết phải thời! Lúc đó hai vị Bồ Tát, ở chỗ Phật kia ngự, cầm lấy hoa báu cùng vô lượng ức chúng Bồ tát, trong khoảng một niệm, đột nhiên biến mất, và hiện đến ngay cơi San Đề Lam, trong vườn Diêm Phù, trước Phật Bửu Tạng cúi đầu đảnh lễ. Lúc ấy, thế giới chư Đại Bồ tát tu tập đại thừa và học Duyên Giác, Hay Thanh Văn Thừa, Trời, Rồng, Quỹ Thần, Ma Hầu La Già, các loại như vầy, số đến vô lượng, không thể tính đếm, tỷ như cỏ mía, tre lau, gai lúa, rừng rú, đầy khắp cả nước, chư vị Bồ tát dùng các loại thần thông Sư Tử du hư để cúng dường Phật. Cúng dường Phật rồi, thấy Phạm Chí Bửu Hải được các đại chúng cả thảy chấp tay cung kính khen ngợi. Thấy việc ấy rồi, liền suy nghĩ rằng: Vị đại sĩ này có thể đây là Đại Bi Bồ Tát. Bởi thế mới khiến Bửu Nguyệt Như Lai tặng cho hoa báu nầy. Hai vị Bồ tát đương ở trước Phật, hướng về Phạm Chí và liền lấy hoa biếu ông, nói rằng: Bửu Nguyệt Như Lai dùng diệu hoa này tặng ông làm tin. Đến ba pháp khen ngợi như trên đă nói.

Thiện nam tử! lúc ấy, bao nhiêu loại hoa rơi xuống như mưa, cũng đến các thế giới không Phật, lại phát ra các loại âm thanh diệu thiện, vang khắp mọi nơi, như thanh Phật, thanh pháp, thanh Tỳ kheo tăng, thanh diệt tận, thanh vô sở hữu, thanh các ba la mật, thanh sức không chỗ sợ, thanh sáu thần thông, thanh không có làm, thanh không sanh diệt, thanh vắng lặng, thanh đại từ, thanh đại bi, thanh vô sanh nhẫn, thanh thọ kư, thanh nói đại thừa, có những Bồ tát v́ bổn nguyện, có thần lực lớn, tu tập pháp sâu mà được tự tại, v́ các chúng sanh mà ở cơi kia, nghe các thanh đó rồi, nhờ sức Phật, nhờ súc nguyện, nhờ sức tam muội ở thế giới ḿnh, nương sức thần thông, trong khoảnh khắc như đại lực sĩ co, duỗi cánh tay, liền hiện đến cơi San Đề Lam, trong vườn Diêm Phù trước Phật Bửu Tạng, cúi lạy chân Phật, dùng các sở đắc của Bồ tát, các loại Sư Tử du hư, để cúng dường Phật và các đại chúng, rồi theo thứ lớp ngồi nghe diệu pháp.

Thiện nam tử! Khi đó Phạm Chí Bửu Hải dùng Hoa Nguyệt Quang Minh cúng dường Bửu Tạng Như Lai rồi bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Chỉ nguyện Như Lai thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cho con. Thiện nam tử! Lúc ấy, Bửu Tạng Như Lai liền nhập tam muội, tên là Hiển Đăng, sức tam muội khiến cho tất cả núi non cây cỏ, đất đá cơi San Đề Lam biến thành bảy báu, khiến các đại chúng đều được tự thấy, thảy ở nước Phật, nghe nhận diệu pháp. Tuỳ chỗ họ nghĩ, hoặc tự thấy thân sắc xanh, sắc vàng, sắc trắng, sắc tím, sắc đỏ, sắc đen, hoặc thấy như gió, hoặc thấy như lửa, hoặc thấy như không, hoặc thấy như nóng lúc trời nóng, hoặc thấy như nước, hay như bọt nước, hoặc như núi lớn, hoặc như Phạm Thiên hoặc như Đế Thích, hoặc thấy như hoa, hoặc như Ca lâu la, hoặc thấy như Rồng, hoặc như Sư Tử, hoặc như mặt trời, hoặc như mặt trăng, hoặc như tinh tú, hoặc thấy như Voi, hoặc như Chồn hoang. Ngồi ở trước Phật, nghe nhận diệu pháp, tuỳ chỗ suy nghĩ, họ tự thấy thân tướng mạo như vậy. Thiện nam tử! như vậy chúng sanh tuỳ chỗ suy nghĩ cũng thấy tự thân đồng Phật Bửu Tạng, không có sai khác. Các đại chúng ấy cùng ở trước Phật, t́m thấy Phạm Chí ngồi trên hoa sen bảy báu, có 1000 cánh. Tất cả đại chúng hoặc ngồi, hoặc đứng, trên đất, trên không, mỗi một chúng sanh ai nấy tự thấy Bửu Tạng Như Lai ngồi trước mặt ḿnh, v́ ḿnh nói pháp, riêng ḿnh được thấy.

Thiện nam tử! Lúc đó Bửu Tạng Như Lai khen Phạm Chí Bửu Hải rằng: Lành thay! Lành thay! Đại bi tịnh hạnh ông v́ vô lượng vô biên chúng sanh khởi đại bi ấy, rất có lợi ích ở trong thế gian, làm ánh sáng lớn. Phạm Chí! Tỷ như thành tựu ruộng hoa, có đủ loại sắc, loại hương, đủ loại cảm xúc, đủ loại lá, đủ loại thân cây, đủ loại rễ, đủ loại công đức, các món thuốc cần dùng đều được thành tựu. Hoặc có hoa sen đầy trăm ngh́n do tuần, diệu hương quang minh cũng bằng hoa đó, hoặc có hoa ngang dọc 100, 200, 300 do tuần, diệu hương quang minh cũng bằng các hoa như thế, nhẫn đến có hoa như một thiên hạ, diệu hương quang minh cũng bằng hoa ấy chẳng có sai khác. Các loại chúng sanh, nếu bị đui mù, ngửi được mùi thơm của các hoa kia, liền được thấy sắc, người điếc nghe tiếng, cho đến tất cả các căn chẳng được đầy đủ, cũng liền được đầy đủ, nếu có chúng sanh 404 bệnh, gặp lúc bệnh phát, ngửi được mùi thơm của các hoa kia bệnh liền lành hẳn, nếu có điên dại, phóng túng, cuồng si, say ngủ, loạn tâm, mất cả chánh niệm, ngửi được mùi thơm của các hoa kia, ắt được nhất tâm. Trong ruộng hoa đó, cũng sanh hoa Phân Đà Lợi, hoa ấy vững chắc giống như kim cương, lưu ly làm thân, đài có 100 cách, lá bằng vàng rồng, mă năo làm nhuỵ, ngọc đỏ làm tua, hoa cau 84 ức do tuần, chu vi ngang dọc 10 do tuần. Hoa ấy có các sắc, hương cảm xúc đầy khắp 10 phương thế giới chư Phật như số bụi nhỏ trong một cơi Phật. chúng sanh trong đó, nếu có bốn đại chẳng được điều hoà, tật bệnh rất khổ, các căn suy nhược, điên dai, phóng túng, cuồng si, say ngủ, tâm loạn, mất cả chánh niệm, thấy ánh sáng hoa, ngửi được mùi thơm, tất cả khổ đau, mỗi mỗi trị lành, đều được nhất tâm. Nếu chúng sanh đó th́nh ĺnh mệnh chung, mà thân chưa hoại ánh sáng của hoa đến chạm vào thân, mùi thơm của hoa bay đến ướp thân, mạng sống của họ trở lại như cũ, lại cùng thân thuộc dạo quanh vườn nhà, theo năm món dục cùng chung vui sống, nếu mạng sống hết, chẳng sanh lại quê xưa, mà sanh lên trời Phạm Thiên, ở đó lâu dài, thọ mệnh vô lượng, Phạm Chí ruộng hoa sen tức là đại chúng trong Hội này. Ví như mặt trời mọc, các hoa đua nở, như Phật nhật ra đời, tăng được lợi ích nuôi lớn: Diệu hương quang minh, v́ các chúng sanh dứt trừ các khổ. Thiện nam tử! ta nay như mặt trời xuất hiện nơi đời, khiến hoa căn lành của các chúng sanh phô bày, có hương vi diệu, ánh sáng chiếu khắp, có thể trừ hết các loại bệnh khổ của các chúng sanh. Tức thị Như Lai xuất hiện nơi đời, dùng ánh sáng đại bi che khắp tất cả, khiến cho thiện căn của các chúng sanh mở bày, thêm lợi ích cho họ an trụ nơi ba phước xứ. Thiện nam tử! Ông giáo hoá vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng sanh, khiến trụ A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đến chỗ Ta ở, các chúng sanh đó mỗi mỗi tự phát các loại thiện nguyện, giữ thế giới Phật, tịnh hay bất tịnh, Ta đă tuỳ theo sở nguyện của họ mà thọ kư. Thiện nam tử! Nếu có Bồ tát ở trước mặt Ta nguyện giữ tịnh độ, dùng tâm thanh tịnh, khéo tự điều phục, trồng các căn lành, nhiếp giữ chúng sanh, tuy gọi là Bồ tát, nhưng chẳng phải là đại trương phu dũng mănh, chẳng phải là Bồ tát có đại bi sâu nặng v́ chúng sanh mà cầu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nếu có giữ Phật độ thanh tịnh, tức là Bồ tát ĺa bỏ đại bi, lại c̣n có nguyện xa rời nhị thừa, Bồ tát như vậy là không có huệ khéo dùng phương tiện, không có tâm hoàn toàn b́nh đẳng. Nếu có Bồ tát thệ nguyện như thế, khiến thế giới Ta xa rời Thanh văn, Bích Chi Phật thừa, diệt căn bất thiện, không có người nữ, cùng ba đường ác thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, lấy toàn những Đại Bồ tát làm quyến thuộc, nói toàn pháp đại thừa vô thượng thọ mệnh vô lượng, ở lâu nơi đời, qua vô số kiếp, toàn v́ thiện tâm, điều phục người trong trắng thành thiện căn, nói pháp vi diệu, người như vậy tuy gọi Bồ tát những chẳng phải đại sĩ. V́ sao vậy? V́ không khéo thuận, không có trí b́nh đẳng.

Thiện nam tử! bấy giờ Bửu Tạng Như Lai duỗi cánh tay sắc vàng, năm đầu ngón tay phóng ra những luồng ánh sáng lớn, có vô lượng trăm ngh́n màu sắc, chiếu đến khắp bốn phương, quá vô lượng vô biên a tăng kỳ thế giới, có thế giới tên là Đại Chỉ, cơi nước ấy nhân dân chỉ thọ 30 tuổi, sắc tướng quê, xấu, h́nh mạo dễ ghét, thân dài 6 thước, thành tựu tất cả các căn chẳng lành. Cơi Phật ấy có Phật hiệu là Đại Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, hiện nay đang v́ bốn bộ chúng nói pháp ba thừa. Thiện nam tử! Lúc ấy, đại chúng đều được xa thấy Đức Phật Thế Tôn và các đại chúng của ngài. Bấy giờ, Bửu Tạng Phật phán với đại chúng rằng: Đức Đại Quang Minh Phật ấy, nơi quá khứ vô lượng vô biên a tăng kỳ kiêips, đă sơ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nơi Bửu Cái Quang Minh Phật ngự. Lúc ấy vô lượng vô biên ức na do tha chúng sanh đă được khuyên an dừng, trụ nơi đạo vô thượng, tuỳ tâm sở nguyện giữ các thế giới trang nghiêm hoặc tịnh hay bất tịnh, hoặc giữ đời ác ngũ trược. Đức Đại Quang Minh Phật ấy cũng đă khuyên ta phát tâm, an dừng trụ nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nơi đời ác ngũ trược. Thuở ấy Ta cũng có thiện trí thức đă khuyên Ta trụ nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Vị thiện trí thức ấy là bậc trượng phu Thắng Diệu, đă giữ đời ác nặng ngũ trược, có nhiều phiền năo, quốc độ bất tịnh, bao nhiêu chúng sanh làm việc nghịch ác cho đến thành tựu các căn bất thiện, thiêu hết thiện tâm, sống chết ch́m nổi, không nơi nương tựa. Ta đă nguyện điều phục các chúng sanh như vậy. Thuở ấy, vô lượng vô biên thế giới chư Phật ở 10 phương, mỗi mỗi đều có Phật sai khiến sứ giả đến chỗ ở của vị thiện đại trượng phu kia để khen ngợi ca tụng, nhân đó đặt hiệu cho người là Đại Bi Nhật Nguyệt Quang Minh. Vị Đại Bi Nhật Nguyệt Quang Minh đó là Thiện trí thức của Ta, Ngài đă làm được nhiều việc lợi ích nơi thế giới Đại Chỉ. Thành Phật chẳng lâu, Ngài đă v́ các người ác, ngắn đời kia chuyển bánh xe pháp. Lúc Đức Phật ấy mới thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, vô lượng vô biên chư Phật ở 10 phương, mỗi mỗi đều sai sứ giả đến chỗ Phật ngự để cung kính cúng dường tôn trọng khen ngợi. Các Đức Thế Tôn ấy đều do ngày trước, Đức Đại Quang Minh Phật đă khuyến hoá, khiến bắt đầu an trụ nơi Đàn ba la mật, cho đến Bát nhă ba la mật. V́ muốn báo ơn đó nên các Đức Thế Tôn kia đă khiến các Bồ tát đến cúng dường. Phạm Chí! Nay ông đă thấy chưa? Các Đức Thế Tôn kia mỗi mỗi đều ở nơi thế giới thanh tịnh, thọ mệnh vô lượng, toàn v́ thiện tâm điều phục những kẻ trắng trong thành người thiện căn làm việc Phật sự. Vậy Phật Đại Quang Minh đă thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nơi thế giới bất tịnh dơ ác, trong đời ác ngũ trược, bao nhiêu chúng sanh phạm nhiều tội nghịch, cho đến thành tựu các căn chẳng lành, thọ mệnh ngắn ngủi. Đức Phật đă ở trong đó mà làm nhiều việc lợi ích, nuôi dưỡng vô lượng Phật sự, chẳng bỏ thanh văn, Bích Chi Phật thừa, v́ các chúng sanh nói pháp ba thừa. Như ông nay, thật là bậc đại trượng phu, tất cả đại chúng, không ai b́ kịp. Ông đă phát nguyện thắng diệu, rất khó, giữ đời ác ngũ trược, quốc độ bất tịnh, người nhiều tội nghịch cho đến thành tựu các căn chẳng lành, điều phục, nhiếp giữ các chúng sanh như vậy, thật là rất khó. Thiện nam tử! Nếu có Bồ tát giữ thế giới Phật thanh tịnh, ĺa ba đường ác, cùng thanh văn, duyên giác, nhiếp giữ, điều phục thiện tâm trắng trong, thành tựu căn lành cho các chúng sanh như vậy, th́ gọi là `Bồ Tát đi luôn` như hoa thừa, chẳng phải là Đại Bồ tát, như hoa Phân Đà Lợi, v́ đă lấy việc điều phục chúng sanh ở trong thiện tâm, trồng các căn lành mà làm việc Phật sự. Phạm Chí! Nay ông hăy nghe bốn pháp giải đăi của Bồ tát. Những ǵ là bốn? Một là nguyện giữ thế giới thanh tịnh. Hai là nguyện ở trong thiện tâm, điều phục các chúng sanh trắng trong làm các Phật sự. Ba là nguyện khi thành Phật rồi, chẳng nói pháp Thanh văn, Bích Chi Phật thừa. Bốn là nguyện khi thành Phật rồi, thọ mệnh vô lượng. Đó là bốn pháp giải đăi của Bồ tát. Bồ tát như vậy dụ như Hoa Thừa, chẳng phải Bồ tát như Phân Đà Lợi. Phạm Chí! Trong đại chúng này, chỉ trừ một người là Bà Do Tỳ Nữu, giữ thế giới bất tịnh, điều phục, nhiếp hộ người phiền năo. Trong Hiền kiếp, cũng có Bồ tát giữ quốc độ bất tịnh.

Phạm Chí! Có bốn pháp tinh tấn. Những ǵ là bốn? Một là nguyện giữ thế giới bất tịnh. Hai là làm Phật sự giữa những người bất tịnh. Ba là thành Phật rồi, nói pháp ba thừa. Bốn là thành Phật rồi, được thọ mệnh trung b́nh, không dài, không ngắn. Đó là bốn pháp tinh tấn. Như vậy, gọi là Bồ tát như Phân Đà Lợi, chẳng như Hoa Thừa. Vậy gọi là Bồ tát Ma ha tát.

Phạm Chí! Nay ông ở trong ruộng hoa, nơi vô lượng vô biên a tăng kỳ đại chúng Bồ tát, phát nguyện được thọ kư ở trước Phật, v́ đă sanh đại bi Phân Đà Lợi rồi, ông nguyện nhiếp giữ nhiều tội nghịch, thành tựu cho tất cả các căn chẳng lành, trong đời ác ngũ trược, tuỳ người mà điều phục họ. Ông dùng âm thanh đại bi có thể khiến cho chư Phật Thế Tôn ở 10 phương như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, tin ông và khiến người đến khen ngợi, khen ngợi rồi, đặt hiệu ông là Thành Tựu Đại Bi lại khiến đại chúng ở đây cúng dường ông. Nơi đời vị lai sẽ có ông Đại bi. Quá một hằng sa a tăng kỳ kiếp, vào đệ nhị hằng sa a tăng kỳ kiếp, phần sau trong Hiền kiếp, nơi thế giới Ta Bà, người thọ 120 tuổi, bị già bệnh chết, trói buộc trong đời đen tối, không có thầy để học hỏi, tụ họp tất cả các căn chẳng lành, làm theo tà đạo, vào sông phiền năo, chuyên phạm ngũ nghịch huỷ hoại chánh pháp, dèm chê thánh nhơn, phạm bốn cấm nặng, c̣n bao việc khác, như trên đă nói, nơi đời ác loạn, phiền năo như thế, ông sẽ thành Phật Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, thoát ṿng sanh tử, chuyển bánh xe chánh pháp, phá hoại bốn ma, lúc đó ông có thanh danh lớn, đầy khắp 10 phương vô lượng vô biên thế giới chư Phật, có đại chúng thanh văn 1250 người, theo thứ lớp trong 45 năm, thành tựu vô lượng Phật sự, như ông đă nguyện, đầy đủ không thiếu. Vô lượng tịnh vương ấy, lúc thành Phật thọ mệnh vô lượng. Tuy trong vô lượng vô biên kiếp, cũng hay thành tựu Phật sự như vậy không có sai khác. Ông Thiện trượng phu, khi nhập niết bàn rồi, chánh pháp trụ thế trọn 1000 năm, chánh pháp diệt rồi, xá lợi của ông, như ông đă nguyện, sẽ làm Phật sự dài lâu nơi đời, làm lợi ích cho chúng sanh, như trên đă nói.

Thiện nam tử! Lúc đó, trong hội có một Phạm Chí tên là Tướng Cụ Túc, nói như vầy: Thiện Đại trượng phu! Nếu nơi đời sau, vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, ông làm Bồ tát tại mỗi nơi sanh, tôi sẽ v́ ông thường làm kẻ hầu, hằng lấy từ tâm, dâng hiến các món cần dùng, cho đến một đời được làm thân phụ. Ông thành Phật rồi, làm việc bố thí lớn, cũng sẽ thọ kư cho tôi được đạo vô thượng. Lại có thần biến tên là Điều ư, cũng nói như vầy. Thiện đại trượng phu! Từ đây về sau, tại khắp mọi nơi, cho đến một đời, tôi nguyện thường được v́ ông làm mẹ. Ông thành Phật rồi cũng sẽ thọ kư cho tôi được đạo vô thượng. Lại có thần nước cũng nói như vầy: Từ nay về sau, tại khắp các nơi, cho đến một đời tôi nguyện thường được làm nhũ mẫu ông. Ông thành Phật rồi, cũng sẽ thọ kư cho tôi được đạo vô thượng.

Có hai vị trời Đế Thích, một tên là Thiện Niệm hai tên là Bửu Niệm, cũng nói như vầy: Thiện đại trượng phu! Ông thành Phật rồi, chúng tôi sẽ làm đệ tử thanh văn trí tuệ thần túc. Lại có Đế Thích tên Thiện Kiến Túc, cũng nói như vầy: Đại bi! Từ nay về sau, tại khắp mọi nơi, cho đến một đời, sẽ làm con ông.

Có thần núi Tu Di tên là Thiện Lạc Hoa cũng nói như vầy: Đại bi! Cho đến một đời, tôi sẽ thường làm người vợ của ông. Ông thành Phật rồi, cũng sẽ thọ kư cho tôi được đạo vô thượng.

Lại có vua A tu la, tên Hung Ức Hạnh, cũng nói như vầy. Đại bi! Nơi vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, ông làm Bồ tát, cho đến một đời, trong khoảng giữa đó, tôi sẽ v́ ông làm người đồng bộc, cung cấp mọi sự cho ông được yên. Ông thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, chuyển bánh xe pháp. Hiểu pháp trước hết, tôi được quả báu, uống vị cam lồ, cho đến đoạn được tất cả phiền năo, thành A la hán.

Bấy giờ, lại có một hằng hà sa Trời, Rồng, Quỹ thần, A tu la, Ca lâu la, Người và Phi nhơn, hướng Đại bi Bồ tát mà thệ nguyện rằng: Thiện đại trượng phu! Phải nên điều phục giáo hoá chúng tôi.

Lúc ấy, có một Phạm Chí ḿnh trần tên là Loạn Tưởng Khả Tư cũng nói như vầy: Thiện đại trượng phu! Trong vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, ông làm đạo Bồ tát, tôi sẽ theo ông đ̣i hỏi những món càn dùng, thường đến chỗ ông cầu xin áo quần, giường, chiếu, đồ nằm, nhà cửa, pḥng ốc, ngựa voi, xe cộ, thành nước, vợ con, đầu mắt, tuỷ năo, da thịt, chân tay, mũi, tai, lưỡi, thân. Thiện đại trượng phu! Tôi sẽ v́ ông làm nhân pḥ giúp khiến ông đầy đủ Đàn  ba la mật, cho đến Bát nhă ba la mật. Đại bi Phạm Chí! Các hạnh như vậy trong đạo Bồ tát, tôi sẽ khuyên ông khiến được đầy đủ sáu ba la mật. Ông thành Phật rồi, nguyện làm đệ tử, theo ông nghe học 8 vạn pháp tu, nghe rồi ắt hay biện luận tướng pháp. Nói tướng pháp rồi, ông sẽ thọ kư đạo vô thượng cho tôi. Thiện nam tử! lúc Phạm Chí nghe lời ấy rồi, bèn lạy chân Phật, rồi nói với ông Phạm Chí ḿnh trần rằng: Lành thay! Lành thay! Ông thật là người bạn đạo vô thượng của tôi. Trong vô lượng vô biên trăm ngh́n vạn ức a tăng kỳ kiếp, ông sẽ thường đến tại chỗ tôi ở, đ̣i hỏi các món cần dùng như là: áo quần, cho đến lưỡi, thân. Bấy giờ tôi sẽ dùng tâm thanh tịnh bỏ các sở hữu, bố thí cho ông. Vào những lúc ấy, ông cũng vô tội.

Thiện nam tử! Lúc ấy Đại bi Bồ tát Ma ha tát lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Trong vô lượng vô biên trăm ngh́n vạn ức a tăng kỳ kiếp, con làm Bồ tát tại các chỗ sanh, mỗi nơi đều có các vị Khất sĩ ngụ trước con. Nếu họ đến xin các món ăn uống với lời êm đẹp hay lời ác ngôn, với giọng khinh chê hay lời chân thực, bạch Thế Tôn! Con trong lúc đó, cho đến chẳng sanh một niệm ác tâm, nếu có giận hờn trong khoảng một khảy móng tay, dùng nhân duyên ấy mà cầu quả báu về sau, tức con lừa dối vô lượng vô biên a tăng kỳ chư Phật hiện tại ở khắp 10 phương, và đời vị lai tất nhiên chẳng thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bạch Thế Tôn! Con nay đang lấy tâm hoan hỷ thí cho người xin, nguyện khiến người nhận không bị tổn hại, đối với các căn lành cũng không để lại một chút nạn nhỏ dù bằng sợi lông. Nếu con để lại nơi người thọ nhận chút ít tổn hại cho thiện căn họ, ắt con lừa dối vô lượng vô biên a tăng kỳ chư Phật hiện tại ở khắp 10 phương, nếu dối chư Phật, ắt sẽ bị đoạ địa ngục a tỳ, chẳng có thể vui vẻ mà bố thí áo quần,  các món ăn uống. Nếu người đến xin, hoặc dùng lời dịu, hay lời thô ác, hoặc giọng khinh chê hay lời chân thực đ̣i hỏi những là: đầu, mắt, tuỷ, năo, .. Bạch Thế Tôn! Nếu con lúc ấy, ḷng chẳng vui vẻ cho đến khởi sanh một niệm giận hờn, dùng thí duyên ấy mà cầu quả báu, ắt là lừa dối vô lượng vô biên chư Phật hiện tại ở các thế giới 10 phương và nhân duyên ấy quyết định bị đoạ vào địa ngục a tỳ. Cũng như Đàn ba la mật, các ba la mật khác cho đến Bát nhă ba la mật cũng vậy.

Thiện nam tử! Khi đó Bửu Tạng Như Lai khen Phạm Chí Bửu Hải: Lành thay! Lành thay! Phát nguyện như thế là khéo an dừng đại bi tâm vậy.

Thiện nam tử! Lúc ấy tất cả đại chúng Trời, Rồng, Quỹ thần, Nhơn và Phi nhơn chấp tay khen ngợi: Lành thay! Lành thay! Phát nguyện như thế là khéo an dừng nơi dại bi tâm, được nổi danh lớn, thực hành vững bền sáu pháp lục hoà, đầy đủ lợi ích tất cả chúng sanh.

Thiện nam tử! Lúc ấy Phạm Chí ḿnh trần phát nguyện, có 84000 người cũng đồng phát nguyện như ông ấy. Thiện nam tử! khi đó Đại Bi Bồ Tát Ma ha tát cũng đồng thệ nguyện cùng với 84000 người kia, ḷng ông vui mừng chấp tay nh́n bốn phía, xem khắp đại chúng và nói như vầy: Thật chưa từng có, mai sau lúc chánh pháp diệt, trong đời ác ngũ trược có nhiều phiền năo, tôi ở thời đó, phóng ánh sáng lớn, làm điều ngự sư, nếu các chúng sanh không ai cứu giúp, không có thế lực, không Phật thị hiện. Nay tôi mới phát tâm bồ đề đă được các bạn đạo vô thượng như thế, nguyện cho các người ấy đời đời theo tôi để nhận lănh đầu, mắt, tuỷ, năo, da thịt, xương máu, tay chân, tai, mũi, lưỡi, thân, cho đến áo quần, các món ăn uống. Thiện nam tử! bấy giờ, Phạm Chí Bửu Hải bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Mai sau qua vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức a tăng kỳ kiếp, nếu các chúng sanh kia đến chỗ tôi ở, nhận của tôi cho các thứ đầu, mắt, tuỷ, năo,cho đến các món ăn uống, khi con thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, nếu chẳng nói sanh tử, chẳng được thọ kư nơi ba thừa cho họ, ắt là tôi lừa dối vô lượng vô biên chư Phật hiện ở các thế giới 10 phương, nhất định chẳng thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Thiện nam tử! khi đó Bửu Tạng Như Lai lại càng khen ngợi Đại Bi Bồ Tát: Lành thay! Lành thay! Thiện đại trượng phu! Ông có khả năng hành đạo Bồ tát như vậy! Thế như thuở xưa Tu Di Sơn Bửu Bồ Tá đă thề tại thế gian trước Quang Minh Phật. Lúc mới phát tâm bồ đề, ông ấy cũng đă thề như vậy, cũng hành đạo Bồ tát như vậy, qua một hằng sa a tăng kỳ kiếp.

Phương Đông, cách đây trăm ngh́n ức thế giới Phật, có thế giới tên là Quang Minh Trí Xí, người thọ trăm tuổi. Ông ấy ở đó thành Phật hiệu là Trí Hoạ Vô Cấu Kiên Bồ Đề Tôn Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Phật ấy ở đời thuyết pháp 45 năm, làm các Phật sự. Phật niết bàn rồi, chánh pháp trụ thế trọn 1000 năm, chánh pháp diệt rồi, tượng pháp trụ thế cũng 1000 năm. Đại bi! Đức Thế Tôn ấy hoặc tại thế, hoặc niết bàn, ở trong thời gian chánh pháp, tượng pháp có các Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni phá giới, chẳng theo đạo lư, làm việc tà đạo, dứt pháp cúng dường, không biết xấu, chẳng tự thẹn, hoặc lấy các vật tín thí như quần áo, ngoạ cụ, các món ăn uống dùng làm của riêng, đem cho người khác hoặc cho người nhà, thiện nam tử! những người như thế, Đức Thế Tôn ấy đều thọ kư cho họ ở trong ba thừa. Đại bi! Chỗ Phật đó ở, nếu có người xuất gia, mặc áo cà sa, họ đều được thọ kư chẳng thối lui nơi ba thừa. Hoặc có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di phạm bốn cấm nặng th́ Đức Phật ấy khởi tưởng Thế Tôn trồng các thiện căn cũng thọ kư cho họ chẳng thối lui nơi ba thừa.

Thiện nam tử! khi đó Đại Bi Bồ Tát Ma ha tát lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nay sở nguyện con lúc thành đạo Bồ Tát, nếu có chúng sanh con cần khuyên, khiến an dừng trụ Đàn ba la mật, cho đến Bát nhă ba la mật, cho đến khuyện dạy khiến trụ nơi đầu lông thiện căn, cho đến thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nếu chẳng ăn dừng cho đến một người ở trong ba thừa, khiến họ thối chuyển, ắt là lừa dối vô lượng vô biên a tăng kỳ chư Phật hiện tại ở các thế giới 10 phương, nhất định chẳng thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bạch Thế Tôn! Con thành Phật rồi, nếu có chúng sanh vào trong pháp con, xuất gia, mặc áo cà sa, hoặc phạm giới nặng, làm theo tà kiến, hoặc đối với tam bảo nói xấu chẳng tin, khinh chê, phạm các tội nặng, th́ dù là Tỳ kheo, Tỳ kheo ni hay Ưu bà tắc, Ưu bà di, nếu trong một niệm sanh tâm cung kính, tôn trọng tam bảo th́, bạch Thế Tôn! Chúng sanh như vậy, cho đến một người, nếu họ chẳng được đặc biệt thọ kư ở nơi bà thừa khiến phải thối chuyển, ắt con lừa dối vô lượng vô biên a tăng kỳ chư Phật hiện tại ở các thế giới 10 phương, nhất định chẳng thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Bạch Thế Tôn! Con thành Phật rồi, các Trời, Rồng, Quỹ thần, Nhơn và Phi nhơn, nếu ở chỗ con mặc áo cà sa, cung kính cúng dường, tôn trọng khen ngợi, nếu các vị ấy được thấy dù là một phần ít cà sa, người mặc hay thấy, đều được chẳng thối chuyển nơi ba thừa. Nếu có chúng sanh bị đói khát bức bách, hoặc quỹ thần bần cùng, người hèn hạ, cho đến ngạ quỹ, nếu được một phần ít cà sa, cho đến bốn tấc, th́ những vị ấy từ đó sẽ được ăn uống đầy đủ tuỳ theo sở nguyện, mau được thành tựu. Nếu chúng sanh chống đối lẫn nhau, khởi tưởng oán thù, lo nghĩ tranh đấu, nếu các Trời, Rồng, Quỹ thần, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Câu biện trà, Tỳ xá già, Người và Phi nhơn, lúc cùng nhau tranh đấu mà nhớ đến áo cà sa liền sanh bi tâm, ḷng bỗng mềm dịu, không có oán thù, tâm được vắng lặng, tâm lành đều phục. Có người tại binh giáp, kiện tụng, đoạn sự, nếu giữ một phần ít áo cà sa ấy, hay lấy lưng áo mà tự hộ vệ, cố ư cúng dường, cung kính tôn trọng th́ các người đó không thể xâm phạm, nhiễu hại, khinh nhờn, họ thường thắng người, vượt qua các nạn. Bạch Thế Tôn! Nếu áo cà sa con chẳng có thể thành tựu năm thánh công đức như thế, ắt là v́ con lừa dối vô lượng vô biên a tăng kỳ chư Phật hiện tại ở các thế giới 10 phương, mai sau chẳng nên thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, làm các Phật sự, mất hết pháp lành, nhất định chẳng có thể phá hoại ngoại đạo được. Thiện nam tử! bấy giờ Bửu Tạng Như Lai duỗi cánh tay phải sắc vàng ra xoa đầu Đại Bi Bồ Tát khen rằng: Lành thay! Lành thay! Thiện đại trượng phu! Lời của ông nói là châu báu lớn, là đại hiền thiện. Ông thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, áo cà sa ấy sẽ thành tựu năm thánh công đức, làm lợi ích lớn. Thiện nam tử! lúc Đại Bi Bồ Tát Ma ha tát nghe Phật khen ngợi rồi, ḷng sanh vui mừng, hớn hở vô cùng. Nhân v́ Phật duỗi cánh tay sắc vàng, ngón dài trùm lên đầu tóc mềm mướt như áo trời, xoa đầu ông rồi, thân ông liền biến thành h́nh trạng một người 20 tuổi. Thiện nam tử! đại chúng trong hội ấy, các Trời, Rồng, Quỹ thần, Càn thát bà, Người và Phi nhơn, chấp tay cung kính hướng về Đại Bi Bồ Tát, rải các loại hoa cúng dường, trỗi các kỹ nhạc cúng dường, rồi lại khen ngợi, khen ngợi xong rồi, cùng nhau ngồi yên.

 

 

PHẨM V

ĐÀN BA LA MẬT

CHI I

 

Thiện nam tử! lúc ấy Đại Bi Bồ Tát cúi đầu kính lạy Bửu Tạng Như Lai. Lạy rồi ở trước chân Phật bạch rằng: Bạch Thế Tôn! Các môn tam muội được gọi là kinh môn thanh tịnh làm pháp trợ bồ đề. Vậy có bao nhiêu tam muội gọi là kinh môn thanh tịnh làm pháp trợ bồ đề? Sao gọi là Bồ tát vô uư được trang nghiêm đầy đủ nơi pháp nhẫn? Thiện nam tử! khi đó, Phật khen Đại Bi Bồ Tát rằng: Lành thay! Lành thay! Đại bi! Điều ông hỏi hôm nay rất lạ, rất đặc biệt! Đó là châu báu có lợi ích lớn cho vô lượng vô biên Bồ tát. Tại sao vậy? Đại bi! Ông có thể hỏi Phật những việc lớn như vậy. Đại bi! Nay ông hăy lắng nghe, lắng nghe! Nếu trai lành, gái lành tu hạnh Đại thừa, có Thủ Lăng Nghiêm Tam muội, nhập tam muội ấy th́ có thể vào tất cả tam muội. Có Bửu ấn tam muội nhập tam muội ấy th́ có thể ấn chứng các tam muội, có Sư Tử du hư, có Thiện nguyện tam muội, nhập tam muội ấy, có thể chiếu các tam muội, có nguyệt tràng tam muội, nhập tam muội ấy, có thể giữ các tam muội tràng, có Xuất nhất thiết pháp tánh tam muội, có quán ấn tam muội, nhập tam muội ấy, có thể quán tất cả đỉnh tam thể phân biệt các tam muội, nhập tam muội ấy có thể phân biệt các tam muội, có Ly tràng tướng tam muội, nhập tam muội ấy, có thể giữ tất cả các tam muội tràng, có Kim cang tam muội, nhập tam muội ấy có thể khiến cho tất cả tam muội không thể phá hoại được, có chư pháp ấn tam muội, nhập tam muội ấy có thể ấn tất cả pháp, có Tam muội vương thiện trú tam muội, nhập tam muội ấy th́ an trụ nơi các tam muội như vua, có phóng quang tam muội, nhập tam muội ấy, có thể phóng ánh sáng chiếu các tam muội, có Lực tấn tam muội, nhập tam muội ấy th́ được tăng tiến tự tại nơi các tam muội, có chánh xuất tam muội, nhập tam muội ấy, có thể chánh xuất các tam muội, có Biện từ tam muội, nhập tam muội ấy th́ hiểu được tất cả vô lượng âm thanh, có ngữ ngôn tam muội, nhập tam muội ấy, có thể nhập vào tất cả các thứ ngôn ngữ, có quán phương tam muội, nhập tam muội ấy, ắt có thể xem khắp các phương tam muội, có nhất thiết pháp tam muội, nhập tam muội ấy, có thể phá tất cả các pháp, có Tŕ ấn tam muội, nhập tam muội ấy, giữ các ấn tam muội có Nhập nhất thiết pháp tịch tịnh tam muội, nhập tam muội ấy, khiến tất cả tam muội vào nơi tịch diệt, có Bất thất tam muội, nhập tam muội ấy, chẳng mất tất cả tam muội, có Nhất thiết pháp bất động tam muội, nhập tam muội ấy, khiến tất cả tam muội bất động, có thân cận nhất thiết pháp hải ấn tam muội, nhập tam muội ấy, nhiếp giữ thân cận tất cả tam muội, có nhất thiết vô ngă tam muội, nhập tam muội ấy khiến các tam muội chẳng có sanh diệt, có biến phú hư không tam muội, nhập tam muội ấy, che khắp tất cả tam muội, có Bất đoạn nhất thiết pháp tam muội, nhập tam muội ấy giữ các tam muội, khiến chẳng dứt tuyệt, có Kim cang tràng tam muội, có nhất thiết pháp nhất vị tam muội, nhập tam muội ấy, có thể giữ tất cả pháp một vị, có Ly lạc thọ tam muội, nhập tam muội ấy, ĺa tất cả phiền năo, và trợ phiền năo, có nhất thiết pháp vô sanh tam muội, nhập tam muội ấy, cho biết tất cả tam muội không sanh, không diệt, có Quang minh tam muội, nhập tam muội ấy, có thể chiếu tất cả tam muội, khiến chúng sáng hừng, có Bất diệt nhất thiết pháp tam muội, nhập tam muội ấy, chẳng cầu phân biệt tất cả tam muội, có Bất cầu tam muội, nhập tam muội ấy, chẳng cầu tất cả các pháp, có Bất trú tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp chẳng trụ pháp giới, có Hư không ức tưởng tam muội, nhập tam muội ấy, khiến các tam muội đều như Hư không, thấy sự chơn thật của chúng, có Vô tâm tam muội, nhập tam muội ấy, khiến các tam muội đều như Hư không, thấy sự chơn thật của chúng, có Vô tâm tam muội, nhập tam muội ấy, có thể nơi tất cả các tam muội diệt tâm tâm số pháp, có thể nơi tất cả các tam muội diệt tâm tâm số pháp, có Sắc vô biên tam muội, nhập tam muội ấy, nơi tất cả tam muội, sắc sáng vô biên, có Tịnh đăng tam muội, nhập tam muội ấy, nơi tất cả tam muội, có thể làm đèn sáng, có Nhất thiết pháp vô biên tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội, ắt có thể thị hiện vô lượng trí tuệ, có Điền vô biên tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội thị hiện trí tuệ, có Nhất thiết quang minh tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội thị hiện môn tam muội quang minh, có chư giới vô biên tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội thị hiện vô lượng vô biên trí tuệ, có Bạch tịnh kiên cố tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội, được định không, có Tu Di sơn không tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội, thị hiện hư không, có Vô cấu quang minh tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội, trừ các dơ uế, có nhất thiết pháp trung vô uư tam muội, nhập tam muội ấy, nơi ác tam muội thị hiện không sợ, có lạc lạc tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội ắt được vui vui, có Nhất thiết pháp chánh du hư tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội thị hiện không có tất cả các sắc, có phóng điền quang tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội thị hiện phóng ánh sáng, có nhất thiết pháp an chỉ vô cấu tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội, thị hiện trí tuệ không dơ, có Vô tận tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội thị hiện chẳng hết, chẳng phải, chẳng hết, có Nhất thiết pháp Bất khả tư ngh́ thanh tịnh tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội thị hiện như tượng trong gương chẳng thể nghĩ bàn, có Đại quang tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội, khiến trí tuệ hừng sáng, có Ly tận tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội thị hiện chẳng hết, có Bất động tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội ấy chẳng động, chẳng nhận, không có chơi đùa, có Tăng ích tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội ắt thấy thêm ích, có nhật Đăng tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội phóng ra ánh sáng, có Nguyệt vô cấu tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội, hiện mặt trăng trong sáng, có Bạch tịnh quang minh tam muội, nhập tam muội ấy, được bốn loại biện tài, có Tác bát tác tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội, thị hiện trí tướng làm cùng chẳng làm, có Kim cang tam muội, nhập tam muội ấy, ắt được thông đạt tất cả các pháp, cho đến chẳng thấy chướng ngại như bủi nhỏ, có Trú tâm tam muội, nhập tam muội ấy, tâm ḿnh chẳng động, chẳng nhận vui khôer, chẳng thấy quang minh, không có giận hờn ở trong tâm đó, lại cũng chẳng thấy các tâm tưởng ấy, có Biến chiếu tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội thấy tất cả sáng, có Thiện trú tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội, khéo hay trụ được, có Bửu sơn tam muội, nhập tam muội ấy, thấy các tam muội giống như núi báu, có thắng pháp ấn tam muội, nhập tam muội ấy, có thể ấn các tam muội, có thuận pháp tánh tam muội, nhập tam muội ấy, thấy tất cả pháp thảy đều tuỳ thuận, có Ly lạc tam muội, nhập tam muội ấy, nơi tất cả pháp được ĺa vui đắm, có Pháp cự tam muội, nhập tam muội ấy, trừ các pháp mờ, có pháp vũ tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội, có thể mưa các trận mưa pháp, phá hoại tướng đắm nhiễm, có đẳng ngôn ngữ tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp, ắt được chỗ chủ yếu như con mắt nơi mặt có Ly ngữ ngôn tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp, cho đến chẳng có một lời, có Ly duyên tam muội, nhập tam muội ấy, dứt các duyên pháp, có bất tác tam muội, nhập tam muội ấy ở trong các pháp, chẳng thấy tác già, có tịnh tánh tam muội, nhập tam muội ấy, thấy tất cả các pháp tự tánh thanh tịnh, có vô chướng ngại tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp, không có chướng ngại, có Ly vơng tam muội, nhập tam muội ấy, thấy các tam muội ĺa đủ nơi cao thấp, có tập tụ nhất thiết công đức tam muội, nhập tam muội ấy, ĺa tất cả pháp tụ, có chánh trụ tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp, chẳng thấy có tâm và tâm số pháp, có Giác tam muội, nhập tam muội ấy, tức năng giác ngộ tất cả các pháp, có niệm phân biệt tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp, được vô lượng biện, có Tịnh trí giác tam muội, nhập tam muội ấy, nơi tất cả pháp, được b́nh đẳng, chẳng phải b́nh đẳng, có Trí tướng tam muội, nhập tam muội ấy, có thể ra khỏi ba cơi, có Trí đoạn tam muội, nhập tam muội ấy, thấy các pháp đoạn, có Trí vũ tam muội, nhập tam muội ấy, được tất cả mưa pháp, có Vô y tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp chẳng thấy chỗ nương, có Đại trang nghiêm tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp, chẳng thấy pháp tràng, có Hạnh tam muội, nhập tam muội ấy, thấy được các pháp hạnh đều vắng lặng. Có Nhất thiết hạnh ly nhất thiết hữu tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp, thông đạt hiểu rơ, có tục ngôn tam muội, nhập tam muội ấy, có thể hiểu lời của thế tục, có Ly ngữ ngôn vô tự tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp ắt được hiểu rơ không có ngôn ngữ, có Trí cự tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp, có thể soi sáng, có Trí thắng tướng hống tam muội, nhập tam muội ấy ở trong các pháp, thị hiện tịnh sáng, có thông trí tướng tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp ắt thấy tướng trí, có Thành tựu nhất thiết hạnh tam muội. Nhập tam muội ấy, ở trong các pháp thành tựu tất cả hạnh, có Ly khổ lạc tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp, không có chỗ nương, có vô tận hạnh tam muội, nhập tam muội ấy, thấy các pháp vô tận, có Đà la ni tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội, hay giữ tướng pháp, chẳng thấy tà chánh, có vô tăng ái tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp, chẳng thấy ghét yêu, có tịnh quang tam muội, nhập tam muội ấy, nơi pháp hữu vi, chẳng thấy nó dơ, có kiên lao tam muội, nhập tam muội ấy chẳng thấy các pháp, có Bất kiên lao hữu măn nguyệt tịnh quang tam muội, nhập tam muội ấy, ắt hay thành tựu đầy đủ công đức, có đại trang nghiêm tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội, ắt thất thành tựu vô lượng trang nghiêm, có Nhất thiết thế quang minh tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội, dùng trí chiếu sáng, có nhất thiết đẳng chiếu tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội ắt được nhất tâm thanh tịnh, có Tịnh vô tịnh tam muội, nhập tam muội ấy, nơi các tam muội chẳng thấy tịnh, bất tịnh, có vô trạch tam muội, nhập tam muội ấy, chẳng thấy nhà ở của các tam muội, có như nhĩ tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp, chẳng thấy làm cùng chẳng làm, có vô thân tam muội, nhập tam muội ấy, ở trong các pháp, chẳng thấy có thân. Các Bồ tát được các tam muội như vậy, khẩu nghiệp thanh tịnh như hư không, ở trong các pháp chẳng thấy khẩu nghiệp, giống như hư không, không có chướng ngại. Đại bi! Đó là tên các môn tam muội của Bồ tát Ma ha tát tu học đại thừa.

 

 

 

Kinh Bi-Hoa hết quyển thứ tám

 

*           *

*

 

 

 

QUYỂN THỨ CHÍN

Bắc- Lương Thiên- Trúc Tam Tạng Đàm Vô Sấm dịch ra Hoa Văn.

 

 

PHẨM V

ĐÀN BA LA MẬT

CHI II

 

Thiện nam tử! Sao gọi là pháp môn trợ bồ đề thanh tịnh của Bồ tát Ma ha tát? Thiện nam tử! Bố thí là pháp trợ bồ đề, v́ cải hoá chúng sanh. Tŕ giới là pháp trợ bồ đề, v́ đầy đủ nguyện lành. Nhẫn nhục là pháp trợ bồ đề, v́ đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Tinh tấn là pháp trợ bồ đề, v́ giáo hoá các chúng sanh. Thiền định là pháp trợ bồ đề, v́ khiến tâm được điều phục đầy đủ. Trí tuệ là pháp trợ bồ đề, v́ có thể sửa đổi đầy đủ các phiền năo. Đa văn là pháp trợ bồ đề, v́ đầy đủ vô ngại ở trong các pháp. Tất cả công đức là pháp trợ bồ đề, v́ tất cả chúng sanh được đầy đủ. Trí nghiệp là pháp trợ bồ đề, v́ được đầy đủ trí vô ngại. Tu định là pháp trợ bồ đề, v́ ắt được thành tựu trong mềm dẻo. Tuệ nghiệp là pháp trợ bồ đề, v́ xa ĺa tất cả các nghi hoặc. Từ tâm là pháp trợ bồ đề, v́ tâm vô ngại đối với các chúng sanh. Bi tâm là pháp trợ bồ đề, v́ cứu vớt chúng sanh thoát khổ. Hỷ tâm là pháp trợ bồ đề, v́ là phá yên vui. Xả tâm là pháp trợ bồ đề, v́ dứt yêu ghét. Nghe pháp là pháp trợ bồ đề, v́ dứt ngũ cái, năm món che tâm. Xuất thế là pháp trợ bồ đề, v́ xả các hữu. A lan nhă là pháp trợ bồ đề, v́ ĺa xa khoe khoang lôi cuốn. Chuyên tâm là pháp trợ bồ đề, v́ được Đà la ni. Chánh ức ( ức: nghĩ tưởng, ghi nhớ) là pháp trợ bồ đề, v́ ư thức phân biệt. Tư duy là pháp trợ bồ đề, v́ ở trong các pháp thành tựu được các nghĩa. Niệm xứ là pháp trợ bồ đề, v́ biết phân biệt thân, thọ, tâm, pháp. Chánh cần là pháp trợ bồ đề, v́ dứt các pháp ác, tu các pháp lành. Như ư túc là pháp trợ bồ đề, v́ thân tâm nhẹ nhàng, linh lợi. Chư căn là pháp trợ bồ đề, v́ được đầy đủ các căn của chúng sanh. Chư lực là pháp trợ bồ đề, v́ đầy đủ có thể hoại các phiền năo. Chư giác là pháp trợ bồ đề, v́ ở trong các pháp đầy đủ giác tri các tướng bửu pháp. Chánh đạo là pháp trợ bồ đề, v́ xa ĺa tất cả các tà kiến. Thánh đế là pháp trợ bồ đề, v́ dứt mất tất cả các phiền năo. Tứ biện là pháp trợ bồ đề, v́ dứt được mọi nghi hoặc của chúng sanh. Duyên niệm là pháp trợ bồ đề, v́ chẳng nghe người khác mà được trí tuệ. Thiện hữu là pháp trợ bồ đề, v́ giữ cho thành tựu tất cả công đức. Phát tâm là pháp trợ bồ đề, v́ thành tựu chẳng dối các chúng sanh. Dụng ư là pháp trợ bồ đề, v́ hiện ra tất cả pháp. Chuyên tâm là pháp trợ bồ đề, v́ làm cho các pháp lành thêm lợi ích. Tư duy thiện pháp là pháp trợ bồ đề, v́ tuỳ theo pháp được nghe mà thành tựu nó. Nhiếp thủ là pháp trợ bồ đề, v́ thành tựu sự giáo hoá các chúng sanh. Hộ tŕ chánh pháp là pháp trợ bồ đề, v́ khiến cho giống của Tam bảo chẳng dứt tuyệt. Thiện nguyện là pháp trợ bồ đề, v́ thành tựu thế giới Phật nghiêm tịnh. Phương tiện là pháp trợ bồ đề, v́ mau được thành tựu nhất thiết trí (tất cả trí). Thiện nam tử! Đó là pháp môn trợ bồ đề thanh tịnh của Bồ tát Ma ha tát.

Thiện nam tử! Lúc đó, Bửu Tạng Như Lai nh́n khắp đại chúng Bồ tát ở bốn phía mà phán với Đại Bi Bồ Tát rằng: Đại bi! Sao gọi là Bồ tát dùng vô sở uư trang nghiêm anh lạc, đầy đủ pháp nhẫn? Thiện nam tử! Nếu Bồ tát thấy đệ nhất nghĩa được tinh tấn vô si, chẳng đắm ba cơi, nếu chẳng đắm ba cơi, th́ gọi là pháp tam muội vô uư của sa môn: Động thủ như giữa khoảng không ắt không chỗ đắm, và khi quán các pháp, chẳng thấy tướng mạo. Đại bi! Đó là Bồ tát Ma ha tát dùng vô sở uư trang nghiêm anh lạc. Thiện nam tử! Sao gọi là Bồ tát đầy đủ các pháp nhẫn? Bồ tát, lúc trụ nơi pháp, chẳng thấy các pháp như tướng bụi nhỏ ở trong các pháp, quán thuận nghịch hành, hiểu không có quả báo, ở chỗ tu tậ Từ, hiểu không có ngă ở chỗ tập Bi, hiểu không chúng sanh, ở chỗ tập Hỷ, hiểu không có mệnh, ở chỗ tập Xả, hiểu không có người. Tuy làm việc bố thí, chẳng thấy vật thí, tuy làm việc giữ giới, chẳng thấy tâm tịnh, tuy hiện nhẫn nhục chẳng thấy chúng sanh, tuy hành tinh tấn, không tâm ly dục, tuy hành thiền định, chẳng trừ ác tâm, tuy hành trí tuệ, tâm không có làm, tuy hành niệm xứ, chẳng thấy tư duy, tuy hành chánh cần, chẳng thấy tâm sanh diệt, tuy hành như ư túc, chẳng thấy tâm vô lượng, tuy đang lúc tin, chẳng thấy tâm không chướng ngại, tuy đang lúc niệm, chẳng thấy tâm được tự tại, tuy đang lúc định, chẳng thấy có tâm nhập định, tuy đang lúc tuệ, chẳng thấy tuệ căn, tuy hành các lực, không chỗ phá hoại, tuy hành các giác tâm không phân biệt, tuy hành chánh đạo, chẳng thấy các pháp, tuy hành định nghiệp, chẳng thấy tâm đang vắng lặng, tuy hành tuệ nghiệp, chẳng thấy chỗ làm của tâm, tuy hành thánh đế, chẳng thấy sự thông đạt tướng pháp, tuy tu niệm Phật, chẳng thất tâm hạnh vô lượng, tuy tu niệm pháp, tâm bằng pháp giới, tuy tu niệm tâm, tâm không chỗ trụ, giáo hoá chúng sanh tâm được thanh tịnh, tuy giữ chánh pháp, nơi các pháp giới tâm chẳng phân biệt, tuy tu tịnh độ, mà tâm b́nh đẳng giống như hư không, tuy tu tướng tốt, tâm không các tướng, tuy hành nhẫn nhục, tâm không sở hữu, tuy trụ bất thối, thường tự chẳng thấy lui hay chẳng lui, tuy hành đạo tràng biết rơ ba cơi không có tướng khác, tuy hoại các ma, vẫn thấy lợi ích vô lượng chúng sanh, tuy hành bồ đề, quán các pháp không, không tâm bồ đề, tuy chuyển pháp luân, nơi tất cả pháp không chuyển, không quay trở lại, tuy lại thị hiện đại bát niết bàn mà trong sanh tử, tâm b́nh đẳng không khác. Đó gọi là Bồ tát đầy đủ pháp nhẫn. Khi Phật nói pháp ấy, có 64 ức Bồ tát Ma ha tát, từ 10 phương đến núi Kỳ xà quật, tại chỗ Đức Phật Thích Ca ngự, nghe Kinh Môn Thanh Tịnh Pháp Trợ Bồ Đề Tam Muội Bổn Duyên ấy, nghe pháp ấy rồi được nhẫn vô sanh.

Lúc ấy, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni phán với đại chúng rằng: Các ông nên biết: Bửu Tạng Như Lai trong đời xa xưa, lúc nói pháp ấy có 48 hằng hà sa Bồ tát Ma ha tát được nhẫn vô sanh, số Bồ tát Ma ha tát bằng số bụi nhỏ trong bốn thiên hạ trụ địa bất thối, một hằng sa Bồ tát Ma ha tát được Kinh Môn Thanh Tịnh Pháp Trợ Bồ Đề Tam Muội Bổn Nhiên này. Thiện nam tử!  Lúc Đại Bi Bồ Tát nghe pháp ấy rồi, ḷng sanh vui mừng, liền được biến thân, h́nh trạng giống như người 20 tuổi, theo hầu Như Lai, như bóng theo h́nh. Thiện nam tử! Bấy giờ Chuyển luân thánh vương cùng 1000 người con vua, 84000 vua nhỏ, 92 ức nhân dân, đều cùng xuất gia, ǵn giữ giới cấm, tu học nghe nhiều, nhẫn nhục tam muội, siêng làm tinh tấn.

Thiện nam tử! Lúc đó Đại Bi Bồ Tát Ma ha tát dần dần theo Phật, hỏi nhận 84000 pháp tụ của Thanh văn, 90.000 pháp tụ của Duyên giác nhận giữ đọc tụng thông thuộc, pháp tạng đại thừa 100.000 pháp tụ trong chỗ thân niệm, 100.000 trong chỗ thọ niệm, 100.000 pháp tụ trong chỗ tâm niệm, 100.000 pháp tụ trong chỗ pháp niệm, thảy đều nhận giữ, đọc tụng thông thuộc, 100.000 pháp tụ trong 18 giới, 100.000 pháp tụ trong 12 nhập, 100.000 pháp tụ dứt trừ tham dục, 100.000 pháp tụ dứt trừ giận hờn, 100.000 pháp tụ dứt trừ ngu si, 100.000 pháp tụ về các lực vô uư, pháp bất cộng, 10 ức pháp tụ như vậy, thảy đều nhận giữ đọc tụng thông thuộc. Thiện nam tử! Sau Đức Phật ấy nhập niết bàn, bấy giờ Đại Bi Bồ Tát Ma ha tát dùng vô lượng vô biên các loại hoa, mạt hương, đồ hương, tràng phan, lọng báu, châu ngọc, kỹ nhạc để cúng dường, dùng các loại hương dồn lại làm cỏ, đốt xác thân Phật, thân giữ xá lợi, dựng bảy tháp báu cao 5 do tuần, ngang dọc dầy một do tuần, trong bảy ngày, lại dùng vô lượng vô biên các loại hoa, hương, kỹ nhạc, tràng phan, lọng báu mà cúng dường xá lợi. Lúc ấy Đại Bi Bồ Tát lại khiến vô lượng vô biên chúng sanh yên dừng, trụ ở trong pháp ba thừa. Thiện nam tử! qua bảy ngày rồi, Đại Bi Bồ Tát cùng 84000 người đều cùng xuất gia, cắt tóc cạo râu mặc áo cà sa. Bồ tát tuỳ thuận ḷng người ǵn giữ chánh pháp trọn 10 ngàn năm, khiến vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng sanh yên dừng, trụ trong ba thừa, thọ tam quy ngũ giới, bát quan trai, 10 giới sa di, thứ lớp đầy đủ tịnh hạnh đại tăng. Bồ tát lại lần lượt khuyên dạy vô lượng trăm ngàn ức chúng sanh an dừng, trụ nơi phương tiện thần thông, bốn vô lượng hạnh, khiến quán năm ấm giống như giặc thù, quan sát các nhập như làng xóm không người, quán pháp hữu vi từ nhân duyên sanh, quán hoá chúng sanh khiến được tri kiến, quán tất cả pháp như h́nh trong gương, như cái nóng khi trời nóng, như mặt trăng trong nước, ở trong các pháp đều biết vô ngă, không sanh không diệt, vắng lặng vi diệu niết bàn đệ nhất. Lại khiến vô lượng vô biên chúng sanh an dừng trụ trong tám thánh đạo, Bồ tát làm được các việc có lợi ích lớn như vậy rồi, th́ mệnh chung, xá lợi của Đại bi Tỳ kheo được vô lượng vô biên, trăm ngh́n người cúng dường bằng mọi cách cúng dường như pháp cúng dường cho Chuyển luân thánh vương. Đại chúng cúng dường xá lợi Đại bi như vậy.

Ngày Đại bi Tỳ kheo mệnh chung cũng là ngày mà chánh pháp của Bửu Tạng Như Lai diệt mất. V́ bổn nguyện các Bồ tát sanh vào nước Phật hay sanh lên Trời Đâu Suất, hoặc cơi Người, Rồng, hay cơi Dạ xoa, hoặc A tu la hay trong Súc sanh. Thiện nam tử! Đại bi Tỳ kheo sau khi mệnh chung, v́ bổn nguyện sanh về phương nam, cách đây 10 ngàn cơi Phật, tại thế giới Phật tên là Hoan Lạc. Nhân dân ở đó thọ 80 tuổi, nhóm họp tất cả các căn bất thiện vui việc sát hại, an trụ các ác. Chúng sanh nơi đó, không có tâm từ bi, bất hiếu đối với cha mẹ, cho đến chẳng sợ đời sau. Đại bi Tỳ kheo, v́ bổn nguyện, sanh về thế giới ấy, tại nhà một Chiên đà la: Thân thể người đó cao to, đoan chánh, thế lực vững mạnh, uy dơng đầy đủ, hỏi đáp rành mạch, biện luận nhanh chóng, các việc như thế thảy đều hơn người. Vị đó dùng thế lực mạnh bắt ép nhiều người, nói rằng: Nếu nay ngươi nhận giới chẳng ăn trộm và chịu xa ĺa các thứ tà kiến, làm theo chánh kiến, th́ ta tha mạng, cấp cho các vật của cải cần dùng, khiến chẳng nghèo thiếu, nếu mà không nhận, ta phải giết ngươi, sau đó bỏ đi. Nghe vậy, mọi người quỳ xuống chấp tay thưa rằng: Nhân giả! Nay ngày v́ tôi, dắt dẫn sửa trị như ngài đă dạy, nay tôi nhận giữ cho đến khi chết, chẳng hề ăn trộm, làm theo chánh kiến, cũng lại như vậy. Bấy giờ, người Chiên Đà La sức mạnh ấy đến chỗ vua ở, hoặc nhà đại thần, đều nói như vầy: Nay tôi cùng khổ, thiếu thốn đủ thứ như là: Các món ăn uống, thuốc men, áo quần, đồ nằm, hương hoa, vàng bạc, hàng hoá, châu ngọc, lưu ly, vật quư, ngọc tỷ, san hô, hổ phách, châu thiệt, châu giả,… nếu tôi được các thứ như vậy, tôi sẽ dùng nó cấp cho chúng sanh. Quốc vương, đại thần bèn đem cho ông các vật cần dùng, khiến được đầy đủ. Nhờ việc bố thí của ông, người Chiên Đà La khiến cho vua và đại thần an dừng trụ trong thập thiện. Thuở ấy nhân dân được thêm thọ mệnh đến 500 tuổi. Khi vua qua đời, các quan đại thần tôn người Chiên Đà La lên kế vị, nhơn đó đặt hiệu là Công Đức Lực. Thiện nam tử! Lúc đó Công Đức Lực làm vua một nước chẳng được bao lâu, lại nhờ sức lực làm vua hai nước, chẳng bao lâu nữa, lại được làm Chuyển Luân Thánh Vương cai trị cơi Diêm Phù Đề. Sau đó Vua giáo hoá tất cả chúng sanh khiến họ an dừng, trụ giới chẳng sát sanh, cho đến chánh kiến lại cũng như vậy. Tuỳ theo các chỗ chúng sanh được vui, Vua khuyên dạy họ, khiến họ an trụ ở trong ba thừa. Thời ấy, Vua Công Đức Lực giáo hoá vô lượng chúng sanh bên trong cơi Diêm Phù Đề theo đạo thập thiện và pháp ba thừa, làm xong việc ấy, bên trong cơi Diêm Phù Đề, vua cho người rao to lên rằng: Nếu ai cầu xin, muốn được ăn uống, cho đến muốn được các loại châu báu, nên hăy đến đây ta cấp phát cho, lúc ấy tất cả khất sĩ bên trong cơi Diêm Phù Đề nghe lời rao đó, đều đến hội họp, vua Công Đức Lực tuỳ ư mỗi người cấp phát cho họ mọi thứ cần dùng, khiến đều thoả măn. Bấy giờ có một Ni Càn Tử tên là Khôi Âm, đến chỗ Vua ngự tâu rằng: Nay Vua đang làm việc bố thí lớn để cầu chánh đạo vô thượng, xin Vua cho tôi đều tôi đang cần khiến được đầy đủ, đời sau Vua sẽ đốt sáng đèn pháp. Vua bèn hỏi rằng: Ngươi cần vật ǵ? Người ấy đáp rằng: Tôi tŕ tụng chú thuật, muốn được chiến đấu với A tu la doạ cho chúng sợ mới là thắng lợi, bởi vậy tôi mới tâu Vua xin được như ư. Vật tôi cần là hai con mắt và da của người chưa chết. Lúc Đại vương nghe lời ấy rồi, bèn suy nghĩ rằng: Nay ta đă được vô lượng thế lực của Chuyển luân thánh vương đă khiến an dừng vô lượng chúng sanh, trụ nơi thập thiện và trong ba thừa, cũng đă bố thí vô lượng vô biên. Nay vị thiện trí thức này muốn ta dùng thân không bền vững để mua thân bền vững. Nghĩ xong, Vua nói: Hai người khá sanh tâm hoan hỷ, Ta dùng đôi mắt thịt phàm phu nầy để bố thí cho ngươi, duyên ấy khiến ta đời sau được tuệ nhăn thanh tịnh, lấy tâm hoan hỷ lột da cho ngươi, duyên ấy khiến ta thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, được thân sắc vàng. Thiện nam tử! Lúc ấy Vua Công Đức Lực tự dùng tay phải, chọc lấy đôi mắt trao cho Ni Càn Tử, máu chảy dơ mặt, Vua vẫn b́nh tỉnh mà nói như vầy: các Thần, Trời, Rồng, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Người cùng Phi nhơn, hoặc tại hư không, hoặc ở trên đất, ắt nghe Ta nói: Nay ta bố thí v́ đạo vô thượng, Nát bàn trắng trong, độ các chúng sanh khỏi bốn ḍng nước, khiến được an dừng trụ nơi Nát bàn. Lại nói như vầy: Nếu ta nhất định thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tuy làm các việc như vậy, nhưng mệnh căn chẳng dứt, chẳng mất chánh mạng, chẳng sanh hối tiếc Ni Càn Tử làm việc chú thuật tiện được. Lại nói như vầy: Nay ngươi khá đến lột lấy da Ta. Thiện nam tử! chàng Ni Càn Tử bèn lấy dao bén lột lấy da Vua xong vội bước lui, rồi trong bảy ngày làm việc chú thuật được thành tựu cả. Khi đó Đại vương trong bảy ngày liền thọ mệnh chưa dứt, chẳng mất chánh niệm, tuy chịu khổ vậy, cho đến một niệm, chẳng sanh hối tâm. Thiện nam tử! Nay ngươi nên biết. Lúc ấy Đại Bi Bồ Tát, há là người khác sao? Chớ quán như thế! Đó là thân ta trong đời quá khứ, chỗ Phật Bửu Tạng, lúc mới phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, Ta đă khuyên dạy vô lượng vô biên chúng sanh nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Thiện nam tử! lúc mới bắt đầu, Ta đă dũng mănh tinh tấn như vậy. Khi đó Ta v́ sức bổn nguyện, cho nên lúc mất sanh vào thế giới hoan hỷ, nhà Chiên đà la. Đó là lần thứ hai, Ta đă dũng mănh tinh tấn. Ta sanh vào nhà Chiên đà la giáo hoá chúng sanh trong các pháp lành, tự dùng thế lực cho đến được làm Chuyển luân thánh vương, diệt sự đấu tranh dơ bẩn của cơi Diêm Phù Đề, khiến được vắng lặng, thọ mệnh thêm lên. Thế là ban đầu Ta đă xả bỏ da và đôi mắt. Thiện nam tử! Ta v́ bổn nguyện nên khi mệnh chung trở lại sanh vào thế giới Hoan hỷ nhà Chiên đà la, cho đến được làm Chuyển luân thánh vương, dùng thế lực lớn, an dừng chúng sanh trong pháp lành. Nơi thế giới ấy, lại được diệt trừ các nghiệp dơ bẩn, giặc thù, đấu tranh, khiến các chúng sanh tăng thêm tuổi thọ. Lúc ấy Ta lại xả bỏ lưỡi, tai nơi cơi Tam thiên Đại thiên Thế giới, trong mỗi thiên hạ, làm lợi ích lớn, rồi v́ nguyện lực, tinh tấn vững bền thứ lớp như vậy, làm việc lợi ích trong một hằng sa đời ác ngũ trược, an dừng chúng sanh trụ nơi pháp lành và trong ba thừa, diệt trừ giặc thù, đấu tranh dơ bẩn. Thiện nam tử! C̣n các thế giới thanh tịnh ở các phương khác, có bao nhiêu Phật, lúc hiện bổn hạnh A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, chẳng nói lỗi người, chẳng v́ người khác nói lời thô ác, chẳng dùng thế lực thị hiện khủng bố, chẳng khuyên chúng sanh theo thừa thanh văn, thừa Bích Chi Phật. Bởi thế chư Phật thành tựu đầy đủ A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, được các thế giới thanh tịnh tốt đẹp, không có tội danh, không có nhận giới, trước sau chẳng nghe các lời thô ác, các tiếng chẳng lành, mà thường nghe pháp, ĺa tất cả tiếng chẳng được ưng ư, ở giữa chúng sanh mà được tự tại, chẳng có các danh thanh văn, Bích chi. Thiện nam tử! Ta trong hằng sa số đại kiếp, nơi hằng hà sa quốc độ không Phật, đời ác ngũ trược, dùng lời thô ác, nhân duyên dứt mạng khủng bố chúng sanh, sau đó khuyên trụ ở trong pháp lành và trong ba thừa, v́ dư nghiệp ấy khiến được thế giới tệ ác như vậy, dùng âm chẳng lành xướng đầy thế giới, bởi thế nay được chúng sanh chẳng lành đầy dẫy thế giới, nói pháp ba thừa, như bổn nguyện Ta, giữ thế giới Phật điều phục chúng sanh. Ta đă tinh cần hành đạo Bồ tát, làm bao nhiêu việc như Ta đă nói. Bởi thế nay được chủng tử tương trợ của thế giới Phật. Được vậy là theo bổn nguyện của Ta. Thiện nam tử! Nay ta lược nói việc làm thuở xưa về Đàn ba la mật. Lúc Ta thị hiện Đàn ba la mật th́ các Bồ tát quá khứ, khi hành đạo Bồ tát, chẳng có ai thực hiện được các hạnh như Ta.trong đời vị lai, hành đạo Bồ tát cũng không có ai làm được các hạnh như thế. Ta làm Bồ tát lúc hành Đàn ba la mật th́ trong quá khứ chỉ trừ 8 người thiện đại trượng phu đă làm như ta:

  • Người thứ nhất tên là Nhất Địa Đắc, ở tại phương Nam, qua tất cả hoạn quốc, thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Phá Phiền Năo Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Nơi đó người thọ 100 tuổi, Phật nói pháp bảy ngày rồi nhập niết bàn.
  • Người thứ hai tên là Tinh Tấn Thanh Tịnh, ở tại phương Đông nơi quốc độ nóng bức thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Công Đức Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, nơi đó người thọ 100 tuổi, Phật nói pháp, làm mọi Phật sự qua một hằng hà sa đại kiếp rồi nhập Vô thượng niết bàn, xá lợi Phật ấy cho đến ngày nay vẫn c̣n làm Phật sự tại các nước không có Phật như Ta chẳng khác.
  • Người thứ ba tên là Kiên Cố Hoa, cần hành tinh tấn trong các tam muội, dùng thế lực lớn làm việc bố thí, sẽ trong đời sau, qua 10 hằng hà sa đại kiếp, ở tại phương Bắc, nới thế giới Hoan lạc, thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Đoạn Ái Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.
  • Người thứ tư tên là Tuệ Xí Nhiếp Thủ Hoan Hỷ, qua một đại kiếp ở tại phương Tây, nơi thế giới Khả uư. Cơi đó người thọ 100 tuổi. Tuệ Xí thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Nhật Tạng Quang Minh Vô Cấu Tôn Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.
  • Nay trước mặt Ta có hai Bồ tát, một tên là Nhật Quang, một tên là Hỷ Tư. Đời vị lai, quá vô lượng vô biên đại kiếp, tại phương trên, nơi quốc độ Khôi Vụ kiếp Đại loạn, đời ác ngũ trược, có nhiều phiền năo, người thọ 50 tuổi. V́ bổn nguyện Nhật Quang Bồ Tát ở đó thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Bất Tư Ngh́ Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, trong mười năm trọn làm đủ Phật sự, rồi nhập niết bàn. Ngày Phật niết bàn, chánh pháp cũng mất. Sau đó 10 năm, luống qua không Phật, tuổi thọ giảm lần đến 30 tuổi.
  • Hỷ Tư Bồ Tát cũng v́ bổn nguyện, ở đó thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hiệu là Thắng Nhật Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy cũng trong 10 năm làm đủ Phật sự rồi nhập niết bàn. Phật niết bàn rồi, cũng v́ bổn nguyện, chánh pháp trụ thế trọn 70 năm. Hai Bồ tát nầy, ở trước mặt Ta, mới được thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Hai vị nghe thế, ḷng sanh vui mừng, cúi đầu kính lạy. Bởi ḷng vui mừng, hai vị bay lên, trụ giữ hư không, cao bảy lần cây Đa la, chấp tay hướng Phật, khác miệng chung lời, cùng nói kệ rằng:

Như Lai Quang Minh

Hơn cả Nhật, Nguyệt

Năng ở đời ác

Diễn đại trí tuệ

Điều ngự trắng trong

Không có đục dơ

Dùng nghị luận diệu

Phá phục ngoại đạo

Tôi vô lượng kiếp

Tu định vô tướng

Để cầu vô thượng

Thắng diệu Bồ đề

Cúng dường chư Phật

Số như hằng sa

Mà Phật quá khứ

Chẳng thọ kư tôi

Thế tôn ĺa dục

Tâm được giải thoát

Nơi đời đen tối

Khéo làm Phật sự

V́ người mất đạo

Mà nói chánh pháp

Khiến được ra khỏi

Sống chết dập dồi

Sở nguyện tôi nay

Nơi đây tự tại

Xuất gia tu đạo

Phật pháp thanh tịnh

Giải thoát tịnh giới

Theo lời mà làm

Định tâm theo Phật

Như bóng theo h́nh

Chẳng v́ lợi dưỡng

Chỉ cầu chánh pháp

Được nghe pháp rồi

Uống vị cam lồ

Bởi vậy Thế Tôn

Thọ kư cho tôi

Nơi đời vị lai

Được đạo vô thượng

Thiện nam tử! C̣n hai người nữa vẫn chưa phát tâm. Đă phát tâm rồi, một là Nhật Quang, hai là Hỷ Tư. Trước có bốn người, một là Đắc Địa, hai là, Tinh Tấn Tịnh, ba là Kiên Cố Hoa, bốn là Tuệ Xí nhiếp thủ Hoan hỷ. Cộng có tám người, trong đó có sáu Bồ tát đă được ta mới khuyên, khiến phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Thiện nam tử! Nay ngươi hăy lắng nghe nhân duyên thuở xưa. Trong quá khứ, vô lượng a tăng kỳ kiếp, cơi này tên là Vô Cấu Tu Di, người thọ 100 tuổi, có Phật ra đời gọi là Hương Liên Hoa. Phật niết bàn rồi, trong thời tượng pháp, Ta làm Đại Cường Lực Chuyển luân thánh vương hiệu là Nan Tư Hoại, cai trị cơi Diêm Phù Đề, có đủ 1000 người con. Ta khuyên dạy tất cả, khiến phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Kế đó, cũng trong thời tuwongj pháp của Phật Hương Liên Hoa, chúng xuất gia tu đạo làm việc lợi ích cho đạo pháp, chỉ trừ sáu người chẳng chịu xuất gia, phát tâm bồ đề. Lúc ấy Ta nói với sáu người con đó rằng: Nay các ngươi mong cầu điều ǵ? Tại sao chẳng chịu phát tâm cầu đạo vô thượng? Bấy giờ, sáu người con ấy thưa rằng: Chẳng nên xuất gia là tại làm sao? Nếu xuất gia vào cuối đời tượng pháp, chẳng có thể hộ tŕ giới thành tựu. Ĺa bảy món thánh v́ chẳng hộ giới, ắt phải ch́m trong bùn dơ sanh tử, đạo ba đường ác, chẳng được sanh vào các cơi Trời, Người, v́ nhân duyên ấy, chúng con chẳng có thể xuất gia tu đạo. Thiện nam tử! Ta lại hỏi với giọng nghiêm trọng: Tại sao các ngươi chẳng phát tâm cầu đạo vô thượng? Sáu người con đáp: Nếu cho chúng con cơi Diêm Phù Đề, sau đó chúng con sẽ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Thiện nam tử! Ta nghe lời ấy, ḷng sanh vui mừng, bèn tự nghĩ rằng: Nay Ta đă dạy người Diêm Phù Đề an trí tam quy, thọ trai 8 giới, trụ nơi ba thừa. Nay Ta cũng nên chia Diêm Phù Đề ra làm sáu phần, cho sáu người con, khiến chúng phát tâm cầu đạo vô thượng, sau đó Ta sẽ xuất gia tu đạo. Nghĩ như vậy rồi, Ta theo ư định, chia Diêm Phù Đề ra làm sáu phần cho sáu người con, kế Ta xuất gia. Bấy giờ sáu Vua chẳng hoà thuận nhau cùng chống dối nhau, đấu tranh, công phạt, xâm lược, cướp của, trói kẹp lẫn nhau. Lúc ấy, bên trong cơi Diêm Phù Đề, lúa chẳng được mùa, nhân dân cơ cực, trời mưa trái mùa, cây cối khô héo, chẳng sanh hoa quả, dược thảo chẳng mọc, người và thú vật cho đến loài chim thảy đều đói khổ, thân thể nóng sốt, giống như lửa ép. Khi đó Ta tự nghĩ rằng: Nay ta cũng nên tự ḿnh xẻ thân ḿnh, dùng da, thịt, máu, bố thí cho chúng sanh khiến được no đủ. Nghĩ vậy rồi, từ chỗ đang ở nơi A Lan Nhă, đến giữa nhân gian, bên đường có núi tên Thuỷ Ái Hộ, đứng trên núi ấy, lại phát thệ nguyện mà nói kệ rằng:

Như Ta tự bỏ

Thân mệnh của ḿnh

V́ tâm đại bi

Chẳng cầu quả báu

Chỉ v́ lợi ích

Cho Trời và Người

Nguyện làm núi thịt

Thí cho chúng sanh

Nay Ta tự xả

Sắc thân đoan trang

Chẳng cầu Đế Thích

Thiên ma, Phạm Vương

Chỉ v́ lợi ích

Trời, Người mai sau

Dùng máu thịt nầy

Thí cho chúng sanh

Các thần Trời, Rồng

Người và Phi nhơn

Ngụ chốn núi rừng

Nay nghe lời Ta

V́ các chúng sanh

Ta khởi đại bi

Tự dùng máu thịt

Cấp thí cho họ

Thiện nam tử! Lúc Ta phát nguyện như vậy rồi, chư Thiên rối loạn, đại địa, các núi, Tu di, biển lớn, thảy động sáu cách, đại chúng Trời, Người phát hiệu thánh bi. Ta liền khi đó, gieo ḿnh xuống hố Thuỷ Ái Hộ Sơn v́ do nguyện lực hoá thành núi thịt cao một do tuần, hai chiều ngang dọc cũng một do tuần. Bấy giờ nhân dân, thú vật chim chóc, hết thảy bắt đầu ăn thị uống máu. Lại v́ bổn nguyện, vào khoảng nửa đêm, thân núi phát triển, cao ngh́n do tuần, ngang dọc hai chiều cũng ngh́n do tuần. Tự nhiên quanh núi sanh nhiều đầu người, tóc, lông, tai, mắt, mũi, miệng, môi, lưỡi, thảy đều đầy đủ, mỗi một các đầu đều reo lên rằng: Chúng sanh các ngươi, mỗi một tuỳ ư lấy mà sử dụng: Uống máu, ăn thịt, lấy đầu mắt, tai, mũi, môi, răng, lưỡi, lấy cho đầy đủ, sau đó phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hoặc tâm Thanh văn, hay Bích Chi Phật. Các ngươi nên biết: Các vật ở đây lấy không thể hết, ăn nó dễ tiêu, chẳng thọ mệnh trời. Có người trí sáng ăn thịt uống máu, lấy đầu mắt tai và những mũi lưỡi, hoặc phát thanh văn, thừa Bích chi Phật, hoặc phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hoặc cầu giàu vui trong cơi Trời, Người, v́ nhờ bổn nguyện, thân không tổn hại, cho đến vạn năm. Trong Diêm Phù Đề, người và quỹ thần, chim chóc thú vật thảy đều no đủ. Qua 100.000 năm, số mắt bố thí, như một hằng sa, số máu bố thí như nước bốn bể, số thịt xả bỏ như 1000 núi Tu Di, số lưỡi xả bỏ như núi Đại Thiết Vi, số tai xả bỏ như núi Thuần Đà La, só mũi xả bỏ như núi Tỳ Phú La, số răng xả bỏ như núi Kỳ Xà Quật, số da thân bỏ như số đất đai, trong Tam thiên Đại thiên Thế giới. Thiện nam tử! Nay ngươi nên biết: Thuở xưa Ta đă qua 100.000 năm xả bỏ vô lượng vô biên a tăng kỳ thân, trong một thọ mạng tự lấy máu thịt cấp thí như vậy, vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng sanh đều khiến no đủ, cho đến một niệm, chẳng sanh hối tiếc. Lúc ấy Ta cũng lại nói như vầy: Nếu tôi nhất định thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, sở nguyện thành tựu đạt được mục đích giải thoát, th́ nay nơi một Diêm Phù Đề này,  trong 100.000 năm, tự lấy máu thịt cấp thí cho tất cả vô lượng chúng sanh, như vậy trong một hằng sa trăm ngh́n năm, đầy khắp nơi Tu Di vô cấu của Tam thiên Đại thiên Thế giới, Ta đă làm núi máu thịt, ở mỗi một thiên hạ, trong một trăm ngàn năm, tự lấy máu thịt đầu mắt mũi tai,… cấp cho chúng sanh khiến được no đủ. Như vậy trong hằng sa đại kiếp, v́ các chúng sanh, Ta đă xả bỏ thân mạng. Nếu sở nguyện Ta chẳng thành chẳng được lợi ích, tức Ta lừa dối chư Phật Thế Tôn nơi vô lượng vô biên thê giới 10 phương, nhất định Ta chẳng thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, để v́ chúng sanh, chuyển bánh xe pháp, tụ nơi sanh tử, ắt rồi cuối cùng, chẳng nghe thành Phật, thanh pháp, thành Tỳ kheo tăng, thanh Ba la mật, thanh lực, vô uư, cho đến tất cả các thanh thiện căn. Nếu Ta chẳng có thể thành tựu bỏ thân bố thí cho chúng sanh no đủ, ắt Ta thường đoạ địa ngục a tỳ.

Thiện nam tử! Ta nới xa xưa, sở nguyện như vậy đều được thành tựu. Nói mỗi thiên hạ, đều bỏ nhục thân, cấp cho chúng sanh, khiến được no đủ, thứ lớp như vậy, đầy khắp 10 phương thế giới chư Phật, như hằng hà sa, đều bỏ nhục thân, cấp cho chúng sanh, khiến được no đủ.

Thiện nam tử! Nay ngươi nên biết, Ta vào thuở đó, hành Đàn ba la mật, xả thân bố thí, thứ lớp như vậy, số mắt bố thí, nếu đem dồn lại đầy Diêm Phù Đề, nó sẽ cao đến cơi Trời Đao Lợi. Thiện nam tử! Đó là Như Lai lược nói xả thân Đàn ba la mật vậy.

Lại nữa, thiện nam tử! Cũng qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, lúc thế giới này đổi tên Nguyệt Lôi, cùng đời ngũ trược, Ta vào thuở ấy làm Chuyển luân vương, cai trị cơi Diêm Phù Đề, hiệu là Đăng Minh Quang. Ta cũng giáo hoá vô lượng vô biên a tăng kỳ người, khiến họ an dừng trụ trong thiện pháp, như trên đă nói. Một hôm, xong việc Ta đi du ngoạn trong các vườn, rừng quan sát đất đai, bổng thấy một người thân bị trói cột. Ta liền hỏi rằng: Ông ấy tội ǵ? Đại thần vội đáp: Những ai có ruộng làm được lúa mạch phải chia sáu phần, một phần nộp quan. Người ấy chẳng chịu làm theo phép Vua, chẳng chịu thâu nộp chi bị trói. Ta nghe như vậy, bèn cho lệnh thả và dặn Đại thần từ nay về sau không nên ép lấy. Đại thần đáp rằng: Nhân dân ở đây, cho đến không có một người vui ḷng nộp lúa. Nhưng các Vương tử, quyến thuộc của Vua, thế nữ hậu cung ăn uống thường ngày, các đồ chi dụng, mỗi một đều từ phương xa ép lấy, không có một ai thanh tịnh đem cho. Nghe xong lời ấy ḷng Ta buồn rầu, tự nghĩ như vầy: Diêm Phù Đề này nên đem cho ai? Lúc ấy Ta có 500 người con, trước đă phát tâm cầu đạo vô thượng, nên chia cơi nầy làm 500 phần để cho các con. Ta nên xuất gia ơ A Lan Nhă, tu các phép tiên, học hạnh thanh tịnh. Nghĩ như vậy rồi, bèn chia cơi ấy làm 500 phần cho các con trai, kế đó xuất gia, đến bờ Nam Hải, vào trong rừng cây Uất đầu, ma thọ, ăn các hột đó, dần dần tu học, được năm thần thông.

Thiện nam tử! Thời ấy tại Diêm Phù Đề, có 500 thương nhân, ra ngoài biển cả để t́m châu báu. Có một thương chủ tên là Măn Nguyệt. Người ấy đời trước tạo nhiều phước đức nên được như nguyện: Đến băi sông báu, lấy được đủ loại các thứ châu ngọc, rồi muốn trở về cơi Diêm Phù Đề. Lúc đó, thần biển khóc to lên rằng: Có nhiều vị Rồng, ôm ḷng giận dữ, muốn hại thương nhân! Có một vị Vua Rồng tên là Mă Thiên, đó là một vị đại Bồ tát v́ theo bổn nguyện sanh vào loài Rồng, khởi tâm từ bi, vua Rồng cứu giúp cho các thương nhân, khiến được yên ổn vượt qua biển lớn đến bên kia bờ, sau đó Long Vương mới về chỗ cũ. Bấy giờ có một La Sát đại ác, đuổi theo thương nhân, như bóng theo h́nh, muốn làm hại họ. Vị La Sát đó liền trong ngày ấy, phóng ra gió dữ. Các thương nhân kia buồn mê lạc đường, sanh tâm sợ hăi, la khóc thất thanh, kêu gọi chư Thiên Ma ê, Thủ la, thần nước, thần đất, thần lửa, thần gió, cha mẹ vợ con, bà con quyến thuộc, đến cứu họ.

Thiện nam tử! Khi ấy Ta dùng tai Trời thanh tịnh, nghe được các tiếng khóc than của họ, liến đến nơi đó, lấy lời mềm dịu an ủi vỗ về. Không ḷng sợ hăi, ắt thấy hướng đi, khiens họ an ổn về Diêm Phù Đề. Thiện nam tử! bấy giờ Ta dùng lụa quấn quanh cánh tay nhiều lớp, lấy dầu tưới vào để làm cây đuốc, chân thực nói lên như vầy: Ta trước ở rừng Uất Đầu Ma Thọ trong 30 năm chuyên tinh tu hành bốn tâm vô lượng, v́ các chúng sanh ăn các hột cây, khuyên dạy 84.000 các Rồng, Dạ xoa, chư Thần, khiến chẳng thối chuyển nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nhân thiện căn ấy, nay đốt cánh tay này làm đuốc chỉ đường khiến các thương nhân đều được an ổn để họ trở về cơi Diêm Phù Đề. Cách tay cháy đến 7 ngày 7 đêm, khiến các thương nhân thảy đều yên ổn về Diêm Phù Đề.

Thiện nam tử! Lúc đó Ta lại phát lời nguyện: Nếu Diêm Phù Đề không có châu báu, nếu ta tất thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đạt được mục đích giải thoát, Ta nên làm thương chủ, nơi mỗi một thiên hạ, 7 lần trở về làm mưa châu báu, lại vào biển cả lấy châu Như ư, nơi mỗi một thiên hạ, lại làm mưa các loại bửu vật đủ thứ xen lộn.

Thứ lớp như vậy, khắp một thế giới này cho đến vô lượng vô biên a tăng kỳ thế giới 10 phương lại cũng như vậy.

Thiện nam tử! Các lời phát nguyện của Ta thuở xưa đều được thành tựu. Trong hằng hà sa số đại kiếp, Ta đă thường làm Đạo sư vô thượng, nơi hằng sa số đời ác ngũ trược, làm mưa đủ các loại bửu vật trong một lần trên số bảy lần trở về làm mưa châu báu, làm lợi ích như vậy cho vô lượng chúng sanh, khiến được đầy đủ các thứ châu báu, sau đó mới khuyên dạy an dừng trụ trong ba thừa.

Thiện nam tử! Nay ngươi nên biết đó là Như Lai xả các châu báu để có nhân duyên thành tựu các tướng thiện căn.

Lại nữa thiện nam tử! qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, thế giới Phật nầy đổi tên là Vơng, kiếp là Tri Cụ Túc. Đời ngũ trược này, nhân dân sống đến 500.000 tuổi. V́ bổn nguyện, Ta sanh vào nhà Bà la môn, cơi Diêm Phù Đề, tự là Tu Hương, đọc tụng ngoại điền, phát huy chương cú Tỳ Đà. Thuở ấy chúng sanh sa đắm thường kiến, cùng nhau tranh đấu, khởi tưởng giặc thù. Ta vào thời ấy, dùng thế lực mạnh, v́ các chúng sanh, nói 5 thọ ấm giống như oan gia, nói 12 nhập như xóm làng vắng, nói 12 duyên, tánh hay sanh diệt, khai thị phân biệt hơi thở vô ra, khiến điều tu học. Ta lại nói rằng: Ngày nay các ngươi hăy nên phát tâm bồ đề vô thượng, có bao nhiêu thiên căn hăy nên hồi hướng. Ta vào thời đó tự nhiên mà được 5 món thần thông của các tiên thần. Lúc ấy cũng có vô lượng vô biên a tăng kỳ người, nhận giáo pháp Ta nên được ngũ thông. Lại có vô lượng vô biên chúng sanh, ĺa xa tranh đấu, diệt trừ oán ghét, xuất gia vào núi, ăn hột trái cây, ngày đêm tu tập bốn tâm vô lượng. Kiếp ấy muốn hết, mọi người phân tán đến Diêm Phù Đề. Ta giáo hoá họ, khiến rời tranh đấu, diệt trừ oán ghét cho tâm vắng lặng, hoặc có nước hạn, gió lớn, mưa dữ, đều khiến diệt trừ. Đất ấy mềm mại ngũ cốc đến mùa, ăn có vị ngon. Kiết đó muốn hết, chúng sanh hay bị các loại bệnh hoạn làm khổ xoay vần. Thiện nam tử! Lúc ấy Ta nghĩ: Nếu chẳng trị được các bệnh chúng sanh, Ta ắt chẳng thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, v́ các chúng sanh, dứt trừ phiền năo. Nhưng nay Ta phải dùng phương tiện ǵ trừ bệnh chúng sanh? Chỉ có tụ họp tất cả đại chúng Đế Thích Phạm Thiên, Trời Tứ Thiên Vương và các Thiên, Thần,  đến các nơi ấy Ta nói như vầy: Nguyện xin chư vị thảy đều đén học tại núi Tỳ Đà. Đại Chúng nghe nói, ai nấy đến họp, cùng nhau tŕ tụng chú thuật Tỳ Đà, v́ sức chú thuật có thể đuổi hết các thần quỹ ác. Ủng hộ chúng sanh, uống các phương thuốc trị được các chứng nóng, lạnh, phong, đàm. Nhờ nhân duyên ấy vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng thoát khỏi bệnh khổ. Thiện nam tử! Ta vào lúc đó, lại một lần nữa, phát lời thiện nguyện: Nếu con đă v́ vô lượng chúng snah trong một thiên hạ, làm trí tuệ sáng, khiến người an dừng trụ trong ba thừa, bít ba cửa ác, chỉ đường Nhân, Thiên, trừ các bệnh khổ, khiến được vui sướng, lại theo thứ lớp, v́ vô lượng chúng, làm trí tuệ sáng,.. cho đến vui sướng, th́ thiện căn ấy hẳn là nhân duyên phải có quả báu, khiến sở nguyện con đều sẽ thành tựu kịp được lơi ḿnh, như con đă v́ vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng trong một thiên hạ, bít ba cửa ác, chỉ đường Nhân, Thiên v́ các bệnh nhân, mời các Trời, Rồng và các Thần, Tiên về núi Tỳ Đà tụng Tỳ Đà chú khiến vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng đều được khỏi bệnh, hưởng sự vui sướng, như vậy đầy khắp thế giới Vơng này, Ta làm lợi ích vô lượng chúng sanh, bít ba cửa ác, chỉ đường Nhân, Thiên, an trụ ba thừa, lại v́ bệnh ở thế giới này, mời các Trời, Rồng, các vị Thần Tiên về núi Tỳ Đà, tụng Tỳ Đà chú, khiến cho vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng ở thế giới này đều thoát bệnh khổ, được sự vui sướng. Như thế giới này, đời ác ngũ trược như các sông Hằng ở khắp 10 phương đều cũng như vậy.

Thiện nam tử! Tại thế giới Vơng, cho đến 10 phương đời ác ngũ trược như các sông Hằng, sở nguyện của Ta đều được thành tựu.

Thiện nam tử! Nay ngươi nên biết. Khi Như Lai làm Bồ tát, tu đạo Bồ tát thêm ích cho trí tuệ, thế gọi là chủng tử thiện căn của ba nghiệp do Như Lai cứu giúp vậy.

 

Kinh Bi-Hoa hết quyển thứ chín

 

*           *

*

 

 

 

QUYỂN THỨ MƯỜI

Bắc Lương Thiên Trúc Tam Tang Đàm Vô Sấm dịch ra Hoa Văn.

 

 

PHẨM V

ĐÀN BA LA MẬT

CHI III

 

Phật Phán với Bồ tát Tịch Ư rằng: Thiện nam tử! Sau đó, qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, thế giới này đổi tên là Tuyển Trạch Chư Ác. Lúc ấy đại kiếp tên là Thiện Đẳng Ích, cũng là đời ngũ trược. Phương Đông, cách đây 50 tứ thiên hạ có cơi Diêm Phù Đề kia tên là Lỗ Bà La. Ta v́ nguyện lực sanh về cơi đó, làm Chuyển luân thánh vương, trị bốn thiên hạ, hiệu Hư Không Tịnh, dạy các chúng sanh, an trụ thập thiện và trong ba thừa. Ta vào thời ấy bố thí tất cả không có phân biệt. Thuở đó có vô lượng khất sĩ đến xin Ta các loại châu báu, vàng bạc, lưu ly, pha lê, tiền của, châu lưu ly xanh, đại châu lưu ly, hoả châu ma ni. Thấy trân bửu ít, không đủ để cho, nên Ta tự nhủ: Người xin vô lượng! Bèn hỏi Đại thần: Châu báu như vầy từ đâu sanh ra? Đại thần đáp rằng: Các vị Long Vương thị hiện ra đó. Thánh vương tuy có châu báu trong cung, nhưng chẳng đủ cấp cho số khất sĩ. Liền ngay khi đó, Ta phát đại nguyện: Mai sau trong đời ngũ trược, nặng dày phiền năo, người thọ trăm tuổi, nếu con nhất định thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thành tựu sở nguyện được lợi cho ḿnh, xin nguyện làm Đại Long Vương thị hiện đủ loại các kho châu báu ở nơi thế giới Tuyển Trạch Chư Ác, trong tứ thiên hạ ở khắp các nơi, nơi mỗi thiên hạ, bảy lần thọ thân, mỗi mỗi chỗ thọ thân, thị hiện vô lượng trăm ngh́n vạn ức na do tha các kho châu báu, mỗi một kho báu ngang dọc hai chiều 1000 do tuần, các kho đều đầy đủ loại trân bửu, để tôi cấp thí cho các chúng sanh.

Trong một thế giới, con nguyện như vậy, trong hằng hà sa đời ác ngũ trược, quốc độ không Phật ở khắp 10 phương, cũng nguyện như vậy: Nơi mỗi cơi Phật, trong mỗi thiên hạ, 7 lần thọ thân,… như trên đă nói. Thiện nam tử! Lúc Ta phát ra lời thiện nguyện ấy, trên không có trăm ngàn ức chư Thiên, rải đủ loại hoa rơi xuống như mưa, mà khen Ta rằng: Lành thay! Lành thay! Bố thí tất cả! Nay người đă được như ḷng nguyện cầu, Thiện nam tử! Khi đại chúng nghe chư Thiên Hư Không Tịnh Vương nói `bố thí tất cả`, họ bèn gọi nhau nói rằng: Nay chúng ta nên đến đó cầu xin những vật khó xả, nếu mà xả được mới đáng gọi tên là Nhất Thiết Trí, nếu không xả được sao lại nói là bố thí tất cả? Lúc ấy mọi người mỗi mỗi theo Vua đ̣i xin: Phu nhân, thể nữ, con cái,… Chuyển luân thánh vương nghe thấy như vậy, ḷng rất vui mừng. Tuỳ chỗ họ xin, đều cho tất cả. Bấy giờ đại chúng lại cùng gọi nhau nói rằng: Vợ, con, thể nữ, đều là dễ xả, không phải chuyện khó. Nay nên theo Vua, xin vật trong thân, nếu mà xả được mới thật đáng gọi xả bỏ tất cả. Khi đó mọi người đến chỗ Vua ngự. Trong số đại chúng, có một cậu bé tên Thanh Quang Minh, đang giữ Cầu Giới, hướng Chuyển luân vương mà tâu như vầy: Đại vương! Nếu cho tất cả, xin ngài cho tôi cơi Diêm Phù Đề này. Ta nghe lời ấy, ḷng rất vui mừng, bèn dùng nước thơm tắm gội cậu be, cho mặc y phục mềm mại thượng diệu, dùng nước rải đầu, cho nối ngôi Vua, trị Diêm Phù Đề, tức cho cậu đó, rồi lại phát nguyện: Như con đă cho cơi Diêm Phù Đề, v́ nhân duyên ấy, thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thành tựu sở nguyện được lợi cho ḿnh, nguyện cho nhân dân trong khắp cơi đây thảy đều kính thờ, thừa thuận người này xem đó là Vua, lại khiến cho Vua thọ mệnh vô lượng làm Chuyển luân vương. Thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, con sẽ thọ kư cho người một đời ở xứ bổ Phật. Có Bà la môn tên là Lôi Chí, cũng đến chỗ Ta đ̣i xin hai chân. Ta nghe điều ấy, ḷng sanh vui mừng, bèn cầm dao bén tự chạt hai chân cầm cho người ấy, cho xong, phát nguyện: Nguyện con đời sau sẽ được đầy đủ Chân giới Vô thượng.

Có Bà la môn gọi tên là Hỗ, cũng đến chỗ Ta đ̣i xin hai mắt. Ta nghe điều ấy, ḷng sanh vui mừng, bèn móc đôi mắt cầm cho người đó, cho xong phát nguyện: Nguyện con đời sau sẽ được đầy đủ năm nhăn vô thượng.

Cách đó chẳng lâu, có Bà la môn tên Tinh Kiên Lao, cũng đến chỗ Ta đ̣i xin hai tai. Ta nghe điều ấy ḷng xin vui mừng, bèn tự cắt tai, cầm cho người ấy, cho xong phát nguyện. Nguyện con đời sau sẽ được đầy đủ Tai Trí vô thượng.

Cách đó chẳng lâu, có Ni Càn Tử tên là Tưởng, cũng đến chỗ Ta đ̣i xin Nam căn. Ta nghe điều ấy ḷng xin vui mừng, liền tự cắt nó, cầm cho người đó, cho xong phát nguyện. Nguyện con đời sau thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề sẽ được tướng dấu như tướng Mă Vương.

Cách đó chẳng lâu, lại có người đến đ̣i xin máu thịt. Ta nghe điều ấy ḷng xin vui mừng, bèn cho như ư,cho rồi phát nguyện. Nguyện con đời sau sẽ được thân sắc vàng, đầy đủ vô thượng.

Cách đó chẳng lâu, có Bà la môn tên là Mật Vị, cũng đến chỗ Ta đ̣i xin hai tay. Ta nghe điều ấy ḷng xin vui mừng, tay phải cầm dao chặt đứt tay trái, rồi nói như vầy: Nay tay phải này chẳng tự cắt được. Ngươi chặt mà lấy, cho rồi phát nguyện. Nguyện con đời sau sẽ được đầy đủ Tay tin vô thượng.

Thiện nam tử! Như vậy Ta chặt hết các bộ phận khiến máu trong thân chảy ra lai láng. Ta bèn phát nguyện: Nhân bố thí này nhất định thành quả A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thành tựu sở nguyện, được lợi cho ḿnh, c̣n phần thân thừa ắt sẽ được nhận.

Lúc ấy chẳng phải là thánh, không biết ơn nghĩa, các vị Vua nhỏ cùng các Đại thần ai nấy đều nói: Thật là người ngu, sao lại tự cắt các bộ phận vậy? Khiến cho thân thể một sớm suy tàn! C̣n thịt xương thừa, sẽ để nơi đâu? Khi đó Đại thần bèn thương thân Ta, đem ra ngoài thành mà bỏ nơi mồ mă, rồi đi về cả. Bấy giờ có vô lượng muỗi ṃng, ruồi nhặng bu lại mút liếm máu Ta, chó sói, dă can, diều hâu các loại đến ăn thịt Ta. Suốt trong thời gian mạng Ta chưa dứt, ḷng Ta vui mừng, lại phát nguyện rằng: Như Ta xả than cùng các bộ phận, cho đến một niệm chẳng sanh giận hờn, không ḷng hối hận. Nếu sở nguyện Ta thành tựu được lợi cho ḿnh, nên khiến thân này làm núi thịt lớn để cho chúng sanh uống máu ăn thịt thảy lại đến đây tuỳ ư ăn uống. V́ sức bổn nguyện, thân chuyển thành lớn, cao ngh́n do tuần, ngang dọc hai chiều 500 do tuần, trọn 1000 năm, lấy máu thịt ấy cấp thí chúng sanh. Ta trong thời ấy, tự xả bỏ lưỡi, khiến các cọp beo, chó sói, chim kiêu, chim  cú, diều hâu được ăn no đủ, v́ do nguyện lực, mỗi lưỡi bị ăn lại sanh như cũ, giá như gồm lại chẳng bằng ḥn núi Kỳ Xà Quật Sơn. Bố thí vậy rồi, Ta lại phát nguyện: Nguyện con đời sau được thành đầy đủ tướng lưỡi dài rộng.

Thiện nam tử! Lúc Ta mệnh chung tại Diêm Phù Đề, v́ do bổn nguyện, sanh trong loài Rồng, làm Đại Long Vương tên là Thị Hiện Bửu Tạng, tức trong đêm sanh, thị hiện trăm ngh́n ức na do tha các loại kho báu, Ta tự tuyên bố lời thiêng như vầy: Nay tại chỗ này có nhiều kho báu trong đó đầy đủ vật lạ, châu ngọc, vàng bạc, cho đến Ma ni bửu châu. Chúng sanh được nghe lời rao ấy rồi, mỗi mỗi tự do lấy các bảo vật, tuỳ ư sử dụng, dùng thoả ư rồi, làm 10 điều lành, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hoặc phát tâm Thanh văn, hay Bích chi Phật, Ta vào thời ấy tại cơi Long Vương, có bảy lần trở lại thọ thân sống đến 77 ngàn ức na do tha trăm ngàn năm, thị hiện vô lượng vô biên a tăng kỳ kho báu để cho chúng sanh, an dừng vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng ở ba thừa, khuyên làm đầy đủ cả 10 điều lành. Dùng vô lượng các loại châu báu làm thoả măn chúng sanh rồi, Ta lại phát nguyện: Nguyện con đời sau sẽ được đầy đủ 32 tướng tốt, tại đệ nhị thiên hạ, Ta cũng bảy lần sanh, làm Đại Long Vương, cho đến đầy khắp Tuyển Trạch Thế Giới, tại các Tứ thiên hạ, nơi nào cũng làm vô lượng lợi ích như vậy, cho đến vô lượng vô biên thế giới không Phật ở 10 phương. Mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi thiên hạ, lại cũng bảy lần sanh, làm Đại Long Vương, thọ mệnh 77 ngàn ức na do tha trăm ngàn năm, thị hiện vô lượng vô biên a tăng kỳ kho báu, lại cũng như vậy.

Thiện nam tử! Nay ngươi nên biết đó gọi là nhân duyên của Như Lai, lúc làm Bồ tát đă sâu nặng tinh tấn cầu 32 tướng tốt vậy.

Thiện nam tử! Như Lai, lúc làm Bồ tát, việc làm tinh tấn, trừ 8 người đă nói trên, trong quá khứ không ai b́ kịp. Nếu quá khứ không có ai th́ cũng nên biết rằng trong tương lại các Bồ tát cũng không ai có thể siêng làm sâu nặng tinh tấn như việc làm của Ta vậy. Thiện nam tử! Lại quá vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, thế giới này đổi tên là San Hô Tŕ, kiếp tên là Hoa Thủ. Thời ấy không có Phật, cũng là đời ngũ trược. Hồi đó, Ta làm Thích Đề Hoàn Nhân tên là Thiện Nhật Quang Minh. Ta xem Diêm Phù Đề thấy các chúng sanh chuyển làm pháp ác. Ta bèn hoá làm h́nh tượng Dạ xoa, tướng mạo đáng sợ, xuống Diêm Phù Đề, ở trước chúng nhơn. Các người thấy Ta, sanh ḷng sợ hăi, mới hỏi Ta rằng: Ông cần vật ǵ hăy nói cho mau. Ta liền đáp rằng: Chỉ cần ăn uống, chả cần chi nữa. Họ lại hỏi tiếp: Muốn ăn thứ ǵ? Ta trả lời rằng: Chỉ cần giết người, ăn thịt uống máu. Nếu các người giữ cho đến măn đời, chẳng phạm giới sát, lại theo chánh kiến, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hay là phát tâm Thanh văn, Duyên giác, Ta ắt chẳng đến ăn thịt các người.

Thiện nam tử! Ta vào thời ấy, thường hoá làm người, cùng họ ăn uống. Lúc đó chúng sanh thấy Ta như vậy càng sợ hơn nữa cho nên hết thảy đều lo nhận giữ giới chẳng giết hại, cùng theo chánh kiến hoặc là phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hay là phát tâm Thanh văn, Bích chi Phật. Như vậy Ta khuyên tất cả chúng sanh trong Diêm Phù Đề tu hành thập thiện, trụ trong ba thừa, rồi Ta phát nguyện: Nếu con tất thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thành tựu sở nguyện được lợi cho ḿnh, xin nguyện khuyên người trong bốn thiên hạ, khiến tu thập thiện, cho đến đầy khắp cả thế giới nà tại mỗi mỗi xứ trong bốn thiên hạ, cũng dùng tước ấy khiến các chúng sanh hành 10 thiện đạo, khuyên dạy phát tâm tu trong ba thừa. Khắp một thế giới nếu được như vậy nguyện khắp 10 phương vô lượng vô biên a tăng kỳ đời ác ngũ trược, quốc độ không Phật, lại cũng như vậy.

Thiện nam tử! Ta vào thời ấy, phát nguyện như vậy và đă thành tựu tại San Hô Tŕ: Hoá làm h́nh tượng Dạ xoa đáng sợ điều phục chúng sanh, khiến trụ thập thiện và trong ba thừa ở khắp 10 phương vô lượng vô biên đời ác ngũ trược, quốc độ không Phật, Ta cũng hoá làm h́nh tượng Dạ xoa điều phục chúng sanh khiến hành thập thiện, trụ trong ba thừa. Thuở xưa Ta đă khủng bố chúng sanh khiến hành thập thiện trụ trong ba thừa, v́ nhân duyên ấy khiến Ta được ngồi dưới cây Bồ đề, đến lúc muốn thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thiên ma Ba tuần và các đại chúng cùng đến chỗ Ta ư muốn hoại loạn phá đạo bồ đề.

Thiện nam tử! Ta đă lược nói Đàn ba la mật lúc làm Bồ tát. Thiện nam tử! Các đại Bồ tát, pháp nhẫn rất sâu, tổng tŕ vi diệu tam muội giải thoát, Ta vào thời ấy chưa được như vậy, chỉ trừ hai thân hữu lậu ngũ thông mà đă làm được những việc trọng đại, khiến cho vô lượng vô biên a tăng kỳ người an dừng trụ nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, vô lượng vô biên a tăng kỳ người an dừng trụ nơi thừa Bích chi Phật, vô lượng vô biên a tăng kỳ người trụ nơi thừa Thanh văn, huống lại c̣n được cúng dường chư Phật, ở bên chư Phật tạo được công đức như số giọt nước ở trong biển cả, cúng dường vô lượng Thanh văn, Duyên giác, sư trưởng, cha mẹ, thần tiên ngũ thông, lại cũng như vậy, như Ta thuở xưa lúc làm Bồ tát, tự lấy máu thịt cấp cho chúng sanh. Đại bi như vậy, nay các La Hán không có tâm đó.

 

 

 

 

 

 

PHẨM VI

NHẬP ĐỊNH TAM MUỘI MƠN

 

Khi đó, Phật phán với Tịch Ư Bồ Tát Ma ha tát rằng: Thiện nam tử! Nay Ta dùng Phật nhăn thấy thế giới 10 phương như số bụi nhỏ trong một cơi Phật, chư Phật Thế Tôn nhập niết bàn, hết thảy đều do Ta ngày xưa khuyến hoá, ban đầu phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thành Đàn ba la mật,… cho đến Bát nhă ba la mật. Trong đời mai sau lại cũng như vậy.

Thiện nam tử! Nay Ta thấy nơi thế giới phương Đông vô lượng vô biên a tăng kỳ chư Phật Thế Tôn hiện trong đời nay, chuyển chánh pháp luân, cũng là do Ta ngày xưa khuyến khiến ban đầu phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thành sáu ba la mật. Phương Nam, Tây, Bắc, hai phương trên, dưới cũng lại như vậy.

Thiện nam tử! Phương Đông cách đây 89 ức thế giới chư Phật, có thế giới tên là Thiện Hoa, nơi đó có Phật hiệu là Vô Cấu Công Đức Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, hiện tại đang v́ chúng sanh nói pháp. Phật ấy cũng là do Ta ngày xưa đă khuyên ban đầu phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, khiến hành Đàn ba la mật cho đến Bát nhă ba la mật. Phương Đông cũng có thế giới Diệu Lạc, nơi đó Phật hiệu A Súc Như Lai, cũng có thế giới Diêm Phù, trong đó có Phật hiệu Nhật Tạng Như Lai, lại có thế giới tên Lạc Tự Tại, trong đó có Phật hiệu Lạc Tự Tại Âm Quang Minh Như Lai, lại có thế giới tên là An Lạc, trong đó có Phật hiệu Trí Nhật Như Lai, lại có thế giới tên là Thắng Công Đức, trong đó có Phật hiệu là Long Tự Tại Như Lai, lại có thế giới tên là Thiện Tướng, trong đó có Phật hiệu Kim Cang Xưng Như Lai, lại có thế giới tên Gian Hải Vương, trong đó có Phật hiệu là Quang Minh Như Lai, lại có thế giới tên Bất Ái Lạc, trong đó có Phật hiệu là Nhật Tạng Như Lai, lại có thế giới tên là Ly Cấu Quang Minh, trong đó có Phật hiệu Tự Tại Xưng Như Lai, lại có thế giới tên Sơn Quang Minh, trong đó có Phật hiệu Bất Khả Tư Ngh́ Vương Như Lai, lại có thế giới tên là Tụ tập trong đó có Phật hiệu Đại Công Đức Tạng Như Lai, lại có thế giới tên Hoa Quang Minh, trong đó có Phật hiệu Quang Minh Ư Tướng Như Lai, lại có thế giới tên Hoà Xí Thạnh, trong đó có Phật hiệu An Hoà Tự Tại Kiến Sơn Vương Như Lai, lại có thế giới tên là Thiện Địa, trong đó có Phật hiệu Hoà Tượng Như Lai, lại có thế giới tên là Hoa Trú, trong đó có Phật hiệu Nhăn Tịnh Vô Cấu Như Lai.

Thiện nam tử! Như vậy phuơng Đông hiện tại vô lượng vô biên a tăng kỳ chư Phật đang v́ chúng sanh chuyển bánh xe pháp, lúc chưa phát tâm bồ đề vô thượng. Ta khuyên chư vị khiến phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, lại c̣n dẫn đường cho chư vị đến tại chỗ Phật ngự ở khắp mọi nơi trong 10 phương cơi, tuỳ chỗ được đến, tu hành an dừng Đàn ba la mật, cho đến Bát nhă ba la mật, kế được thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Lúc ấy, phương Đông, tại cơi Thiện Hoa, toà Sư tử của Phật Vô Cấu Công Đức Quang Minh và đại địa chấn động sáu cách, có ánh sáng lớn, trời mưa đủ loại ha sen báu diệu. Bồ tát ở đó thấy việc như vậy, ḷng sanh kinh nghi, lại chưa từng thấy, liền bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! V́ nhân duyên ǵ toà của Như Lai chấn động như vậy? Chúng con xưa nay chưa từng thấy thế! Phật đó bèn phán với các Bồ Tát rằng:

Thiện nam tử! phương Tây, cách đây 89 ức thế giới chư Phật, có một quốc độ tên là Ta Bà, trong đó có Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni Như Lai, hiện tại đang v́ tứ chúng nói pháp bốn duyên, Phật Thế Tôn ấy, khi làm Bồ tát khuyên Ta bắt đầu phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, lại dẫn đường Ta đến chỗ Phật ngự, khiến Ta ban đầu hành Ba la mật,… cho đến Bát nhă ba la mật. Ta vào thời ấy, tuỳ chỗ được đến mà được thọ kư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Đức Phật Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni là chân thiện trí thức của Ta, hiện ở phương Tây, giữa các đại chúng, đang v́ bốn chúng nói kinh bổn duyên. V́ sức thần túc của Đức Phật ấy mà toà Sư tử của Ta chấn động. Thiện nam tử! Nay các ông nên đến cơi Ta Bà thăm hỏi Phật đó có khinh lợi chăng? Các vị Bồ tát bèn bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Các vị Bồ tát cơi Thiện Hoa nầy đều có thần thông, công đức tự tại. Buổi sáng hôm nay thấy ánh sáng lớn, hẳn là ánh sáng từ các cơi Phật chiếu về đến đây, đất động sáu cách, mưa các loại hoa. Thấy sự việc ấy, có vô lượng trăm ngàn vạn ức các vị Bồ tát, muốn dùng thần lực đến cơi Ta Bà, thấy Phật Thích Ca Mâu Ni cung kính cúng dường, khen ngợi tôn trọng, cũng muốn hỏi nhận Giải liễu nhất thiết, hiểu rơ tất cả môn Đà la ni. Nhưng các Bồ tát chẳng biết phương diện Đức Phật Thích Ca Thế Giới Ta Bà. Vô Cấu Công Đức Quang Minh Như Lai, bèn duỗi cánh tay sắc vàng bên phải, năm đầu ngón tay phóng ra đủ loại ánh sáng vi diệu, chiếu qua 89 ức quốc độ chư Phật đến cơi Ta Bà. Nhờ ánh sáng ấy, các vị Bồ tát thấy cơi Ta Bà đầy dẫy những Đại Bồ tát lại có chư Thiên, Long Thần, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, đầy khắp hư không. Thấy việc như vậy, bèn bạch Phật rằng:  Bạch Thế Tôn! Nay con đă được thấy thế giới ấy biết các phương diện và thấy Bồ tát, đại chúng Trời, Người, đầy khắp mọi nơi không có chỗ trống, thấy Đức Thích Ca cũng quán chúng con nói pháp vi diệu. Phật đó liền phán với các Đại sĩ, Bồ tát rằng: Thiện nam tử! Thích Ca Như Lai hằng dùng Phật nhăn vô thượng thanh tịnh quán khắp tất cả, chẳng ǵ không thấy. Thiện nam tử! Bao nhiêu chúng sanh ở cơi Ta Bà, trên đất trong không hết thảy đều nói: Thích Ca Như Lai, chỉ một ḿnh Ngài quán thấy tâm con, v́ con mà nói pháp. Thiện nam tử! Thích Ca Như Lai dùng một âm thanh nói pháp cho khắp các loại khác nhau, mỗi một chúng sanh tuỳ loai được hiểu, chẳng dùng âm khác, nói cho nhiều người. Chúng sanh cơi ấy, nếu nhờ Phạm Thiên th́ thấy Như Lai hiện tượng Phạm Thiên mà nói pháp cho, nếu thờ Ma Thiên, Thích Thiên Nhật Nguyệt, Tỳ Sa Môn Thiên, Tỳ Lâu Lặc Xoa, Tỳ Lâu Bát Xoa, Ma Ê Thủ La,…84.000 chủng loại như vậy, tuỳ vị được thờ mà thấy h́nh tượng và được nghe pháp, sinh tưởng một ḿnh được nghe thấy vậy.

Lúc đó trong hội có hai Bồ tát, một là La Hầu Lôi, hai là Hoả Quang Minh, Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương Phật phán với hai vị ấy rằng: Thiện nam tử! Các ông nên đến thế giới Ta Bà, giữ tiếng của Ta thăm hỏi Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn có được khinh lợi khí lực yên chăng? Hai vị Bồ tát liền bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Con thấy thế giới của Đức Phật ấy, đại chúng nhóm họp dưới đất trên không, đầy dẫy khắp nơi không có chỗ trống. Nếu chúng con đến sẽ ở chỗ nào? Phật bèn đáp rằng: Chư Thiện nam tử! Chớ nói như vậy! Nơi thế giới ấy không chỗ dừng trụ, tại sao vậy? Chỗ trụ nơi đó rộng răi vô cùng! Đức Thế Tôn ấy có vô lượng công đức, chẳng khá nghĩ bàn. Bởi v́ bổn nguyện bi tâm rộng lớn khiến cho vô lượng các loại chúng sanh vào trong pháp Phật, nhận pháp tam quy, sau đó Phật mới v́ họ nói pháp ba thừa, lại  có ba cơi, chỉ bày ba cửa giải thoát, lại cứu vớt vô lượng vô biên chúng sanh khỏi ba đường ác, khiến họ an dừng trụ trong ba đường thiện. Thiện nam tử! Lại trong một thời Thích Ca Mâu Ni Như Lai thành đạo vô thượng chẳng được bao lâu, v́ muốn điều phục các chúng sanh, nên tại núi Tỳ Đà, đài Ba la quật, bảy ngày bảy đêm Phật ngồi kiết già chánh thọ tam muội vào vui giải thoát. Thân Phật lúc ấy đầy khắp không gian đài Ba la quật, chẳng có chỗ không dù chỉ bốn tấc. Bảy ngày qua rồi 10 phương thế giới có 12 na do tha Bồ tát Ma ha tát đến thế giới Ta Bà ở ven chân núi, muốn thấy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni để cung kính cúng dường khen ngợi tôn trọng và nhận diệu pháp. Thiện nam tử! Lúc ấy Như Lai, tại chỗ Ngài ngự, dùng Đại thần túc, khiến chỗ Quật Xá rộng răi vô cùng có thể dụng chứa 12 ức na do tha Bồ tát Ma ha tát. Các Bồ tát kia liền được vào đó, họ thấy Quật Xá rộng răi nghiêm trang. Có những Bồ tát dùng Du hư Sư tử thần túc tự tại cúng dường Phật, mỗi một Bồ tát có hoá Bửu toà để ngồi nghe pháp. Thiện nam tử! Thần lực Phật ấy hiện ra như vậy. Các Bồ tát kia được ngồi nghe pháp rồi, ai nấy đứng dậy, cúi đầu lạy Phật, đi ṿng bên phải ba lần rồi lại trở về thế giới Phật ḿnh. Họ về chẳng lâu, Quật Xá hoàn lại như cũ.

Trong bốn thiên hạ đó, có vị thiên chủ thứ hai tức Thích Đề Hoàn Nhân tên là Kiều Thi Ca biết tướng mạng hết ắt sẽ bị đoạ vào đường súc sanh, v́ cớ sự ấy, sanh ḷng lo sợ, bèn cùng 8 vạn 4 ngàn chư Thiên Đao Lợi xuống đến đài Sa La Quật, muốn thấy Như Lai. Lúc ấy có vị Dạ xoa tên là Vương nhăn đang ở bên ngoài gần Kỳ Xà Quật. Khi đó Đế Thích nương vào sức Phật suy nghĩ như vầy: Nay tôi đang khiến Càn thát bà tử tiên, Bát già tuần đến chỗ Phật ngự dùng tiếng diệu âm ca tụng Như Lai xin khiến Thế Tôn từ tam muội dậy. Thiện nam tử! Thích Đề Hoàn Nhân suy nghĩ vậy rồi bèn khiến Càn thát bà tử, tiên, Bát già tuần đánh đàn Cầm lưu ly, dùng âm thanh vi diệu, có 500 loại khác biệt để khen Như Lai. Lúc Bát già tuần đang khen ngợi Phật th́ Đức Như Lai dang chuyển nhập vào trong tướng tam muội. Nhờ sức tam muội tới thế giới ấy có Đại thần lực khiến các Dạ xoa, La sát, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, chư Thiên dục giới và sắc giới đều đến tụ họp tại đó, nếu có những ai vui nghe diệu âm tuỳ ư được nghe, ḷng rất vui mừng, vui nghe khen Phật, lúc được nghe rồi, tâm sanh hoan hỷ, đối với chỗ Phật sanh ḷng cung kính tôn trọng, nếu có chúng sanh thích nghe âm vui, ắt liền được nghe, nghe rồi hoan hỷ. Lúc đó Thích Ca Mâu Ni Như Lai bèn từ định đứng dậy, chỉ cửa Sa La Quật cho đại chúng thấy. Thích Đề Hoàn Nhân liền đến chỗ Phật, cúi lạy chân Phật, lui về một bên mà bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Con nay hiện đang ngồi tại xứ nào? Phật đáp lại rằng: Nầy Kiều Thi Ca! quyến thuộc của ông muốn vào tụ họp, nay Ta dang mở Sa La Quật này cho nó rộng răi cùng cực mới dung chứa được 12 hằng hà sa đại chúng quyến thuộc khiến đều được ngồi. Khi Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai ở giữa đại chúng, Ngài dùng một diệu âm phu diễn chánh pháp, khiến cho 84000 các căn chúng sanh tuỳ theo chỗ nghe đều được vui mừng. Trong số đại chúng, người học Thanh văn được nghe pháp Thanh văn, nên có 99 ức chúng sanh được quả Tu Đà Hoàn, người tu học thừa Duyên Giác, được nghe pháp Duyên giác, người tu học Đại thừa chỉ nghe pháp Đại thừa, Càn thát bà tử, Tiên, Bát già tuần là bậc thượng thủ trong 18 na do tha chúng, được bất thối chuyển nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Những người chưa phát tâm th́ phát tâm Bồ đề vô thượng, hoặc phát tâm Duyên giác hay phát tâm Thanh văn. C̣n Thích Đề Hoàn Nhân th́ mất hết lo sợ, sống thêm 1.000 năm, được quả Tu Đà Hoàn.

Thiện nam tử! Thích Ca Như Lai v́ dùng thần lực nên làm được như vậy rộng lớn vô biên, âm thanh nói pháp lại cũng như vậy, không có người nào có thể t́m được giới hạn âm thanh của Phật. Phương tiện của Phật vô lượng vô biên, chúng sanh được độ không ai biết được các phương tiên ấy.

Thiện nam tử! Sắc thân của Phật cũng vô lượng vô biên, không ai có thể biết được lượng thân ấy, thấy đảnh tướng ấy. Thiện nam tử! Như vậy đại chúng nếu muốn được vào trong bụng của Phật ai cũng đều được dung chứa tất cả. Vào bụng Phật rồi, nếu ai muốn biết biên giới của bụng cũng chẳng thấy đâu. Vậy bụng Như Lai cũng chẳng tăng giảm. Nếu các loại chúng sanh cùng chung hoà hợp, cùng muốn đi lại trong một sợi lông, ắt chẳng thấy ngại, dùng đến thiên nhăn cũng không t́m được bờ lỗ một lông. Lỗ lông của Phật cũng chẳng tăng giảm. Như vậy sắc thân Phật Thế Tôn ấy vô lượng vô biên. Thiên nam tử! Giả sử tất cả chúng sanh trong 10 phương cơi như một hằng hà sa thế giới vào trong thế giới Phật ấy, họ cũng được dung chứa. Tại sao vậy? Phật ấy lúc mới phát tâm bồ đề, Ngài đă thệ nguyện vô lượng vô biên. Thiện nam tử! Đặt số chúng sanh của một hằng sa  thế giới, cho đến của 1000 hằng sa thế giới ở 10 phương vào trong thế giới Phật ấy, họ cũng được dung chưa, mà bốn tướng Phật chẳng tăng chẳng giảm. Thiện nam tử! Thích Ca Như Lai, lúc mới phát tâm bồ đề vô thượng, muốn được đầy đủ Nhất Thiết Trí, cho nên Ngài đă phát thệ nguyện lớn. V́ vậy ngày nay thế giới Ngài được vô lượng vô biên. Thiện nam tử! Thích Ca Mâu Ni được bốn pháp đó, chư Phật Thế Tôn chẳng vị nào kịp.

Thiện nam tử! Nay ông hăy cầm hoa Nguyệt Quang Minh Vô Cấu Tịnh này, đi về phương Tây đến cơi Ta Bà như mắt ông thấy. Nên giữ tiếng Ta thăm hỏi Phật ấy có được khin lợi, khí lực an chăng? Lúc đó Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương Phật lấy hoa Nguyệt Quang Minh Vô Cấu Tịnh, giao cho hai Bồ tát mà nói rằng: Hăy nương sức đại thần thông của Ta mà đến cơi ấy. Bấy giờ, trong hội có hai vạn Bồ tát bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Như vậy! Như vậy! Nay chúng con nên nương sức thần thông của Phật đến thế giới kia, thấy Thích Ca Như Lai, để cung kính cúng dường, khen ngợi tôn trọng. Phật bèn phán rằng: Thiện nam tử! Các ông nên biết phải thời. Khi đó hai vị Bồ tát cùng hai vạn đại sĩ, nương sức thần thông của Phật, đi từ cơi Thiện Hoa, trong cơi một niệm bỗng đến cơi Ta Bà, tại núi Kỳ Xà Quật, tới trước Như Lai quỳ xuống chấp tay và bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Phương Đông cách đây 89 cơi Phật, có thế giới tên là Thiện Hoa, nơi đó có Phật hiệu là Vô Cấu Công Đức Quang Minh Phật hiện tại đang ở giữa đại chúng Bồ tát Ma ha tát vây quanh, khen ngợi Thế Tôn vô lượng công đức và nói rằng: Thế giới Ta Bà có Thích Ca Mâu Ni Như Lai hiện tại đang v́ đại chúng chuyển chánh pháp luân. Đức Thế Tôn ấy khi làm Bồ tát đă khuyên dạy Ta bắt đầu phát tâm Bồ đề, nhờ nhân duyên ấy Ta lúc bấy giờ mới được phát tâm cầu đạo vô thượng. Khuyên phát tâm rồi lại dạy tu tập sáu ba la mật, cho đến thành Phật. Lấy việc hỏi pháp th́ các Thế Tôn chẳng ai kịp Ngài. Bởi vậy Phật ấy dùng hoa Nguyệt Quang Minh Vô Cấu Tịnh này cúng dường Thế Tôn thăm hỏi Như Lai có được khinh lợi, khí lực an chăng?

Thiện nam tử! Tại phương Đông nơi thế giới Diệu Lạc, chỗ A Súc Như Lai ngồi và toà Sư tử của Ngài cũng chấn động sáu các, cũng có vô lượng chư Đại Bồ tát được thấy việc ấy và bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! V́ nhân duyên ǵ, tại chỗ Phật ngồi và toà Sư tử chấn động như vậy, .. như trên đă nói. Tất cả phương Đông đều cũng như vậy. Lúc đó phương Đông có vô lượng vô biên a tăng kỳ chư Đại Bồ tát, đều đến thế giới Ta Bà, đều cầm hoa Nguyệt Quang Minh Vô Cấu Tịnh, đến yết kiến Phật, cung kính cúng dường, khen ngợi tôn trọng. Thiện nam tử! như vậy, phương Đông vô lượng chư Phật đều sai khiến chư Bồ Tát đen khen ngợi Ta.

Thiện nam tử! Nay Ta thấy phương Nam cách đây quá một hằng hà sa quốc độ chư Phật, có thế giới tên là Ly chư ưu, trong đó có Phật hiệu Vô Ưu Công Đức Như Lai, hiện tại đang nói pháp.

Lại có thế giới tên là Diêm Phù Quang Minh trong đó có Phật hiệu là Pháp Tự Tại Sư Tử Du Hư Như Lai.

Lại có thế giới tên là An Tu Di, trong đó có Phật hiệu là Đạo Tự Tại Sa La Vương Như Lai.

Lại có thế giới tên là Công Đức Số Vương, trong đó có Phật hiệu Sư Tử Hống Vương Như Lai.

Lại có thế giới tên là Trân Bửu Trang Nghiêm, trong đó có Phật hiệu là Bát Tư Thắng Lôi Như Lai.

Lại có thế giới tên là Chân Châu Quang Minh Biến Chiếu, trong đó có Phật hiệu Trân Bửu Tạng Công Đức Hống Như Lai.

Lại có thế giới tên là Thiên Nguyệt, trong đó có Phật hiệ Hoả Tạng Như Lai.

Lại có thế giới tên là Chiên Đàn Căn, trong đó Phật hiệu Tinh Tú Xưng Như Lai.

Lại có thế giới tên là Xưng Hương, trong đó cơ Phật hiệu là Công Đức Lực Sa La Vương Như Lai.

Lại có thế giới tên là Thiện Thích, trong đó có Phật hiệu Diêu Âm Tự Tại Như Lai.

Lại có thế giới tên là Đầu Lan Nhă, trong đó có Phật hiệu Sa La Thắng Tỳ Bà Vương.

Lại có thế giới tên là Nguyệt Tự Tại, trong đó có Phật hiệu là Quang Minh Tự Tại Như Lai.

Lại có thế giới tên là Thiện Lôi Âm, trong đó có Phật hiệu Diệu Âm Tự Tại Như Lai.

Lại có thế giới tên là Bửu Hoà Hiệp, trong đó có Phật hiệu Bửu Chưởng Long Vương Như Lai.

Lại có thế giới tên là Hoa Bửu Thọ, trong đó có Phật hiệu Lôi Âm Tự Tại Pháp Nguyệt Quang Minh Như Lai.

Như vậy, phương Nam vô lượng vô biên a tăng kỳ chư Phật hiện tại đều là những vị, thuở xưa khi làm Bồ tát, Ta đă khuyên bắt đầu phát tâm bồ đê. Chỗ ở và toà Sư tử của chư Phật đó đều có chấn động. Các Thế Tôn ấy ai cũng khen ngợi công đức của Ta, cũng sai vô lượng vô biên a tằng kỳ chư Đại Bồ tát cầm hoa Nguyệt Quang Minh Vô Cấu Tịnh đến cơi Ta Bà, núi Kỳ Xà Quật, để được thấy Phật, lễ bái, cung kính, cúng dường, tôn trọng, khen ngợi, lui ngồi một bên, thứ lớp nghe pháp.

Thiện nam tử! Nay Ta lại thấy phương Tây cách đây 7 vạn 7 ngàn trăm ngàn do tuần thế giới của Phật có một thế giới tên là Tịch tịnh, trong đó có Phật hiệu là Bửu Sơn, hiện tại đang v́ bốn chúng nói pháp vi diệu. Lại có Thắng Quang Vô Ưu Phật, Âm Trí Tạng Phật, Xưng Quảng Phật, Biến Tạng Phật, Phạm Hoa Phật, Thế Tấn Phật, Pháp Đăng Dũng Phật, Thắng Âm Sơn Phật, Xưng Âm Vương Phật, Phạm Ân Vương Phật. Như vậy phương Tây, vô lượng vô biên a tăng kỳ chư Phật Thế Tôn cũng là những vị, thuở xưa khi làm Bồ tát, Ta đă khuyên dạy bắt đầu phát tâm bồ đề. Các toà Sư tử của các Phật đó cũng đều chấn động,  các Thế Tôn đó ai cũng khen ngợi công đức của Ta, cũng sai vô lượng vô biên a tăng kỳ chư Đại Bồ tát, cầm hoa Nguyệt Quang Minh Vô Cấu Tịnh đến cơi Ta Bà, núi Kỳ Xà Quật, để được thấy Phật lễ bái, cúng dường, cung kính, khen ngợi, tôn trọng, lui ngồi một bên, thứ lớp nghe pháp.

Phương Tây, cách đây trăm ngàn na do tha cơi Phật có thế giới tên là Vô Cấu, trong đó có Phật hiệu Ly Nhiệt Năo Tăng Tỳ Sa Môn Ta La Vương Như Lai, có hai Bồ tát, một tên là Bửu Sơn, hai tên là Quang Minh Quán. Lại có Hoại Chư Ma Phật, Ta La Vương Phật, Đại Lực Quang Minh Phật, Liên Hoa Tăng Phật, Chiên Đàn Phật, Di Lâu Vương Phật, Kiên Trầm Thuỷ, Đại Trí Đại Lực Phật,… như vậy vô lượng chư Phật Như Lai, cho đến phương Bắc, hai phương trên, dưới lại cũng như vậy.

Lúc ấy Thích Ca Mâu Ni Như Lai, v́ muốn tiếp nhận các đại chúng kia, dùng đại thần lực biến các chúng nhơn thành người rất nhỏ, như hột rau đay. Thế giới Ta Bà trên không dưới đất đầy dẫy chúng nhơn, không có chỗ trống chen được mảy lông. Khi đó chúng sanh chẳng ai thấy ai. Lại cũng chẳng thấy các núi lớn nhỏ, núi Tu Di Vương, Đại, Tiểu Thiết Vi, khoảng giữa hai núi, những chỗ mịt mờ và các cung điện chư thiên trên Trời, dưới đất chẳng thấy bờ mé Kim Cang, chỉ trừ một người là Phật Thế Tôn. Bấy giờ Thích Ca Mâu Ni Như Lai lại nhập tam muội, Biến khư không đoạn trừ chư pháp định ư, khiến cho vô lượng hoa báu Nguyệt Quang Minh Vô Cấu Tịnh đều nhập vào các lỗ chân lông của tất cả thân. Tất cả đại chúng đều tự thấy vậy. Lúc ấy chúng sanh chẳng ai nhớ đến tướng sắc thân Phật, chỉ thấy trong lỗ chân lông có vườn nhà vi diệu, trong vườn nhà đó có các cây báu, cây nào cũng có thân, lá, hoa, quả, thảy đều tươi tốt, các loại áo báu, các cờ xí Trời, các mũ báu Trời, chuỗi ngọc châu báu, mọi thứ trang nghiêm, giống như thế giới An Lạc phương Tây. Đại chúng thấy vậy, ai ấy nghĩ rằng: Nay Ta đang đến xem cơi An Lạc. Khi đó, chỉ trừ chúng sanh trong ba đường ác và cơi Trời Vô sắc, con bao nhiêu đại chúng tất cả đều từ cửa lỗ chân lông vào thân Như Lai, ngồi trong vườn hoa. Đến lúc Như Lai hoàn xả thần túc, th́ các đại chúng trở lại như cũ, được trông thấy nhau, gọi nhau nói rằng: Bây giờ Như Lai hiện ở tại đâu? Lúc ấy Di Lặc Bồ Tát nói với đại chúng rằng: Quư vị nên biết. Nay tôi và quư vị, chúng ta đang ở trong thân Như Lai. Bấy giờ đại chúng mới thấy, trong, ngoài, thân của Như Lai, kể đến tự biệt cùng vô lượng đại chúng đang tụ họp trong thân Như Lai. Họ bèn hỏi nhau: Chúng ta được vào từ chỗ nào đâu? Đâu là con đường đưa ta vào được? Di Lặc Bồ Tát mới nói với họ rằng: Lắng nghe, lắng nghe! Nay Đức Như Lai hiện đại thần thông, có sức biến hoá, lại v́ lợi ích của đại chúng ta, Ngài muốn nói phá, quư vị hăy nên nhất tâm chuyên niệm. Nghe nói như vậy, đại chúng quỳ xuống, chấp tay lắng nghe, lúc đó Thế Tôn lấy Nhất Thiết hành môn mà diễn nói. Sao gọi là Nhất thiết hành môn, ra khỏi bùn dơ sanh tử, vào tám thánh đạo, thành tựu đầy đủ, được Nhất thiết trí?

Thiện nam tử! có 10 chuyên tâm phát nơi bồ đề vào được cửa ấy. Những ǵ là 10?

  • Một là tuỳ hỷ hồi hướng, v́ muốn khiến chúng sanh đều được giải thoát.
  • Hai là phát đại bi tâm, v́ muốn nhiếp giữ chúng sanh.
  • Ba là v́ muốn độ người chưa được độ, nên siêng năng tinh tấn tu tập pháp môn vô thượng.
  • Bốn là v́ muốn hiểu chỗ chưa hiểu, nên trang nghiêm quan sát để thoát khỏi các điên đảo hư vọng.
  • Năm là v́ muốn nói pháp như Sư tử rống không có chỗ sợ nên trang nghiêm quan sát tự tánh các pháp vốn không có ngă.
  • Sáu là v́ muốn đi đến tất cả thế giới tâm không phân biệt, nên khéo học các pháp, giống như 10 thí dụ (xem chú thích sô 18 sẽ rơ).
  • Bảy là v́ muốn được thế giới trang nghiêm sáng lạn, nên tu tŕ giới tụ, khiến được thanh tịnh.
  • Tám là v́ muốn thành tựu 10 lực trang nghiêm của Như Lai, nên thi hành đầy đủ tất cả ba la mật.
  • Chín là v́ muốn thành tựu trang nghiêm bốn điều không sợ nên làm đúng theo giáo thuyết.
  • Mười là v́ muốn trang nghiêm 18 pháp bất cộng, nên theo pháp được nghe mà làm cho được không thiếu, chẳng có phóng dật ( xin xem phụ chú ở sau phần chú thích).

Đó là 10 pháp chuyên tâm, phát nơi bồ đề vô thượng làm đúng ắt vào được tất cả hành môn, tức được bất thối nơi bồ đề vô thượng, không tướng hành môn trí đạo hành môn, tất cả các pháp không có tâm ta, không có suy nghĩ, chẳng sanh chẳng diệt đó gọi là địa bất thối chuyển của Bồ tát v́ vậy chẳng phải thối lui hay không thối lui, chẳng thường chẳng đoạn, chẳng định chẳng loạn. Thời nói pháp ấy, trong bụng Như Lai có 18 ức hằng hà sa Bồ tát Ma ha tát được bất thối chuyển nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, khonog thể tính đếm số Bồ tát Ma ha tát được các tam muội, pháp nhẫn rất sâu, hết thảy đều từ lỗ chân lông của thân Như Lai mà ra, tâm rất kinh ngạc, khen chưa từng có, liền ở trước Phật cúi đầu sát đất, lạy Phật, rồi th́ bỗng nhiên ai nấy trở về thế giới Phật ḿnh ở khắp 10 phương, vẫn nghe âm thanh Thích Ca Mâu Ni Như lai diễn nói không bị chướng ngại dù đă vượt khỏi vô lượng vô biên thế giới chư Phật. Vậy các Bồ tát, tuy về cơi ḿnh, vẫn tiếp tục nghe Như Lai diễn nói, âm thanh giảng dạy, chương cú nghĩa vị, không bị giảm thiếu như ở trước Phật, nghe gần chẳng khác, thân cũng như vậy đầy khắp 10 phương vô lượng thế giới. Cũng có vô lượng vô biên a tăng kỳ Bồ tát thanh văn, cũng thấy lỗ chân lông Phật, vào ra vô ngại. Như vậy, lỗ chân lông thứ hai cho đến tất cả mọi lỗ chân lông, vào ra vô ngại. Mười phương thế giới, lại cũng như vậy.

Bấy giờ đại chúng từ lỗ chân lông Thích Ca Như Lai mà ra, cúi đầu lạy Phật, đi ṿng bên phải ba lần, rồi ở trước Phật, dùng đủ loại âm thanh mà khen ngợi Phật. Lúc ấy, chư Thiên Dục giới, Sắc giới rải xuống như mưa đủ các loại hoa, đồ hương, mạt hương, tràng hoa, chuỗi ngọc, kỹ nhạc vi diệu, cúng dường Như Lai, khi đó trong hội có một Bồ tát tên là Vô Uư Đẳng Địa chấp tay quỳ lâu trước Phật bạch rằng: Bạch Thế Tôn! Kinh lớn như vầy đặt tên là ǵ? Phụng tŕ cách nào? Phật phán với Bồ tát Vô Uư Đẳng Địa rằng: Kinh này nên lấy tên là Giải Liễu Nhất Thiết Đà La Ni Môn, cũng tên là Vô Lượng Phật, cũng tên là Đại Chúng, cũng tên là Thọ Kư Bồ Tát, cũng tên là Tứ Vô Sở Uư xuất hiện Ư Thế, cũng tên là Nhất Thiết Chư Tam Muội Môn, cũng tên là Do Như Đại Hải, cũng tên là Vô Lượng, cũng tên là Đại Bi Liên Hoa.

Vô Uư Đẳng Đại Bồ tát Ma ha tát lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu có người thiện nam hay thiện nữ nhận giữ kinh nầy, đọc tụng thông thuộc, v́ kẻ khác nói, cho đến một bài kê, th́ người ấy được bao nhiêu phước đức? Phật phán với Vô Uư Đẳng Địa Bồ tát rằng: Trước Ta đă nói được bao nhiêu phước đức rồi, nay nên v́ ông nói tóm lược lại. Kẻ thiện nam, người thiện nữ, nếu có nhận giữ kinh nầy, đọc tụng thông thuộc, v́ người khác nói cho đến một bài kệ, trong 50 năm sau cho đến có người chép một bài kệ thôi, th́ công đức người ấy hơn các Bồ tát hành sáu ba la mật trông 10 đại kiếp. V́ sao vậy? Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa môn, Bà la môn, Dạ xoa, La sát, Rồng, Càn thát à, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Câu biện trà, Ngạ quỹ, Tỳ xá già, Người và Phi nhơn có ḷng giận hờn, nghe được kinh nầy liền được thanh tịnh vui vẻ mền mỏng xa ĺa các bệnh giận dữ, oán thù, các cách đấu tranh, tiêu diệt tất cả gió dữ mưa ác, người bệnh được lành, người đói được no, hưởng điều vui sướng, cùng nguyện hoà hợp, người hay giận hờn trở nên nhẫn nhục, người hay sợ sệt không c̣n sợ ǵ, hưởng sự vui vẻ, người hay phiền năo, xa ĺa phiền năo, khiến các thiện căn đều được thêm lớn, cứu được chúng sanh khỏi ba đường ác, chỉ đường thiết yếu ra khỏi ba thừa, khiến được pháp nhẫn rất sâu, môn đà la ni Tam muội làm lợi ích lơn cho các chúng sanh, có thể ngồi được trên toà Kim Cang ở trên đạo tràng, phá được bốn ma, chỉ được tất cả pháp trợ bồ đề, chuyển bánh xe pháp, người không có của thánh, khiến được đầy đủ, có thể khiến cho vô lượng chúng sanh vao thành vô uư. V́ nhân duyên ấy, nên giữ kinh nầy, đọc tụng thông thuộc, v́ người khác nói, chỉ một bài kệ, cùng nghiều lợi lạc. 50 năm sau trong đời vị lai cho đến có người chỉ viết một bài kệ cũng được vô lượng phước đức như vậy. Bởi thế nên nay Ta nói kinh nầy. Kinh lớn như thế, nên phó chúc giao dặn ai? 50 năm sau, pháp này ai giữ? Ai có thể cùng các vị Bồ tát bất thối ở khắp mọi nơi, tuyên nói pháp này cho mọi người nghe? Người làm trái phép, tham ác tà kiến, chẳng tin thiện ác, phải chịu quả báu, th́ ai v́ họ diễn nói kinh nầy? Lúc ấy đại chúng đều biết tâm Phật: Có một đại tiên Dạ xoa tên là Vô Oán phất lúc đang ngồi giữa đại chúng. Di Lặc Bồ Tát Ma ha tát bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đem vị Dạ xoa ấy đến chỗ Phật ngự. Bấy giờ Như Lai phán với vị Dạ xoa đại tiên ấy rằng: Nay ông nên nhận kinh nầy cho đến cuối thời mạt thế, trong 50 năm, v́ Bất Thối Bồ tát, cho đến những người chẳng tin quả báo thiện ác mà diễn nói kinh này. Vị Dạ xoa ấy liền bạch Phật rằng: Con trong qua khứ, qua 84 đại kiếp, cũng v́ bổn nguyện làm tiên Dạ xoa, tu hành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, trong thời gian ấy con đă giáo hoá vô lượng vô biên a tăng kỳ người an dừng nơi bốn tâm vô lượng, lại khiến vô lượng vô biên chúng sanh chẳng thối chuyển nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bạch Thế Tôn! Nay con nên v́ tất cả chúng sanh trong đời vị lai mà ủng hộ họ, trong 50 năm cuối thời mạt thế, nhận giữ kinh này cho đến theo người nghe bốn câu kệ, khiến họ đọc tụng cho được thông thuộc, truyền bá trong đời, khiến chẳng dứt mất.

Phật nói kinh nầy rồi, Tịch Ư Bồ Tát, đại chúng chư Thiên, với Càn thát bà, Người và Phi nhơn, đều rất vui mừng, cúi đầu lạy Phật, xong cùng lui đi.

 

Dịch xong ngày 3 tháng 7 năm Quư Hợi

(11 tháng 8 năm 1983)

 

 

 

 

 

PHẦN CHÚ THÍCH

 

  1. Giới tụ: Giới chia làm nhiều nhóm, mỗi nhóm là một giới tụ.
  2. Pháp tụ: Pháp chia làm nhiều nhóm, mỗi nhóm là một pháp tụ.
  3. Tam phước xứ: Ba cơi phước, đó là: Bố thí, Điều phục, Khéo giữ thân, miệng.
  4. Tứ điên đảo:

–  Không thường mà cho là thường.

– Không vui mà cho là vui.

– Khơng ngă mà cho là có ngă.

– Không tịnh mà cho là tịnh.

  1. Thân niệm tứ pháp: Pháp nói về thân bất tịnh, trong bốn niệm xứ: Tâm, thân, pháp, thọ.
  2. Tứ niệm xứ: Thân bất tịnh, Tâm vô thường, Pháp vô ngă, Thọ thị khổ.
  3. Tứ trọng cấm: Bốn điều cấm quan trọng, nếu phạm th́ mất giới, đó là: Không giết hại, Không trộm cắp, Không tà dâm, Không nói láo.
  4. Tứ lưu: Bốn ḍng thác mạnh lôi kéo chúng sanh trôi lăn trong ṿng sanh tử, đó là: Dục lưu, Hữu lưu, Khiến lưu, Vô minh lưu, cũng gọi là bốn sông.
  5. Ngũ nghịch: năm tội rất nặng, đó là: Giết cha, mẹ, giết A la hán, làm thân Phật chảy máu, phá hoà hiệp tăng.
  6. Ngũ cái: năm món che tâm đó là: Dâm, sân, thuỵ (ngủ), nghi, hối.
  7. Ngũ trược (trọc): năm chỗ dơ đục đó là: kiếp trược, kiến trược, chúng sanh trược, phiền năo trược, mạng trược.
  8. Lục ba la mật: sáu pháp môn tu rốt ráo, đó là:

-Đàn ba la mật: Bố thí rốt ráo.

-Thi ba la mật: Tŕ giới rốt ráo.

-Tỳ lê gia ba la mật: Tinh tấn rốt ráo.

-Sằn đề ba la mật: Nhẫn nhục rốt ráo.

-Bát nhă ba la mật: Trí tuệ rốt ráo.

-Thiền na ba la mật: Thiền định rốt ráo.

  1. Thất thánh tài: Bảy món của bậc thánh, đó là: Tín, Giới, Tàm (tự thẹn), Quư (xấu với người), Văn (nghe), Xả (bỏ), Tuệ (sáng suốt).
  2. Tám thắng xứ: Tám đề tài thiền để chinh phục tham tâm và loạn động, đó là:

– Trong có sắc tưởng, quán ngoài ít sắc.

– Trong có sắc tưởng, quán ngoài nhiều sắc.

– Trong không sắc tưởng, quán ngoài ít sắc.

– Trong không sắc tưởng, quán ngoài nhiều sắc.

– Trong không không sắc tưởng, quán các sắc ngoài màu xanh.

– Trong không sắc tưởng, quán các sắc ngoài màu vạng.

– Trong không sắc tưởng, quán các sắc ngoài màu đỏ.

– Trong không sắc tưởng, quán các sắc ngoài màu trắng.

  1. Thập nhất thiết thập: Tức 10 biến xứ hay là 10 đề tài phổ biến trong việc tu thiền, đó là: Thanh (xanh), Hoàng (vàng), Xích (đỏ), Bạch (trắng), Địa (đất), Thuỷ (nước), Hoả (lửa), Phong (gió), Không, Thức (biết).
  2. Thập lực: 10 trí lực của Phật đó là:
  3. Trí thị xứ phi xứ trí lực.
  4. Tri tam thế nghiệp báo trí lực.
  5. Tri chư Thiền giải thoát tam muội.
  6. Tri chúng sanh tâm chánh trí lực.
  7. Tri chủng giải thoát trí lực.
  8. Tri chủng chủng giới trí lực.
  9. Tri nhất thiết sở đạo trí lực.
  10. Tri Thiên nhăn vô ngại trí lực.
  11. Tri túc mạng vô lậu trí lực.
  12. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực.
  13. Thập kiết sử: 10 món phiền năo thường trói buộc (kiết) và sai sử chúng sanh phải trôi lăn sanh tử đó là: Tham, Sân, si, nghi, mạn thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ.
  14. Thập thụ: 10 ví dụ dùng để quán các pháp, mà trừ chấp niệm. Đó là quán các pháp:
  15. Như huyển, tức như các vật do nhà ảo thuật hoá ra.
  16. Như diệm, tức như dợn nước giă đường khi trời nắng nóng.
  17. Như mộng, tức như cảnh thấy trong chiêm bao.
  18. Như ảnh, tức như h́nh tượng trong gương.
  19. Như thành Càn thát bà, lúc mặt trời mọc.
  20. Như hưởng, tức như tiếng vang trong khe núi.
  21. Như thuỷ nguyệt, là mặt trăng trong nước.
  22. Như bọt nước, hiện trên mặt biển động.
  23. Như hoa đốm giữa hư không.
  24. Như ṿng tṛn đỏ do một đóm lửa xoay ṿng tạo ra.
  25. Phạm chí: Là kẻ lập chí, tu hành để được sanh lên cơi Trời Phạm Thiên, (Phạm hạnh: hạnh thanh tịnh).
  26. Kim cang tế: Thế giới vật chất h́nh ṿng tṛn, gọi là địa luân, địa luân nương trên thuỷ luân, thuỷ luân dựa trên phong luân, phong luân dựa trên không luân. Kim tế là biên tế (giới hạn khó biết) giữa phong luân và không luân.
  27. Mười tám pháp bất cộng của chư Phật:
  28. Thân vô thất
  29. Khẩu vô thất
  30. Niệm vô thất
  31. Vô dị tưởng
  32. Vô bất định tâm
  33. Vô bất tri dĩ xả
  34. Dục vô diệt
  35. Tinh tấn vô diệt
  36. Niệm vô diệt
  37. Huệ vô diệt
  38. Giải thoát vô diệt
  39. Giải thoát tri kiến vô diệt
  40. Nhất thiết thân nghiệp tuỳ ư huệ hành
  41. Nhất thiết khẩu nghiệp tuỳ ư huệ hành
  42. Nhất thiết Ư nghiệp tuỳ ư huệ hành
  43. Trí huệ tri quá khứ vô ngại
  44. Trí huệ tri vị lai thế vô ngại
  45. Trí huệ hiện tại thế vô ngại
  46. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo: Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ư túc, Năm căn, Bảy giác phần, Tám chánh đạo.

-Bốn niệm xứ (xem chú thích số 6)

-Bốn chánh cần: Lỗi đă phạm phải chừa, lỗi chưa phạm chớ phạm, điều lành đă làm làm thêm măi, điều lành chưa làm tập làm cho quen.

-Bốn như ư túc: Dục như ư túc, Niệm như ư túc, Tinh tấn như ư túc, Tư duy như ư túc.

-Năm căn: Tín căn, nguyện căn, niệm căn, định căn, huệ căn.

-Năm lực: Tín lực, nguyện lực, niệm lực, định lực, huệ lực.

-Bảy giác phần hay bảy giác ư:

  1. Trạch pháp trần
  2. Tinh tấn giác phần
  3. Hỷ tấn giác phần
  4. Kinh an giác phần
  5. Niệm tấn giác phần
  6. Định tấn giác phần
  7. Xả tấn giác phần

-Tám chánh đạo:

  1. Chánh kiến
  2. Chánh Tư Duy
  3. Chánh Ngữ
  4. Chánh Nghiệp
  5. Chánh mạng
  6. Chánh Tinh Tấn
  7. Chánh Niệm
  8. Chánh Định

PHỤ CHÚ:

Mười pháp chuyên tâm nầy, trong kinh Bi Phần Hoa Lợi (Đại Tạng tập 3, trang 288) gọi là Thập Sự (10 việc), cách sắp xếp có khác: hai điểm 1 và 2 trong Bi Hoa được chia thành 3 việc (1, 2, 3), hai điểm 9 và 10 được xếp chung thành một việc (10). Mười việc đó là:

  1. Chí ư phát tâm, hồi hướng giải thoát
  2. Đại bi tâm, đối với tất cả chúng sanh
  3. Làm việc lợi ích, để nhiếp lấy chúng sanh
  4. Độ người chưa được độ, như chiếc thuyền lớn
  5. Hiểu chỗ chưa hiểu để giải trừ các điên đảo
  6. Nói pháp như tiếng Sư tử rống làm kinh động tất cả chúng sanh, khiến quán pháp vô ngă.
  7. Dạo chơi các cơi, biết tất cả pháp như ảnh trong mộng ảo
  8. Dùng thâm lực giữ giới thanh tịnh để trang nghiêm quang sức tất cả các thế giới
  9. Hoàn măn tất cả ba la mật để hiện thành 10 lực của Như Lai.
  10. Theo như giáo thuyết mà tu hành để có đủ bốn điều không sợ và được 18 pháp bất cộng.

Bốn điều không sợ (tứ vô uư)

  1. Của Phật là:
  • Nhất thiết trí vô sở uư
  • Lậu tận vô sở uư
  • Thuyết chướng đạo vô sở uư
  • Thuyết tận khổ đạo vô sở uư
  1. Của Bồ Tát là:
  • Tổng tŕ bất vong, thuyết pháp vô uư
  • Tận tri pháp được cập tri chúng sanh căn dục tánh tâm, thuyết pháp vô uư
  • Thiện năng vấn đáp, thuyết pháp vô uư
  • Năng đoạn vật nghi, thuyết pháp vô uư.

 

 

HẾT

 

 

 

 

 

 

 

 

KỆ HỒI HƯỚNG KHẮP ĐỂ ĐỌC, TỤNG, THÍ VỐN RẰNG:

 

Nguyện hướng trọn công đức. Tiêu trừ nghiệp bấy lâu.

Tăng trưởng các phước huệ. Viên thành thắng thiện căn.

Các nạn binh đao cướp. Cùng đói kém mất mùa.

Thảy đều diệt trừ tận. Người ai tập lễ nhường.

Giúp đỡ thành người cả. Bậc lưu thông xoay vần.

Gia quyến đều an lạc. Tiên vong được siêu thăng.

Mưa gió thường điều thuận. Nhân dân thảy mạnh yên.

Pháp giới đều biết rơ. Vô thượng đạo chúng đồng.

 

HƯƠNG CẢNG PHẬT KINH LƯU THÔNG SỞ CẨN THỨC

(Sở phát hành Kinh Phật Hồng Kông. Kính cẩn báo biết)

 

 

Phật Lịch Năm 2530 (Dương Lịch Năm 1986)

Ngày 17 Tháng 11 Năm Thứ Bính Dần

Ngày Vía Thánh Đản A Di Đà Phật                     Kính Ấn 5000 Bản

 

BI HOA KINH                     Trọn bộ 1 cuốn

 

Tặng Khắp Các Giới, Kết Rộng Duyên Lành.

SÁCH KHÔNG BÁN

 

Ấn tặng: Trần Đức Tinh Đường

Ấn hành: Sở Phát Hành Kinh Phật Hồng Kông

Số 390 Đường Bắc Giác Anh Hoàng Hồng

Kông. Lầu 5 khu C Nhà lớn Á Châu.

Điện thoại: 5-701478

H.K.BUDDHIST BOOK DISTRIBUTOR

390, King`s Road, 4th Floor, Flat C Asia

Mansions Hongkong.

 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

EnglishFrenchGermanVietnamese